intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

0
176
lượt xem
69
download

LUẬN VĂN: Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngày nay ngành du lịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) nói chung, đối với tỉnh Luông Pha Bang nói riêng đang đứng trước nhu cầu lớn về sự phát triển. Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển mạnh du lịch hình thành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch trong nước. Những năm qua, ở nước CHDCND Lào thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, phát triển...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay ngành du lịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) nói chung, đối với tỉnh Luông Pha Bang nói riêng đang đứng trước nhu cầu lớn về sự phát triển. Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển mạnh du lịch hình thành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch trong nước. Những năm qua, ở nước CHDCND Lào thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN bước đầu cũng đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng. Cho nên, tỉnh Luông Pha Bang là tâm điểm du lịch, kinh tế vừa là thành phố cố đô, di sản văn hoá thế giới của nước CHDCND Lào. Có tiềm năng về nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống lịch sử lâu đời. Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển du lịch quốc tế. Đó là yêu cầu cần thiết để góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, tính tự phát còn lớn, hiệu quả thấp, sản phẩm và loại hình du lịch còn đơn điệu, ý thức trách nhiệm về phát triển du lịch bền vững, về giữ gìn bảo vệ tài nguyên môi trường chưa cao. Du lịch đã có những tác động tích cực, đồng thời cũng có những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế du lịch tỉnh Luông Pha Bang vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài nhằm đề xuất các giải pháp phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này ở tỉnh Luông Pha Bang. Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sỹ kinh tế. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước CHDCND Lào đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch kể cả đề tài quốc gia như chương trình du lịch Cánh Đồng Chum tỉnh Xiêng Khoảng, du lịch Vắt Phu tỉnh Chăm Pa Sắc (chùa trên đồi), du lịch Năm Tộc Tát, Khon Pha Phêng (Thác Khon).
  3. Tỉnh Luông Pha Bang cũng có một số bài viết về du lịch nhưng chưa phân tích toàn diện và làm rõ tiềm năng cũng như mặt tồn tại của du lịch trên địa bàn tỉnh. Đề tài phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang chưa có tác giả nào tiếp cận lý giải và cố gắng làm rõ về lý luận gắn liền với thực tiễn dưới góc độ quản lý kinh tế. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích: Nghiên cứu vai trò của du lich đối với phát triển kinh tể – xã hôi ở CHDCND Lào , các nhân tố tác động đến phát triên du lich ở lào, góp phần tìm tòi giải pháp phù hợp nhằm đẳy mạnh phát triên du lịch ở Lào . - Nhiệm vụ: Phân tích thực trạng du lịch tỉnh Luông Pha Bang để rút ra những vấn đề cần giải quyết. Đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển du lịch ở tỉnh Luông Pha Bang. 4. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Nghiên cứu phát triển du lịch là lĩnh vực rộng và mới mẻ có thể nghiên cứu nhiều mặt khác nhau. ở đây chủ yếu nghiên cứu ở góc độ quản lý nhà nước nhằm khuyến khích phát triển du lịch có hiệu quả chứ không đi sâu về tổ chức nội dung kinh doanh du lịch. - Về thời gian: Nghiên cứu phát triển du lịch chủ yếu từ năm 2005 - 2010. 5. Phương pháp nghiên cứu đề tài Vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch, đồng thời, kế thừa những vấn đề lý luận về du lịch để đáp ứng vào hoàn cảnh cụ thể ở tỉnh Luông Pha Bang. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, phân tích du lịch và sự tác động của du lịch để phát triển ngành du lịch của tỉnh. 6. Đóng góp của đề tài Phát triển du lịch là ngành kinh tế - xã hội mũi nhọn của tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay và mai sau. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần phát triển du lịch ở tỉnh Luông Pha Bang. 7. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, nôi dung.
  4. Chương 1: Một số vấn đề chung về phát triển du lịch ở CHDCND Lào. Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang. Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay.
  5. Chương 1 Một số vấn đề chung về phát triển du lịch ở cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế- xã hội 1.1.1. Một số khái niệm - Khái niệm du lịch, hoạt động du lịch Du lịch là hoạt động của con người đi tới một môi trường ngoài nơi cư trú hoặc không cư trú, trong một khoảng thời gian nhất định nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội và nhu cầu giao lưu trong cuộc sống, đồng thời, du lịch là một nhân tố của phát triển kinh tế - xã hội. Từ định nghĩa trên theo tác giả có ý nghĩa và bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao, kể cả việc kết hợp để dưỡng bệnh, thăm viếng và các hoạt động khác.....Bản chất kinh tế của du lịch là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hoá phục vụ việc thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của khách du lịch. Và để đáp ứng nhu cầu đó ngành du lịch ra đời và dần dần trở thành một nghành kinh tế độc lập chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước [4, tr. 8]. Du lịch là hoạt động của con người, đã xuất hiện từ khi con người người xuất hiện trên trãi đất. Thủa xa xưa, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật còn ở trình độ thấp kém và lạc hậu cũng đã xuất hiện nhiều chuyến giao du dưới nhiều hình thức khác nhau của một số người trong xã hội. Với thực tế đó du lịch là một mang tính tự nhiên, vì nó đáp ứng được nhu cầu của con người. Xã hội loài người cùng phát triển, nhu cầu tự nhiên của con người cũng tăng, nhu cầu đi du lich trước đây chỉ có một số người. Trước thế kỷ XIX du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số ít người thuộc tầng lớp giàu có và người ta coi du lịch như một hiện tượng nhân văn, làm phong phú thêm nhận thức của con người sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi dòng người đi du lịch ngày càng tăng thì việc giải quyết nhu cầu về nơi ăn, chốn ở, phương tiện vận chuyển vui chơi giải trí... cho du khách đã trở thành cơ hội kinh doanh cho việc doanh nghiệp lúc nào, du lịch không chỉ là hiện tượng nhân văn mà còn là một hoạt động kinh tế. Vì vậy, người ta cho rằng, du lịch là toàn bộ những hoạt động
  6. và công việc phối hợp kết hợp nhằm khoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Giáo s ư Edmod Pieasa ( người Bỉ) cho rằng: "Du lịch là tập hợp các tổ chức và các chức năng của nó, không chỉ về phương dịên khách vãng lai mà cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịch mang lại". [16, tr. 6] Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động lịch là khách du lịch. Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Hoạt động du lịch là một tồn tại khách quan của con người nằm trong nội tại của sự phát triển xã hội loại người. Hoạt động thông qua du lịch, nhu cầu giao lưu và hưởng thụ vật chất, tinh thần của con người càng phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng, địa phương. Do vậy hoạt động du lịch luôn được đặt ra và phát triển theo nhu cầu của con người. Hoạt động du lịch là nhân tố của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Du lịch là một ngành "kinh tế mũi nhọn" quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội [4, tr. 8]. Nói tóm lại. Bản chất du lịch vầ hoạt động du lịch là du ngoạn của cong người để được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá cao, đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương đất nước họ, bao gồm hệ thống di tích lịch sử - văn hoá- phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên, văn học - nghệ thuật, món ăn- thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng- chữa bệnh, cơ sở thể thao giải trí...Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử- văn hoá, danh lam thắng cảch thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở địa phương đất nước. Du lịch do ba yếu tố cơ bản là chủ thể du lịch và hoạt động du lịch (du khách) khách thể du lịch (tài nguyên du lịch) và môi trường du lịch (ngành du lịch) cấu thành. Loài người có ba nhu cầu, tức nhu cầu sinh tồn, nhu cầu h ưởng thụ và nhu cầu phát triển. Hoạt động du lịch phát triển tới quy mô to lớn như ngày nay chứng minh loài người đã bắt đầu vượt ra khỏi rằng buộc của nhu cầu sinh tồn, có điều kiện hướng tới sự thoả mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển là một phần trong sinh hoạt văn hoá của con người hiên đại, vì thế hoạt động du lịch dưới sự chỉ đạo, đúng đắn của tư tưởng, đối với đời sống xã hội loài người có một ý thức rất lớn [4, tr.9]. - Khái niệm kinh tế du lịch
  7. "Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và du khách quốc tế. Góp phần nâng cao dân trí tạo việc làm và phát triển kinh tế- xã hội đất nước" [16, tr.10]. Dựa vào khái niệm trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổng hợp, lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, du lịch cần thiết cho khách du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của họ. Cách hiểu này dù là một phần lý giải tại sao đối với nhiều quốc gia, trong bảng phân ngành của nền kinh tế quốc dân đã xếp du lịch là nghành dịch vụ, hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu là các dịch vụ, nhằm trở giúp cho con người trong quá trình đi thăm quan, du lịch như: dịch vụ vẩn chuyển, dịch vụ hưỡng dẫn, dịch vụ làm các thủ tục hải quan đến qua trình du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí... cách hiểu này cũng có ý nghĩa quan trọng trong quản lý vĩ mô về du lịch mỗi quốc gia khi định hướng phát triển dịch vụ du lịch thành nền kinh tế trong cơ sở nền kinh tế quốc dân. Các ngành kinh tế bao gồm: + Khách sạn dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và giải trí. + Nhà hàng chế biến và phục vụ các món ăn, đồ uống. + Cơ sở giả trí dịch vụ phục vụ vui chới giải trí. + Cơ sở thăm quan dịch vụ thăm quan, thắng cảnh. + Các cơ sở bán hàng hoá dịch vụ bán hàng. + Các cơ sở bưu điện dịch vụ bưu chính viễn thông. + Các ngành hàng dịch vụ vẩn chuyển hoặc đổi tiền. + Các cơ sở y tế, dịch vụ y. + Các hội chợ, dịch vụ. - Khái niệm kinh doanh du lịch. Kinh doanh du lịch và các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu cầu thị trường nhằm đạt lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa [9, tr.277]. Như vậy kinh doanh du lịch là lĩnh vực có khả năng thu hồi lợi nhuận cao và do đó thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn so với các lĩnh vực khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng của kinh doanh du lịch mà nếu được đầu tư khai thác tốt sẽ góp phần tăng nhanh nhịp độ
  8. phát triển của nền kinh tế. Ngày nay ở nhiều n ước công nghiệp phát triển, thu nhập tư kinh doanh du lịch thường chiếm 20%. Hoặc cao hơn trong tổng sản phẩm quốc nội GDP. Hoạt động kinh doanh du lịch còn tác động mạnh đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Giao thông vận tải, hàng không, bưu chính viễn thông, các nghề thủ công, mở rộng thị trường, giải quyết việc làm cho nhân dân tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế, văn hoá- xã hội phát triển. Cấu trúc ngành kinh doanh du lịch - Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch. - Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế. - kinh doanh dịch vụ ăn uống. - Kinh doanh các dịch vụ bổ sung. - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Hoạt động kinh doanh du lịch tác động mạnh mẽ đến cán cân thu chi của vùng du lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước. 1.1.2. Đặc điểm của du lịch Sự phát triển cảu du lịch hiện nay càng có xu hướng đại chúng háo. Được khôi phục phát triển nhanh chóng, thu nhập cá nhân và tố chất văn hoá của toàn thể loài người được phổ biến ngày càng cao, từ đó làm cho hoạt động du lịch phất triển thành một hoạt động mang tính quần chúng. Nếu nói rằng chủ của lữ hành và du lịch trước đây là người giàu có, thì trong giai đoạn du lịch này, quần chúng lao động đã trở thành người tham gia chủ yếu của hoạt động du lịch. Hình thức đây là đặc điểm nội bật nhất của du lịch hiện đại. Sự phát triển của du lịch hiện nay ngày càng đa dạng hoá. [7, tr.45]. Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ về văn minh, vật chất, văn minh tinh thần của loài người, du lịch nghỉ phép, nghỉ ngơi mang tính vui chơi, giải trí dần dần trở thành thói quen của du lịch hiện nay. - Du lịch vừa là kinh tế, văn hoá, tinh thần. Ngành du lịch chỉ trở thành kinh tế mũi nhọn, khi phải được quốc gia đó lựa chọn làm chiến lược phát triển kinh tê - xã hội của quốc gia và có đủ điều kiện cần thiết khác
  9. như: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực nhân văn, nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng, các cơ hội và nguồn lực bên ngoài...Để xác định ngành du lịch có phải là ngành kinh tế của một quốc gia, một địa phương cần làm rõ một số nội dung sau đây. + Thứ nhất, phân tích sự đóng góp của ngành du lịch vào GDP, trên góc độ kinh tế, người ta xếp du lịch là ngành dịch vụ rất được coi trọng ở các nước công nghiệp phát triển và đã đóng góp một số tỉ trọng rất lớn vào GDP của một quốc gia. + Thứ hai, mức độ tác động của ngành du lịch đối với chuyển dịch đối với cơ cấu kinh tế của nền kinh tế. Phát triển du lịch tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn cho cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ không chỉ là thị trường tiêu thụ nội địa mà cả thị trường xuất khẩu tại chỗ. + Thứ ba, khả năng tạo ra việc làm của ngành du lịch, giải quyết các vẫn đề kinh tế - xã hội của quốc gia. Theo quy luật chung, đối với mỗi quốc gia khi thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì lực lượng lao động ở khu vực I khu vực II sẽ giảm rất nhanh, khu vực III là khu vực dịch vụ sẽ đóng góp một vai trò quan trọng trong việc thu hút lực lượng lao động trong xã hội. + Thứ tư, do ảnh hưởng của du lịch tới sự phát triển kinh tế của các vùng miền khó khăn và thực hiện xoá đói giảm nghèo. Do những điều kiện khách quan chủ quan về phát triển du lịch, nhằm phát triển kinh tế ở những vùng hoặc địa phương từng bước khắc phục sự chênh lệch giữa các vùng miền, thực hiện tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư. + Thứ năm, khă năng đóng góp của ngành du lịch vào việc phục hồi phát huy bản sắc dân tộc với mục tiêu không những thu hút khách mà còn giới thiệu truyền thống lịch sử, Văn hoá của dân tộc với bạn bè trên thế giới, và giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước. Điều này phải được thể hiện cụ thể trong mọi hoạt động du lịch. +Thứ sau, bản chất của du lịch là du ngoạn của con người để được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính văn hoá cao, đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương đất nước, bao gồm hệ thống di tích lịch sử- văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, phong tục tập quán văn học- nghệ thuật, món ăn thức uống dân tộc, cơ sở nghỉ dưỡng- chữa bệnh, cơ sở thể thao giải trí... Trong đó quan trọng nhất là di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc, cộng đồng anh em ở địa phương đất nước, nhằm thoả mãn nhu cầu và sự hài lòng của khách du lịch nội địa và khách quốc tế.
  10. Điều này chứng minh rằng loài người đã thoát ra sự rằng buộc của nhu cầu sinh tồn, có điều kiện hướng tới sự thoả mãn nhu cầu hưởng thu và phát triển một bộ phận trong sinh hoạt văn hoá của con người hiện đại. - Du lịch gắn với điều kiện thiên nhiên, khí hậu phong tục tập quán. Du lịch gắn liền với thiên nhiên là tài nguyên, thiên nhiên ban tặng để cho con người tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi điều dưỡng, du ngoạn thăm quan bao gồm: Sông núi, hang động, thác, rừng, ánh sáng, chim thú quý hiếm, hoa thơm, cỏ lạ... quy nạp lại có thể chia ra ba phạm vi chủ lực là, tài nguyên du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí hậu và tài nguyên du lịch sinh vật...cụ thể đó là do thuận lợi vị trí địa lý mang lại như thông thường với các nước dễ dàng, có đường sông đường suối, đường bộ, đường hàng không là trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động, trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tài nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút được nhiều khách du kịch đến thăm quan. Do ảnh hưởng của nhân tố địa lý tụe nhiên và thời tiết, khí hậu nên du lịch ở hầu hết các nước đều mang tính thời vụ đặc trưng. Đối với một nước thuộc khu vực nhiệt đới, gió mùa đông bắc, khí hậu bốn mùa thay đổi xuân, hạ, thu, đông. Khách du lịch nội địa, quốc tế đi du lịch tham quan thắng cảnh ai cũng hưởng thụ khí hậu ấm áp, thời tiết trong sạch thoáng mát, loại trừ gây hại ô nhiễm môi trường, bên cạnh những tiềm năng du lịch rất lớn và đa dạng, thì tính thời vụ trong du lịch càng rõ nét. Du lịch gắn liền với phong tục tập quán, phong tục tập quán là những thói quen được đưa vào nếp sống hàng ngày. Một dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu, về sau do sự tiếp súc với nhau nên có sự ảnh hưởng, bắt trước và có những cái lẫn nhau. Phong tục tập quán có hai loại: mỹ tục là những tập tục tốt, như thờ phụng tổ tiên, và hủ tục là những tập tục xấu như mê tín dị đoan, tin vào bùa phép. Thế giới văn minh mỗi ngày thay đổi, và nếp sống cũng vậy, nhân loại ngày nay đều cố gắng phát huy mỹ tục và đẩy lùi hủ tục vào bóng tối lãng quên [17]. Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng lịch sử và truyền thông của phong tục tập quán và văn hoá dân tộc thể hiện rằng di tích lịch sử văn hoá phong tục tập quán. Lễ hội các món ăn, uống các loại hình nghệ thuật, các lối sống nếp sống của các dân tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu trưc đến ngày nay. Những nguồn lực ấy được phân loại theo nhiều thời gian lịch sử từ cổ đại, trung đại, cận đại. Chẳng hạn nền văn minh Ai cập cổ đại
  11. với kinh tự tháp nổi tiếng, nền văn hoá Hy Lạp cổ đại hoặc phong tục tập quán ở Việt Nam, Lào như: Các lễ cưới của các dân tộc, các lễ hội. Với nhiều thành tựu đặc sắc về văn hoá nghệ thuật của các dân gian v.v, có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch trong thời đại hiện nay. Trong phát triển du lịch trình độ văn hoá của người dân cũng góp phần vào phát triển du lịch, con người thân thiện, hiền hoà, khiến họ truyền bá những điều tốt đẹp về đất nước, con người của điểm đến cho những người thân quen có thể tạo được làn sóng du lịch mới. Phần lớn những người khách thăm quan và hành trình du lịch, đều là người có trình độ văn hoá nhất là người đi du lịch nước ngoài. Người có trình độ văn hoá càng cao, thì đòi hỏi đi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lượng du lịch, muốn khám phá những nét truyền thống, văn hoá, phong tục tập quán của điểm đến. - Những yêu cầu và tổng hợp đối với sản phẩm và dịch vụ du lịch. Đối với sản phẩm và dịch vụ du lịch phải đa dạng, độc đáo, hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý củ khách du lịch. Trước hết phải tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng cao, hấp dẫn mạnh tới khách trong và ngoài nước phải được coi là công việc quan trọng bậc nhất cho hoạt động kinh doanh du lịch của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, sự hấp dẫn của những sản phẩm du lịch phủ thuộc vào chính những mà quốc gia và địa phương mình đã và đang có, đồng thời không tách khỏi sự cố gắng sáng tạo của mỗi nhân viên trong ngành và sự phối hợp của các đơn vị có liên quan, sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là những dịch vụ, nhưng không phải là những dịch vụ độc lập, riêng biết mà là "chuỗi dịch vụ" vừa kết hợp với nhau vừa đan xen với nhau, vừa lặp đi lặp lại nhiều lần. Chất lượng của chuỗi dịch vụ này sẽ quyết định thoả mãn nhu cầu của khách cả về vật chất và tinh thần. Hơn nữa, nhiều dịch vụ lại được thực hiện bởi nhiều doanh ngiệp kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau. Vì thế sản phẩm du lịch, có chất lượng có uy tín của ngành là sự phấn đấu của toàn công đoạn, từng doanh nghiệp và của sự phối hợp liên ngành, cuối cùng phải được du khách chấp nhận. Nâng cao chất l ượng của sản phẩm du lịch sẽ trở thành một chiến lược trong hoạt động kinh doanh du lịch. ở một số nước một số nước phát triển sự dụng rất nhiều hình thức độc đáo, nên thu hút được khách trong và ngoài nước và quốc tế đến càng ngày càng đông.
  12. Xã hội càng văn minh, kinh tế càng phất triển nhu cầu của du khách càng phong phú đa dạng. Do vậy việc tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn khách du lịch là một tất yếu khách quan, nhằm phát triển du lịch ở nhiều quốc gia hiện nay. 1.1.3. Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế- xã hội ở cộng hoà nhân dân Lào - Về kinh tế Du lich trước hết là một thị trường vừa rộng vừa lớn với nhu cầu hoá du lịch rất đa dạng và khả năng thanh toán của khách hàng kha cao, vừa mang tính đặc thù. Thị trường du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ thị trường nay lại hoàn toàn có khả năng "xuất khẩu tại chỗ" nhiều hàng hoá đặc biệt là hàng hoá nang tính chất đặc trưng của dân tộc phân bổ giải rác khắp mọi miền của đất nước như món ăn dân tộc hàng thủ công mỹ nghệ lưu niệm. Những hàng hoá này thường có giá trị và giá trị sự dụng không đáng kể đối với thị trường nội địa nhưng lại có giá trị cao, lợi nhuận lớn do thoả mãn được "gu" hay thị trường hiếm nào đó của khách du lịch nước ngoài. Mặt khác, có rất nhiều loại "hàng hoá" phục vụ du khách không thể vận chuyển đi bán ở thị trường thế giới được thì lại có thể bán với giá cả cao, thu lợi nhuận lớn tại nước mình như cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, di tích lịch sử, công trình văn hoá nổi tiếng, phong tục tập quan đặc sắc.vv [12, tr.8]. xuất phát từ những đặc điểm kinh tế và khả năng kinh doanh như trên nền du lịch và lĩnh vực kinh doanh có khả năng thu lợi nhuận cao và do đó thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn so với các lĩnh vực khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng của ngành du lịch, mà nếu được đầu tư khai thác tốt sẽ góp phần tăng nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Ngày nay ở nhiều nước công nghiệp, thu nhập từ du lịch thường chiếm 20% hoặc cao hơn trong tổng sản sản phẩm quốc gia (GDP). Hoạt động du lịch cong tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng các nghề thủ công truyền thống, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, giải quyết vịêc làm tăng thêm cơ hội đầu tư ...tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế - văn hóa cùng phát triển. - Về xã hội Trước hết hoạt động du lịch đòi hỏi nhiều lao động dịch vụ với nhiều ngành và nhiều trình độ khác nhau, do đó du lịch càng phát triển thì càng có nhiều cơ hội có việc làm cho xã hội, góp phần giải quyết một vẫn đề bức xúc nhất của xã hội hiện nay.
  13. Du lịch càng phát triển, càng tạo điều kiện để mở rộng giao lưu văn hoá, tăng cường dự hiểu biết và mở rộng tầm nhìn, học hỏi thêm kinh nghiệm làm ăn buôn bán của nhiều nước, nhiều khu vực khác nhau trên thế giới thông qua đó đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí. Tuy những mặt này được tiến hành một cách không chính thức, "phi chính phủ" nhưng thường mang tính quản đại hơn và có hiệu quả cao. Càng thông qua sự tiếp xúc trực tiếp và rộng rãi với du khách nhiều nước, ngoài vùng mà nhân dân ở vùng sở tại, nước sở tại có điều kiện tiếp thu những tinh hao văn hoá, những lối sống đẹp, phong cách giao tiếp lịch sự văn minh của văn hoá nói chung ngày càng mở rộng ra những lĩnh vực mang tính nhân văn cao mà trước đây chúng ta thường xem nhẹ như sự hiểu biết và thái độ ứng xử đối với việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống, đối với các công trình văn hoá nghệ thuật của dân tộc đối với môi trường sinh thái... Thông qua đó mà giáo dục truyền thống dân tộc, lòng tự hào về lịch sử văn hoá...đối với các thế hệ công nhân trong xã hội. - Những mặt tiêu cực chủ yếu. Du lịch là sự di chuyển của nhưng bộ phận dân cư, bao gồm rất nhiều giai cấp xã hội của vùng này đến vùng khác và nước khác. Sự tiếp nhận đó bao gồm cả những mặt tốt như trên, nhưng đồng thời du khách cũng mang theo cả những mặt tiêu cực về chính trị - xã hội không nhỏ và không ít khó khăn phức tạp. Vấn đề lớn đầu tiên là phải biết và có đủ bản lĩnh để chắt lọc và tiếp thu có phê phán nền văn minh nhân loại, văn minh thời đại sao cho phù hợp với truyền thống văn hoá, lịch sử và con người Lào đề phòng ngay từ đầu tình trạng lai căng nền văn hoá ngoại lai, hỗn tạp là một vẫ đề có ý nghĩa sống còn đối với tương lai dân tộc, vấn đề đặt ra không phải là tinh thần dân tộc cực đoan, bài ngoại mà là sự chắt lọc một cách chủ động những gì phù hợp trên nền tảng kinh tế lào. Điều này đòi hỏi nhà nước phải với tư cách là chủ thể định hướng chứ không thể để nhân dân tự sàng lọc một cách tự nhiên chủ nghĩa. Đã có không ít những quốc gia đã và đang đứng trước nguy cơ nền văn hoá dân tộc bị băng hoại, lai căng và do vậy sự phát triển không những phải trả giá quá đắt mà sẽ không bền vững. Sự mở rộng hoạt động du lịch, nhất là du lịch hướng ngoại, đồng thời cũng tạo ra những điều kiện và cơ hội cho một số dịch bệnh phát triển, cho một số người nhập cư bất
  14. hợp pháp, cho một số tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, mại dâm, nghiện hút, lối sống hiện sinh...nảy nở. Cùng với sự phát triển du lịch thì yêu cầu bảo vệ môi tr ường sinh thái, chống sự lợi dụng để hoạt động phá hoại gây mất ổn định về chính trị- xã hội càng đắt ra một cách gay gắt hơn. Chính vì vậy, công tác quản lý Nhà nước đối với du lịch được đặt ra nhiều nội dung phong phú và phải được thực hiện với những yêu cầu rất riêng của du lịch. 1.2. Nội dung về điều kịên phát triển du lịch Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt."Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích các mạng, giá trị nhân văn , công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sự dụng nhằm thoả măn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để có thể hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn su lịch" [20,tr.2]. Tài nguyên du lịch là cơ sở phát triển du lịch bao gồm: Một là, nguồn lực thiên nhiên. Nguồn lực thiên nhiên bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, núi rừng, hang động, sông, thác nước, suối, môi trường sinh thái...cụ thể đó là sự thuận lợi do vị trí đia lý mang lại như thông thương với các nước dễ dàng, có đường bộ, đường sông, đường hàng không là trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động trên thê giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tai nguyên tự nhiên thì quốc gia đó có tiềm năng lớn để thu hút khách du lịch đến tham quan. Hai là, nguồn lực nhân văn bao gồm bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá, thể hiện bằng hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn uống dân tộc, các loại hình nghệ thuật, các lối sống nếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu giữ được đến nay, với nhiều thành tựu sâu sắc về văn hoá nghệ thuật, toán học vật lý học, hoá học... có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch. Ba là, dân cư lao động là một nguồn lực để phát triển du lịch, bao gồm hai yếu tố chính là người làm ra sản phẩm du lịch và người tiêu thụ sản phẩm du lịch. Thời gian nhàn rối và mức sống thu nhâp của người dân là điều kiện quan trọng tạo nên khối lượng khách du lịch. Điều kiện này phụ thuộc vào chế độ làm việc và sức sản xuất, phát triển sản xuất như thu nhập của người dân mỗi quốc gia. Các chuyên gia du lịch cho rằng, ở các kinh tế phát triển, khi thu nhập của người dân tăng 1% thì chi phí cho du lịch tăng 1,5 %. Dân cư và lao động là nguồn cung cấp lao động cho các hoạt động dịch vụ du lịch. Thực tế cho thấy việc phục vụ một cách khách du lịch có thể tạo ra việc làm cho 3- 5 lao động. Với một tỷ lệ đó rõ ràng một bước phát triển du lịch, phải có thị trường sức lao động tương ứng.
  15. Trình độ văn hoá cũng góp phần vào phát triển du lịch. Con người thân thiên, hiền hoà, mến khách. ứng xử văn minh lịch sự, tạo nhiều thiện cảm cho khách du lịch của điểm đến cho những người thân quen, có thể tạo thành làn sóng phát triển du lịch. Phần lớn những người khách tham gia vào hành trình du lịch, đều là người có trình độ văn hoá, nhất là người đi du lịch nước ngoài. Người có trình độ văn hoá cao, thì nhu cầu đòi hỏi du lịch càng lớn, đòi hỏi chất lượng du lịch cũng phải hoàn thiện và đa dạng. 1.2.1. Đầu tư cơ sở hạ tầng Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng, đây là một nguồn lực một điều kiện không thể thiếu được để phát triển du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận cho phát triển du lịch, ngược lại sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm: - Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảo nơi ănn chốn ở cho khách du lịch. Đây là hai dịch vụ đặc trưng nhất của hoạt động kinh doanh du lịch, chúng đáp ứng nhu cầu bản năng của con người (ăn và ngủ), khi họ sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch. Đầu tư vào cơ sơ vật chất kỹ thuật kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn uống: Bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất, tham gia vao việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và giả trí của du khách. Chúng bao gồm tất cả các phòng ăn, phòng uống nhà kho, nhà bếp, các trang thiết bị tiện nghi phục vụ khách ngủ qua đêm. Các loại hình cơ sở lưu trữ gồm: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, lang du lịch trang trại. - Mạng lưới bán hàng: là một thành phần tròn cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nhằm đáp ứng nhu câu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hoá đặc trưng của địa phương mình, của đất nước minh, hàng thực phẩm và các hàng hoá khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai phần: Một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu. Phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương, với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương, đồng thời càng đóng vai trò quan trọng đối với phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nơi đó. - Đầu tư vào cơ sở thể thao: Là bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách làm cho nó trở nên tích cực hơn. Các cơ sở thể thao bao gồm cả các công trình thể thao, các phòng thể thao với nhiều loại
  16. khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi lại thể thao như: bể bơi, xe đạp nước, sân quần vợt sân bóng đá, sân golf,, trường đua ngựa... Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời, cơ sở vật chất của các trung tâm du lịch. chúng làm phong phú và đa dạng các loại hình hoạt động du lịch, làm tăng sự hấp dẫn, kéo dài thời giam lưu trú của khách, làm tăng hiệu quả sự dụng khách sạn, nhà nghỉ nhà trọ... - Đầu tư vào cơ sở y tế: nhằm mục đích phục vụ du khách chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm: các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, xông hơi nóng, mát xa, các món ăn kiêng), các phòng y tế khác. - Đầu tư vào công trình phục vụ văn hoá thông tin: Bao gômg các trung tâm văn hoá thông tin, phòng chiếu phim, câu lạc bộ, phòng triển lãm, internet, phòng đọc sách...hoạt động văn hoá thông tin có thể được tổ chức thông qua các buổi dạ hội hữu nghị, dạ hội hoá trang, đêm ca nhạc, tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi giữa những người khách du lịch có cùng nghề, buổi chiếu phim, xem kịch, tham quan bảo tang... - Đâu tư vào giao thông vận tải: bao gôm đường bộ, đường hàng không,đường sông. Mạng lưới giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc đi lại của khách một cách dễ dàng. Đồng thời tạo điều kiện khai thác tối đa tiềm năng du lịch của một vùng, một địa phương, một đất nước. - Đầu vào cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác bao gồm: Trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu như du lịch mạo hiểm, xưởng sủa chữa dụng cụ thể thao, phòng dựa tráng phim ảnh, hiệu cắt tóc, gội đầu, hiệu sửa chữa thiết bị liên lạc, hiệu giặt là, bưu điện, phòng sao chép. Ngoài ra đảm nhận việc vẩn chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần đắc lực vào thực hiện giao lưu các vùng và các khu vực các nước. 1.2.3. Chính sách phát triển du lịch Có đường lối chính sách đúng đắn định huớng phát triển du lịch. Đây là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch thành nghành kinh tế mũi nhọn. Bởi lẽ đường lối, chính sách phát triển du lịch xác định rõ vị trí của ngành du lịch trong tổng thể các ngành kinh tế - xã hội và các định hướng, biện pháp đúng đắn để phát triển ngành này. Tổ chức du lịch thế giới (WTO), trong một báo cáo của mình năm1978 đã nhận xét: "kinh tế du lịch ở mốt số nước phát triển mạnh, đây không phải là một sự ngẫu
  17. nhiên, đột xuất mà do một số nước chính phủ các nước đã quan tâm, đặt du lịch theo hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Do đó, ngành du lịch phát triển rất năng động trong việc kế hoạch hoá đầu tư thành ngành du lịch quốc gia liên kết chặt chẽ với ngành thương mại du lịch của các nước trên thế giới". Nước nào có đường lối chính sách phát triển du lịch đúng đắn thắt chặt sẽ làm ổn định chính trị- kinh tế- xã hôi. Các nước có nền kinh tế phát triển, chính trị trong nước ổn định, có đường lối hoà nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả mọi người thì nhu cầu đi du lịch của nggười dân đến các nước khác đến du lịch ngày càng tăng. Nếu kinh tế có nhiều biến động, chính trị bất ổn, đồng tiền lam phát người dân đi du lịch giảm. Tiềm lực kinh tế, đó là sự phát triển kinh tế của một nước, tư công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng... kéo theo nó là sự gia tăng các doanh nhân, những nhà đầu tư, những nhà tiếp thị đến với các nước mình. Chính nguồn khách này sẽ tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ dịch vụ của ngành du lịch như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ thăm quan.... Một đất nuớc trong một năm tổ chức được nhiều hội trợ quốc tế về thương mại, công nghiệp. Thì đồng thời cũng là nguồn cung ứng khách du lịch, một cửa khẩu mà mật độ, khối lượng giao, nhận hàng hoá với khách hàng quốc tế lớn, thì ở đó số lượng khách qua cửa khẩu sẽ nhiều và như vây sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh khách sạn nhà hàng. Đó là đường lối chính sách phát triển du lịch đúng đắn. 1.2.3. Hoạt động quảng bá thương hiệu và khuyến khích phát triển du lịch Mục đích của hoạt động quảng bá thương hiệu khuyến khích phát triển du lịch là nhằm cung cấp thông tin cho du khách bao gồm thồn tin các khu du lịch, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, cơ sở thể thao, các di tích lịch sử - văn hoá, truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc...làm cho khách du lịch họ nhận thức đúng và đây đủ hơn các sản phẩm du lịch, đồng thời thuyết phục họ mua hàng mua sản phẩm ở các khu du lịch. Tuyên truyền, quảng bá là phải nhằm vào thị trường khách cụ thể để đạt được mục đích ở thị trường đó. Như vậy dựa vào thị trường mục tiêu để xúc lập mục tiêu cổ động. Cần lựa chọn biện pháp xúc tiến là một trong năm hình thức sau: Tuyên truyền, quảng bá,
  18. khuyến khích, trao hàng và xúc tiến bán hàng trực tiếp. Trên cơ sở đó xác định được thời gian tiến hành tuyên truyền quảng bá thương hiệu, khuyến mại để phát triển du lịch. Tuyên truyền, quảng bá đòi hỏi một chi phí khá lớn, nhưng rất cần thiết trong các hoạt động quảng cáo sản phẩm của các kinh doanh du lịch, bởi vì hiệu quả nó rất lớn, khó lượng hoá hết. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO). ngân sách về tuyên truyền quảng bá thương hiệu và khuyến khích của các nước đều tăng. Có nhiều nước đã dành một khoản ngân sách rất lớn chi cho hoạt động này như: Canada 27 triệu USD, Hông Kông 15 triệu USD, Sinhgaphore 13 triệu USD... Theo các nhà kinh tế, nếu bỏ ra 1 USD cho việc truyền truyền quảng bá du lịch thì sẽ thu được 150 USD. Nhưng ở châu Âu lại tăng lên đến 360 USD. Như vậy đây cũng là yếu tố rất quan trọng để phát triển du lịch của nước mình. Ngoài ra nhà nước cũng đã có những chính sách và biện pháp hữu hiệu để xúc tiến quảng bá du lịch, đẩy mạnh đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng cho khách di lịch, điểm su lịch trọng điểm. Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển du lịch, hoạt động tổ chức phục vu du lịch đã được xã hội hoá ngày càng rộng rãi với nhiều thành phần kinh tế thâm gia. Nhiều doanh nghiệp nhân doanh, liên doanh đã và đang hoạt động khá hiệu quả trong lĩnh vực này. Nhiều khu du lịch sinh thái gắn với các di tích lịch sử- văn hoá, các khu vui chơi giải trí...đã thu hút thêm nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế. Theo đó công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên các ngành đã được chú ý, các cơ sở đào tạo nâng cao kiến thức về văn hoá lịch sử, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, hưỡng dẫn du lịch. 1.2.4. Quản lý nhà nước đối với du lịch Trước đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn phát triển du lịch, vẫn đề tăng cường quản lý nhà nước về du lịch cần được tiến hành khẩn trương đồng bộ. Về thể chế quản lý nhà nước về du lịch cần coi hoạt động của khách du lịch là đối tượng quản lý và phải xác định rõ và đủ mọi hoạt động của khách du lịch để không bỏ sót các lĩnh vực cần quản lý. Bảo vệ quền và lợi ích của khách du lịch, chính là bảo vệ danh tiếng, giữ gìn sự hấp dẫn du lịch của cả nước và uy tín, thể hiện của quốc gia. Bên cạnh đó, cần có những yêu cầu và quy định đối với khách du lịch, Vì vậy thể chế quản lý du lịch không những phải điều chỉnh quan hệ mua và bán mà còn hàm chứa cả việc hoạt động khác của khách như thủ tục xuất nhập cảnh, quá cảnh, đi lại, tiếp xúc, giao lưu... Do đó, hệ thống văn bản về pháp luật về du lịch phải đồng bộ, nhất quán giữa các cấp, các ngành, tránh dùng biện pháp hành chính máy
  19. móc. Trong quản lý hoạt động du lịch quốc tế, thể chất quản lý phải thể hiện yêu cầu quản lý trong nước, đồng thời. Cần vận dụng linh hoạt và phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế. Hiện nay, đòi hỏi của khách du lịch về sản phẩm du lịch rất cao, xuất phát từ sự đa dạng trong văn hoá tín ngưỡng, phong tục và kinh nghiệm đi du lịch, quen tiếp xúc với sản phẩm cao cấp, hoàn chỉnh của các nước phát triển. Vì vậy, để lưu giữ khách cần phải tôn tạo, nâng cấp các danh thắng, tài nguyên để khai thác lâu dài , bền vững chứ không thể chạy theo lợi nhuận kinh tế trước mắt. Vai trò của quy hoạch trong quá trình xây dựng các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch hết sức quan trọng. Trong quy hoạch và xây dựng dự án phải hướng tới đạt hiệu quả nhiều mặt, không chỉ về kinh tế mà còn đảm bảo tính thẩm mỹ, văn hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc. Hoạt động du lịch đa dạng mang tính liên ngành, liên vùng nên quản lý nhà nước về du lịch là quản lý liên ngành. Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch trong hoạt động của mình cũng thể hiện tính liên ngành rõ rệt. Ngoài cơ quan đảm nhiệm trực tiếp chức năng quản lý nhà nước về du lịch, còn có những bộ phận của các cơ quan khác thực hiện chức năng quản lý du lịch. Những hoạt động quản lý du lịch của tất cả các cơ quan này rất cần sự điều phối, chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Hoạt động du lịch của một đất nước, tự thân nó, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, thường gắn chặt và tùy thuộc vào không ít mối quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế về du lịch. Vì vậy, một trong những chức năng của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch là chức năng quản lý kinh tế đối ngoại. Do có sự trùng hợp của đối tượng quản lý và kinh doanh đều là khách du lịch nên việc tách bạch giữa quản lý và kinh doanh rất khó khăn. Việc xây dựng thể chế cần phải làm rõ hai chức năng đó. Nhưng trong công việccụ thể, trong thực thi thì hai chức năng gắn bó với nhau trong một cơ cấu tổ chức, thậm chí trong một con người. Người đứng đầu một doanh nghiệp du lịch, một khách sạn, không thể không chịu trách nhiệm về an ninh chính trị, về hướng dẫn khách tuân thủ luật pháp và tôn trọng phong tục tập quán của nước đến. Những người đứng đầu một doanh nghiệp kinh doanh du lịch, trong hoạt động của mình thực hiện cả hai chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh. Khi khách đi tour, không thể có một cơ quan nhà nước nào đi theo để quản lý, mà chỉ có hướng dẫn viên du lịch quản lý. Vì vậy có thể nói, trong công việc cụ thể, ở những khâu nhất định, cán bộ trong hoạt động kinh doanh đồng thời cũng thực thi chức năng quản lý nhà nước về du lịch.
  20. Do yêu cầu quản lý và đặc điểm của đối tượng quản lý, những công chức làm chức năng quản lý nhà nước về du lịch, một số cán bộ doanh nghiệp, nhất là cán bộ trực tiếp tiếp xúc với khách không chỉ cần thông thạo pháp luật và nghiệp vụ, có phẩm chất tốt, ý thức trách nhiệm cao mà còn cần phải am hiểu phong tục tập quán của từng địa phương, từng vùng và quốc tế, có trình độ văn hoá cao trong ứng xử giao tiếp, trong việc yêu cầu khách nước ngoài tuân thủ pháp luật, trong xử lý sai phạm xảy ra . - Quản lý nhà nước đối với hướng dẫn viên. Ngày nay đi du lịch không chỉ thăm thú cảnh quan mà du khách còn muốn khám phá những nét truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của điểm đến. Chính vì vậy, những người làm công tác hướng dẫn, thuyết minh cho khách tại điểm đó rất quan trọng. Làm thế nào để đội ngũ này thật sự tuyên truyền đúng, đầy đủ và tạo ấn tượng tốt cho du khách đang là câu hỏi đặt ra, nhất là đối với những di tích quan trọng có nội dung nhạy cảm. Việc thuyết minh cho du khách hiểu những giá trị văn hoá, lịch sử của một địa danh nào đó có ý nghãi rất quan trọng đặc biệt là khách quốc tế. Trong đó, xu thế du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng ngày càng được khẳng định và phát triển. Do vậy, đội ngũ hướng dẫn viên khó có thể đáp ứng được những nhu cầu của du khách khi họ muốn khám phá, tìm hiểu giá trị văn hoá, lịch sử, phong tục tập quán của người dân bản địa. Ông Đỗ Đình Cường, Giám đốc Công ty hỗ trợ du lịch cho biết: kiến thức của hướng dẫn viên cho du khách đó là người có kinh nghiệm và trình độ cũng không thể chuyển sau trong mọi lĩnh vực. Vì vậy, khi giới thiệu cho khách du lịch tại điểm du lịch có giá trị văn hoá, lịch sử (đặc biệt là giá trị văn hoá cổ) thường không hiểu biết, do vậy không truyền đạt hết giá trị của các di tích đó. Ông Cường cũng đưa ra so sánh với Thái Lan, một quốc gia trong khu vực Đông Nam á có ngành du lịch khá phát triển nhưng họ cũng quy định hướng dẫn viên không thể hướng dẫn tại một số di tích văn hoá, lịch sử quan trọng thì không được quyền tác nghiệp tại những nơi đó. Bên cạnh đó hướng dẫn viên thường không phải là người địa phương nên ít có điều kiện tìm hiểu sâu cũng như việc đào tạo đội ngũ này lại mất khá nhiều thời gian và chi phí. Như vậy có thể thấy rằng, đội ngũ thuyết minh viên tại chỗ là khá quan trọng và cần thiết. Mặc dù có thể nhìn thấy rằng, đội ngũ thuyết minh viên tại điểm còn một số hạn chế nhất định: trình độ văn hoá không cao, không đồng đều đặc biệt là về kỹ năng nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ còn yếu.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2