intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:84

53
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn nhằm thực hiện nhằm những mục tiêu chính sau đây: Xác định thành phần loài và mật độ côn trùng nước tại một số hệ thống suối thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông; đánh giá mức độ đa dạng về loài côn trùng nước dựa vào một số chỉ số đa dạng sinh học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

  1. MỞ ĐẦU Côn trùng nước bao gồm những loài có ít nhất một giai đoạn phát triển  trong vòng đời của chúng sống trong nước. Cùng với sự phong phú của các dạng  thủy vực như  thủy vực nước đứng, nước chảy hay các thủy vực tạm thời và   nhân tạo đã tạo nên những quần xã côn trùng nước vô cùng đa dạng.  Cũng như các động vật không xương sống khác, côn trùng nước góp phần  duy trì hệ sinh thái thủy vực phát triển ổn định. Chúng là những mắt xích không   thể  thiếu trong mạng lưới thức ăn của các hệ  sinh thái. Nhiều nhóm côn trùng   nước còn có chức năng lọc nước giữ cho môi trường sống của chúng trong sạch,   hay một số khác lại tạo nguồn ôxy do chúng ăn nạo các lớp tảo phát triển trên bề  mặt đá hoặc lá cây thủy sinh. Bên cạnh đó, các loài côn trùng nước còn có ý nghĩa  lớn đối với đời sống con người. Hầu hết, chúng là đối tượng được sử  dụng   trong giám sát sinh học. Do một số loài rất nhạy cảm đối với sự  biến đổi của   môi trường nên chúng được dùng làm sinh vật chỉ  thị  đánh giá chất lượng môi  trường nước. Ngoài ra, việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm thức ăn cho   ngành thủy sản cũng được quan tâm đến. Nhiều doanh nghiệp dựa trên tập tính   vũ hóa của một số nhóm côn trùng nước tiêu biểu như  bộ Phù du, đã tạo ra một  số   lượng   lớn   lưỡi   câu   bắt   chước   hình   dạng   chúng   phục   vụ   cho   hoạt   động   thương mại và giải trí của con người trong nhiều năm qua. Sự  đa dạng cùng với vai trò của côn trùng nước là rất lớn nhưng trong   thực tế nhiều loài còn chưa được biết đến, đặc biệt là những vùng nhiệt đới trên  thế  giới. Việt Nam là một trong các nước nhiệt đới, những năm gần đây côn  trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này  vẫn còn ít và tản mạn, vì vậy đề  tài: “ Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn  trùng nước  ở  Khu Bảo tồn nhiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” được  thực hiện nhằm những mục tiêu chính sau đây: ­ Xác định thành phần loài và mật độ côn trùng nước tại một số hệ thống   suối thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông. 1
  2. ­ Đánh giá mức độ đa dạng về loài côn trùng nước dựa vào một số chỉ số  đa dạng sinh học. Do thời gian nghiên cứu có hạn, kiến thức và kinh nghiệm của bản thân  tác giả  còn rất hạn chế  nên bản luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất   mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để tác giả có  điều kiện rút kinh nghiệm và hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất. 2
  3. Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới Côn trùng nước được các nhà khoa học trên thế  giới quan tâm và nghiên  cứu từ  rất sớm. Qua các công trình nghiên cứu đã công bố, cho đến nay đã xác  định có 9 bộ  chính thuộc côn trùng nước đó là các bộ: Phù du (Ephemeroptera),  Chuồn chuồn (Odonata), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh lông  (Trichoptera),   Cánh   cứng   (Coleoptera),   Hai   cánh   (Diptera),   Cánh   rộng  (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera).  Nhiều công trình nghiên cứu về phân loại và sinh thái của côn trùng nước   đã được công bố (Ross, 1944; Usinger, 1956; Edmondson, 1959; Klots, 1966) [43].   Từng  bộ   của   các   nhóm  này  được   nghiên  cứu  và   tổng  hợp  trong  các   tài  liệu  chuyên khảo về phân loại học (Eaton, 1871, 1883­1888; Lepneva, 1970, 1971; Mc   Cafferty,  1973,  1975; Kawai,  1961,  1963),  sinh  thái  học  (Corbet,  1999;  Brittain,  1982) và tiến hóa (Edmunds, 1972; Mc Cafferty, 1991, 1999) [24].  Các loài côn trùng nước rất nhạy cảm với sự  biến đổi của môi trường,  nhiều loài trong số  chúng là những sinh vật quan trọng trong chỉ thị chất lượng   môi trường nước. Do đó, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về  lĩnh   vực ứng dụng này như Kuehne (1962), Wilhm & Dorris (1968), Barnes & Minshall   (1983), Morse (1984) [50].  Sự  đa dạng về hình thái và tầm quan trọng của côn trùng nước trong các   hệ  sinh thái thủy vực mang lại nhiều khám phá thú vị  trong mô tả  và phân loại   cho các nhà côn trùng học đồng thời thúc đẩy phạm vi nghiên cứu ngày càng   được mở  rộng đi sâu vào những cơ  chế  sinh thái học như  biến động quần thể,   các mối quan hệ dinh dưỡng. Tiêu biểu như các công trình của Lindeman (1942),   Cummins & Klug (1979), Merritt & Cummins (1984), Resh & Rosenberg (1984),  Cummins (1974, 1996) [47]. 3
  4.  Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố  hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: Mc Cafferty (1983),  Kawai   (1985),   Morse  et   al.   (1994),   Yang   &   Tian   (1994),   Merritt   &   Cummins  (1996), Mc Cafferty (1999)… Các nghiên cứu này đã đưa ra khóa định loại tới  giống, thậm chí tới loài côn trùng nước dựa vào hình thái con trưởng thành và ấu   trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng dụng của chúng trong   sinh thái học [47]. Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera) Phù du là một bộ côn trùng có cánh cổ sinh. Những hóa thạch cổ xưa được  tìm thấy  ở  kỷ  Cacbon và kỷ  Pecmia cách đây 250 triệu năm (Edmunds, 1982;   Dudgeon, 1999). Đến năm 2008, trên thế  giới đã phát hiện được hơn 3000 loài  thuộc hơn 400 giống của 42 họ thuộc bộ Phù du [28]. Phù du là những côn trùng   phân bố rộng khắp trên thế giới, giai đoạn ấu trùng của chúng có mặt ở hầu hết  các thủy vực nước ngọt như: ao, sông, suối, đầm lầy đến những vùng nước nông   của hồ (Needham et al., 1935; Burk, 1953; Edmunds et al. , 1976) [54].  Thời kì đầu, Phù du chủ  yếu được nghiên cứu bởi những nhà khoa học  châu Âu và châu Mỹ. Lineaus (1758) là người đầu tiên đặt nền móng cho các  nghiên cứu về Phù du khi mô tả 6 loài Phù du có mặt ở châu Âu và xếp chúng vào   một nhóm mà ông đặt tên là Ephemera [54].  Vào những thập niên cuối của thế kỷ  XIX hàng loạt các công trình nghiên  cứu được công bố  của Eaton (1871, 1881, 1883 ­1888, 1892) đã cung cấp những  kiến thức cơ bản về Phù du, đặc biệt là những đặc điểm dùng cho việc xây dựng   khóa định loại đến các họ  và giống. Thế  kỷ  XX, đánh dấu cho một giai đoạn  bùng nổ  các nghiên cứu về  Phù du, điển hình là các công trình nghiên cứu của   Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924,  1927, 1930), Needham et al. (1935) [54]. Về  hệ  thống phân loại học, Edmunds (1962) là người đầu tiên xây dựng   cây phát sinh loài của Phù du và hệ thống phân loại đến họ. Do việc nghiên cứu  4
  5. về Phù du phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nên hệ thống phân loại của  ông ngày càng bị  hạn chế, bởi vậy Tshernova (1972), Mc Cafferty & Edmunds   (1973), Mc Cafferty (1991) [4], đã bổ  sung những dẫn liệu mới và chỉnh lý khóa   phân loại cho phù hợp với thực tế nghiên cứu đòi hỏi. Gần đây, Odgen & Whiting  (2005)   đã  tổng  hợp   những  nghiên  cứu   về   phân  loại  học   của   Mc   Cafferty   &   Edmunds đồng thời  đưa ra giả  thuyết mới về  nguồn gốc phát sinh của Phù du   dựa trên những nghiên cứu về sinh học phân tử [61]. Ở châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du từ các nhà khoa học đến   từ  châu Âu như  Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924)  [54]. Khu hệ  Phù du  Trung Quốc và Đông Nam Á được nghiên cứu bởi Ulmer (1935 ­ 1936, 1939),  Uéno (1931, 1969) và Hsu (1931­ 1932, 1935­ 1936, 1936 ­ 1937, 1937­ 1938) [13].  Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, những báo cáo về  Phù du chủ  yếu quan tâm tới   những vấn đề sinh thái học của ấu trùng Phù du trong hệ sinh thái nước ngọt và  các khóa phân loại (Gose, 1979 ­ 1980, 1985; Uesno, 1980; Yoon và Bae, 1988;  Yoon, 1995) [13].  Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan đến phân loại và hệ  thống học   Phù du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng khoá phân loại chi tiết tới loài kể  cả  giai đoạn  ấu trùng và trưởng thành. Ngoài các công trình nghiên cứu về  đặc  điểm phân loại của Phù du, nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các  khía cạnh khác nhau liên quan đến nhóm côn trùng nước này như: sinh thái học,   địa động vật. Điển hình là Neddham et al. (1935) [54], đã công bố các số liệu về  vòng đời, quá trình lột xác chuyển từ  đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh  dưỡng, tập tính sinh sản, biến động số lượng theo mùa... của nhiều loài Phù du.   Gần đây, Brittain (2008) đã cung cấp những nghiên cứu bước đầu về ảnh hưởng  của biến đổi khí hậu đối với sự phân bố và đa dạng của bộ Phù du [16].  Về mặt ứng dụng, một số công trình của Landa & Soldan (1991), Bufagni  (1997) đã đề cập đến việc sử dụng Phù du lam sinh vât chi thi môi tr ̀ ̣ ̉ ̣ ương n ̀ ước.   Vì nhiều loài Phù du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường [54].  Tương  5
  6. lai tới, hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái phục hồi và bảo tồn   các loài cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn. Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata) Chuồn chuồn cũng là một trong những nhóm nguyên thủy và cổ  xưa. Các   hóa thạch của chúng còn đến hiện nay được biết từ kỷ Trias. Hiện nay, người ta   phân biệt ra hai bộ  phụ, Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) và Zygoptera (Chuồn  chuồn kim). Hai loài còn sót lại thuộc giống  Epiophlebia thuộc vùng Himalaya và  Nhật Bản, trước đây được xếp chung vào bộ  phụ  cổ  Anisozygoptera, hiện nay   được xếp vào bộ phụ  Anisoptera [24]. Trong những năm gần đây, Chuồn chuồn  trở thành mục tiêu của nỗ lực bảo tồn ở nhiều quốc gia như Bắc Mỹ, châu Âu và  châu Á. Theo Silsby (2001) [48], bộ Chuồn chuồn gồm có 8 tổng họ, 29 họ, 600   giống và 5.700 loài đã được mô tả trên toàn thế giới. Chúng là những loài có kích   thước cơ  thể  lớn, giai đoạn thiếu trùng sống trong môi trường nước trong khi  giai đoạn trưởng thành sống hoàn toàn trên cạn. Các nghiên cứu về  Chuồn chuồn  được bắt đầu từ  khoảng cuối thế  kỉ  XIX, nhưng sang thế kỉ XX Chuồn chuồn mới ngày càng nhận được chú ý nhiều  hơn bởi các nhà nghiên cứu phân loại học và sinh thái học. Ở giai đoạn đầu, các  công trình nghiên cứu về  Chuồn chuồn chủ  yếu tập trung mô tả  hình dạng và   đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu thập được ở châu Á và châu Âu nhằm   xây   dựng   khóa   định   loại.   Điển   hình   cho   các   công   trình   nghiên   cứu   này   là:  Needham (1930), Fraser (1933, 1934, 1936), Askew (1988), Zhao (1990), Hisore &  Itoh (1993), Wilson (1955) [1].  Lieftinck (1954) là tác giả  có nhiều nghiên cứu về  Chuồn chuồn tại khu   vực Đông Nam Á. Tại Đài Loan, Lieftinck et al. (1984) đã công bố danh sách các  loài Chuồn chuồn đầu tiên với tổng số  135 loài và phân loài. Cho tới năm 2005,   danh sách này đã được bổ sung lên tới 148 loài và phân loài được biết đến ở Đài   Loan. Ở  Hàn Quốc, những nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn cũng được quan tâm  từ  rất lâu, như  các nghiên cứu của Okamoto (1924), Doi (1932, 1933, 1935, 1937,   6
  7. 1943), Haku (1937), Kamijo (1933, 1937), Asahina (1939, 1989), Miyazaki (1986)  và Eda (1986) [83].  Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình   nghiên cứu về  sinh học, sinh thái học và tập tính sinh học của Corbet (1999),   Silsby (2001) [5]. Những nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành.  Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại  có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1].  Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera) Cánh úp là một bộ nhỏ trong lớp côn trùng biến thái không hoàn toàn. Hiện  nay, có hơn 3.497 loài đã được mô tả  trên thế  giới [25]. Trong 30 năm qua, số  lượng loài Cánh úp đã tăng lên một cách đáng kể (Mc Cafferty, 1990  ước tính có   2100 loài) và nếu xu hướng này tiếp tục số lượng sẽ tăng lên gấp đôi trong tương   lai không xa.  Cánh úp là bộ có phân bố trên tất cả các châu lục, ngoại trừ  Nam Cực và  tạo thành một thành phần quan trọng trong các hệ  sinh thái nước chảy. Khu hệ  Cánh úp đa dạng nhất  ở khu vực Bắc Mỹ 674 loài ( Stark & Baumann, 2009) và  khu vực châu Âu 426 loài (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004). Khu hệ tại Úc  191 loài (Michaelis & Yule, 1988), New Zealand 104 loài (McLellan, 2006), Trung  Mỹ 95 loài, Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003) và châu Phi 126 loài [25].  Khu vực  Bắc Mỹ và Châu Âu là hai khu vực đã được nghiên cứu nhiều hơn cả, trong khi   đó những dẫn liệu về Cánh úp ở Trung và Nam Mỹ còn rất nghèo nàn và chưa đủ  để đại diện cho mức độ đa dạng thật sự ở các khu vực này. Ở châu Á, các công trình nghiên cứu về khu hệ Cánh úp đã được tiến hành   bởi một số nhà côn trùng học châu Âu và châu Á. Vào những năm 30 của thế kỷ  trước, Wu & Classen (1934, 1935, 1937, 1938) [43] đã đưa ra hệ  thống các bậc  phân loại của bộ Cánh úp tại miền Nam Trung Quốc. Kawai (1961 ­ 1975) nghiên  cứu một số loài Cánh úp ở  Đông Nam Á,  Ấn Độ, Sri Lanka... [4]. Vào thập niên  80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988) cũng đưa ra những nghiên cứu   7
  8. về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Uchida et al. (1988, 1989) [4] mô tả  một vài  loài thuộc  Perlinae  (Perlidae)  ở  Malaysia, Thái Lan và hai giống   Cryptoperla,   Yoraperla   thuộc họ  Peltoperlidae  ở  Nhật Bản và Đài Loan. Stark (1979, 1987,   1983,   1991,   1999)   [17]   đã   ghi   nhận   nhiều   loài   mới   thuộc   họ   Peltoperlidae   và  Perlidae ở các nước phương Đông.  Cho đến nay, khu vực Châu Á đã xác định được khoảng 1.527 loài. Trong  đó, có khoảng 784 loài từ  khu vực Đông Nam Á (Sivec & Yang, 2001), Trung   Quốc dự tính khoảng 350 loài, Tây Á khoảng 114 loài, Trung Á khoảng 51 loài và  một số  lượng nhỏ  các loài  ở  một số  nước [25]. Mặc dù, những nghiên cứu về  khu vực châu Á còn rất hạn chế nhưng một thực tế cho thấy độ  đa dạng của bộ  Cánh úp có thể lớn hơn rất nhiều so với châu Âu và Bắc Mỹ.  Mới đây, Du (1998, 1999, 2000) đã công bố  những tài liệu liên quan đến  Perlidae  ở  miền Nam Trung Quốc [17]. Sivec & Stark (2010) đã công bố  7 loài  mới của giống  Phanoperla  Banks (Perlidae) và 8 loài mới của giống  Nemoura   (Nemoridae)  ở  khu vực Thái Lan và Việt Nam [67, 68]. Sivec & Stark (2011) bổ  sung thêm 5 loài  mới của  giống  Neoperla  Needham  và  3 loài mới của  giống  Phanoperla Banks tại Palawan và Mindanao bán đảo Philippine [71]. Stark et al.  (2012) đã miêu tả  một loài mới và ghi nhận sự  xuất hiện lần đầu tiên của một  loài thuộc giống Anacroneuria (Perlidae) từ Ecuador và Paraguay [74]. Tuy nhiên, đứng trước thực trạng ô nhiễm hiện nay ngày càng tăng và sự  thay đổi các khóa phân loại cao của bộ Cánh úp, một số lượng lớn Cánh úp đã bị  suy giảm thành các quần thể  nhỏ  bị  cô lập, thậm chí nhiều loài trong số  chúng  đang đi tới diệt vong. Có lẽ bộ Cánh úp là một trong các nhóm có nguy cơ tuyệt  chủng cao nhất trong lớp côn trùng (Fochetti & Tierno de Figueroa, 2004) [25]. Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera) Cánh lông là bộ côn trùng nước đa dạng nhất trong hệ sinh thái nước ngọt  và phân bố ở tất cả các vùng địa lý trên trái đất. Ấu trùng và nhộng của bộ này có   thể sống cả ở những suối nước lạnh và nóng (tới 340C), rất hiếm khi thấy có ở  8
  9. biển. Theo Morse (2012), trên thế giới đã xác định được 14.548 loài, 616 giống và  49 họ  còn tồn tại. Ngoài ra, có 685 loài thuộc 125 giống và 12 họ  đã hóa thạch   của bộ Cánh lông [30].  Ở  Đông Nam Á,  bộ  Cánh lông được nghiên cứu từ  rất sớm bởi Ulmer   (1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932). Trong  khi các hướng nghiên cứu chủ  yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành thì Ulmer đã  mở ra hướng nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng vào những năm 1955 và 1957  [26]. Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu về Cánh lông ở các nước Châu Á cũng  bắt đầu được chú trọng, Ulmer (1905 ­ 1951, 1955, 1957),  Malicky (1955),  Morse  (2009),  Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ  Cánh lông Philippin.  Đặc biệt trong những năm gần đây, có hàng loạt các công trình nghiên cứu mới   về  Cánh lông được công bố  như  tác giả  Malicky (2007) đã liệt kê 327 loài và  chứng minh sự đa dạng của Cánh lông trên đảo Sumatra cao hơn so với các khu  vực khác xung quanh Indonesia [26]. Năm 2008, Johason & Oláh đã công bố 7 loài  mới thuộc giống Tinodes (Psychomyiidae) cho khu hệ Cánh lông Đông Nam Á và  1 loài mới từ Hồng Kông [33].  Năm 2009, Sharma & Chandra đã cung cấp một danh sách gồm 1046 loài,   94 giống, 27 họ  của khu hệ Cánh lông  Ấn Độ. Các nghiên cứu cũng được quan   tâm  ở  một số  quốc gia khác như  Nhật Bản phải kể  tới Iwata (1927), Tanida   (1986, 1987), Ito & Ohkawa (2012); Trung Quốc (Martynov, 1930, 1931; Wang,   1963),   Thái   Lan   (Chantaramongkol   &   Malicky,   1989,   1991­1993,   1995,   1997;  Radomsuk, 1999; Sangpradub  et al., 1999; Malicky  et al., 2001, 2002; Chaiyapa,  2001) [3]... Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về định loại  ấu trùng tới giống và   loài nên các nghiên cứu  ở  Đông Nam Á mới chỉ  dừng lại  ở  giai đoạn trưởng   thành. Các khóa định loại của bộ  Cánh lông  ở  Đông Dương (Lào, Campuchia và  Việt Nam) dựa trên những nghiên cứu của tác giả Wallace et al. (1990), Edington  & Hildrew (1995) và Wiggins (1996) [26]. 9
  10. Olash & Johanson (2010) đã công bố 19 loài mới thuộc họ Dipseudopsidae  cho khoa học từ  các mẫu vật thu được tại  Ấn Độ, Malaysia, Lào và Việt Nam  [62]. Tại Nhật Bản, Ito & Ohakawa (2012) đã ghi nhận sự xuất hiện lần đầu của  hai loài Cánh lông thuộc giống  Ugandatrichia  (Hydroptilidae) kèm theo những  miêu tả chi tiết cho giai đoạn ấu trùng, nhộng và trưởng thành của các loài thuộc  giống này tại đây [29]. Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá  chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được   nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu.  Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera) Côn trùng nước bộ Cánh nửa là một bộ có phân bố toàn cầu, chỉ trừ Nam  Cực   và   chúng   đa   dạng   nhất   ở   vùng   nhiệt   đới.   Bao   gồm   2   nhóm   chính:  Gerromorpha   (nhóm   sống   trên   màng   nước)   và   Nepomorpha   (nhóm   sống   dưới  nước). Ngoài ra còn có một nhóm nữa là Leptopodomorpha, tuy không sống ở môi  trường nước nhưng kiếm ăn, bắt mồi  ở gần bờ  nước. Một số tác giả  cũng tính   nhóm này vào nhóm sống ở nước [64].  Năm 2008, thế giới xác định được 4.810 loài, 343 giống và 23 họ thuộc bộ  Cánh nửa trong đó bao gồm 4.656 loài, 326 giống, 20 họ sống ở nước ngọt. Ngoài  ra, hơn 1.100 loài còn lại đã được mô tả rõ ràng [63]. Khu vực Đông và Nam Á có  số  lượng loài chiếm  ưu thế, đặc biệt có nhiều giống thậm chí là phân họ  đặc   hữu [24]. Bộ  Cánh nửa  ở  nước có thành phần loài đa dạng nhất tại khu vực   Trung và Nam Mỹ (trên 1289 loài), khu vực Đông và Nam Á (trên 1100), Á­Úc trên  654 loài, Châu Mỹ trên 400 loài [63]. Trên thế  giới đã có nhiều công trình nghiên cứu bộ  Cánh nửa  ở  nước về  hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và chủng loại phát sinh như: Cheng &   Fernando   (1969),   Menke   (1979),   Andersen   (1985),   Schuh   &   Slater   (1995),  Hilsenwoff (1991) [21, 61, 81].  Ở Châu Á, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa được bắt đầu bằng  các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) [50].   10
  11. Bộ  Hemiptera cũng được quan tâm nghiên cứu  ở  nhiều nước như  Trung Quốc,   Thái   Lan,   Malaysia,   Singapore…   Ở   Trung   Quốc,   từ   những   năm   1920­1930,   Hoffmann đã công bố nhiều nghiên cứu phân loại, sinh học của Cánh nửa ở nước   [50].  Ở  Đông Á và Đông Nam Á, Esaki (trong giai đoạn 1923­1930) đã miêu tả  nhiều loài thuộc bộ Cánh nửa  ở khu vực này và các vùng lân cận, đưa thêm vào  bậc phân loại cao hơn mà ngày nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu. Lundblad   (1933) đưa ra tổng quan chung về bộ Cánh nửa ở nước, với danh lục những loài  từ   Ấn Độ  đến New Guinea và Nhật Bản [63].  Ở bán đảo Malaysia, Fernando &   Cheng (1974) đã lập một danh lục gồm 102 loài thuộc 12 họ. Sau đó, nhiều loài  khác vẫn được miêu tả hoặc ghi nhận. Hiện tại, bán đảo Malaysia và Singapore  có 167 loài nước ngọt thuộc 64 giống, 18 họ được biết đến [2]. Bộ  Cánh nửa ở  Borneo bao gồm khoảng 80 loài đặc hữu [81]. Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan  tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại  phát sinh, tập tính hay sự  thích nghi của Cánh nửa  ở  nước. Có thể  kể  đến công   trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982), Damgaard (2008).   Cheng (1965­1966; 1976) đã công bố một số bài báo về sinh thái và địa lý sinh vật  của giống Halobates. Địa lý sinh vật của bộ Cánh nửa  ở  khu vực quần đảo Mã  Lai được đề  cập bởi Polhemus & Polhemus (1990). Bên cạnh đó những nghiên  cứu về  vai trò của bộ  Cánh nửa trong hệ  sinh thái cũng được quan tâm bởi các  nhà khoa học như Keffer (2000), Spence & Andersen (2000), Sites (2000), Yang  et  al. (2004), Chen et al. (2005)... [2] Mới đây, Site & Vitheepradit (2011) [68] đã lập một khóa định loại cho 4  loài Heleocoris hiện có tại Thái Lan cùng những ghi chú về đặc điểm phân loại,  sinh thái, sinh cảnh trong đó mô tả một loài mới thuộc giống này. Tại Singapore,   Yang & Murphy (2011) [82] đã có một bài báo về  côn trùng nước Heteroptera  ở  Singapore và bán đảo Malaysia trong đó cung cấp một khóa phân loại của 3 giống  và 5 loài thuộc họ  Mesoveliidae  ở  Đông Nam Á và một loài mới thuộc giống  11
  12. Nereivelia được mô tả từ rừng ngập mặn Singapore. Zettel (2011) [84] công bố 7  loài mới của phân họ Gerromorpha từ Myanmar.  Gần đây nhất, Tran et al. (2012) đã điều chỉnh danh pháp khoa học của hai   loài Amemboa ripiaria Polhemus & Andersen, 1984 và Amemboa lyra (Paiva, 1918)  [65]. Tran & Polhemus (2012) đã công bố một loạt các nghiên cứu về Cánh nửa ở  khu   vực   Đông   Nam   Á   như   mô   tả   1   loài   mới   giống   Ranatra  (Nepidae)   từ  Singapore và Indonesia [79].  Nghiên cứu về bộ Cánh cứng Bộ  Cánh cứng là bộ  lớn nhất trong giới động vật. Năm 2008, có khoảng  18.000 loài là côn trùng nước, khoảng 12.600 (70%) trong số này đã được mô tả  [31]. Wu  et al.  đã xác định  ở  Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại  được 311 loài  ở  Nhật Bản, Britton (1970) xác định  ở  Úc có khoảng 510 loài và  White (1984) đã phân loại được 1.143 loài  ở  khu vực Bắc Mỹ  thuộc bộ  Cánh   cứng [47].  Trong thế kỷ XX đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân loại học,   sinh thái học và tiến hóa của bộ Cánh cứng như  các nghiên cứu của Feng (1932,  1933),   Gschwendtner   (1932),   Fernando   (1962,   1969),   Nertrand   (1973),   Crowson  (1981), Jach (1984). Ngoài ra phải kể  tới những nghiên cứu về  sinh thái và tập  tính dinh dưỡng được công bố  bởi Piana (1970), Brown (1973), Crowson (1981),   James (1969), Tavares & Williams (1990) là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu  sâu hơn về đặc điểm của loài sau này [47].  Ở  châu Á, Heinrich & Balke (1997),   Gentuli   (1995),   Jach   &   Ji   (1995,   1998,   2003),   Yoshitomi   &   Satô   (2005),   Short  (2009) đã cung cấp khá đầy đủ  những dẫn liệu về  phân loại học của bộ  Cánh  cứng ở nước [31, 32]. Những nghiên cứu mới đây có thể  k ể đến như  Čiampor  et al. (2012) đã  cung c ấp nh ững thông tin về  các loài thuộc giống  Dryopomorphus (Elmidae)  ở  khu vực Malaysia [22]. Short & Jia (2012) đã bổ  sung 2 loài mới của gi ống   Oocyclus là Oocyclus fikaceki Short & Jia và O. dinghu Short & Jia cho khu hệ  12
  13. Cánh cứng Châu Á từ  các mẫu vật thu đượ c  ở  đông nam Trung Qu ốc [66].   Tuy   nhiên,   các   công   trình   nghiên   cứu   về   bộ   Cánh   cứng   ở   nướ c   thườ ng   ít  đượ c quan tâm hơn các loài Cánh cứng trên cạn.  Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)               Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài lớn trong   giới côn trùng với khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết đến trên thế  giới  [43]. Đây là một bộ không chỉ đa dạng về thành phần loài mà chúng còn đa dạng   về các hình thái ngoài cơ thể cũng như các đặc tính sinh thái học.  Bộ Hai cánh được nghiên cứu rất kỹ, đặc biệt là các công trình nghiên cứu  của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) [45]. Trong b ộ này,  người ta đặc biệt quan tâm tới họ  Culicidae từ  rất sớm bởi những  ảnh hưởng   của chúng khá lớn đến các hoạt động sống của con người. Họ  này có khoảng   3.500 loài và dưới loài thuộc 42 giống trên thế giới [41], có nhiều giống phân bố  toàn cầu và là các vecto truyền bệnh nguy hiểm cho người,  động vật và cây   trồng. Ở châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục   khá đầy đủ  về  thành phần loài của bộ  Hai cánh  ở  miền  Ấn Độ  ­ Mã Lai [43].   Khóa phân loại về  thành phần loài của  ấu trùng bộ  Hai cánh  ở  khu vực Đông   Dương được nghiên cứu bởi Dudgeon (1999) và Yule (2004) [51]. Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)           Bộ Cánh rộng thường được biết đến như một bộ khá nguyên thủy của côn  trùng biến thái hoàn toàn. Đây là một bộ  nhỏ, số  lượng loài không nhiều, chỉ  khoảng 328 loài đã được mô tả, gồm hai họ: Corydalidae (247 loài) và Sialidae   (81 loài) [23].  Ấu trùng của bộ  này sống trong nước trong khi giai đoạn nhộng,   trưởng thành sống trên cạn và đều là các loài ăn thịt (Riek, 1970) [45].          Về phân bố của bộ này, họ Corydalidae có phân bố rộng, tuy nhiên các báo   cáo cho thấy chúng không có mặt  ở  châu Âu, Trung Đông, Trung Á, vùng nhiệt   đới châu Phi và các vùng thuộc phương Bắc. Các loài thuộc họ  Sialidae cũng  13
  14. được coi là phân bố  rộng, phổ  biến  ở  các vùng ôn đới nhưng chúng bị  giới hạn  bởi độ cao nơi sống (Kavan, 1979) [23].          Có rất nhiều tài liệu phân loại về bộ này của các tác giả khác nhau: Contreras   & Ramos (1998), Liu & Yang ( 2006). Penny et al. (1997) công bố một danh lục loài  thuộc bộ  Cánh rộng, sau đó là Oswald (2006). Bên cạnh đó, Bowles (2006) cũng  cung cấp những nghiên cứu về sự phân bố của các loài trong bộ này [23].           Cho đến nay ở châu Á, bộ này chỉ phân bố nhiều ở vùng ôn đới thuộc Hàn   Quốc, Nhật Bản và một số  nơi  ở  Trung Quốc (Bank, 1938). Trong một thế kỷ  qua, thế giới đã chứng kiến sự tăng lên đáng kể của các loài mới thuộc bộ Cánh   rộng, đáng chú ý nhất là khu vực Trung Quốc và khu vực châu Úc. Số lượng loài  ước tính sẽ  tăng lên trong thời gian tới có thể  lên đến hơn 400 loài, bởi những   khu vực nhiệt đới và vùng Đông Nam Á đang tiếp tục được quan tâm nghiên cứu   [23]. Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)             Bộ Cánh vảy là một trong những bộ côn trùng lớn, với 100.000 loài đã   được xác định. Tuy nhiên, sống trong môi trường nước chỉ  có một số  loài thuộc   các họ: Pyralidae, Pyraustidae và Crambidae.            Giai đoạn trưởng thành của bộ  này được rất nhiều nhà khoa học nghiên   cứu từ  rất lâu và có nhiều công trình đã được công bố  cùng với các khóa định  loại chi tiết đến bậc phân loại loài. Trong khi đó, pha  ấu trùng của chúng chưa   được quan tâm nhiều, chỉ  có một vài công trình nghiên cứu, tiêu biểu như  các  nghiên cứu của Merritt & Cummins (1984), Morse, Yang & Tian (1994) đã đưa ra   khóa phân loại tới giống [45, 50]. Ở châu Á, những nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là về phân loại học   trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và   Munroe (1995) [45]. Trong những nghiên cứu này, các tác giả  cũng đã thành lập  khóa định loại cụ thể tới loài. 1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 14
  15. Một trong số  các tác giả  đầu tiên quan tâm đến khu hệ  côn trùng nước ở  Việt Nam là Lestage (1921, 1924). Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa   vào  mẫu   vật   được   lưu  giữ   ở   bảo  tàng  Paris.   Navás   (1922)   đã   mô   tả   2   loài,  Ephemera longiventris  và  E. innotata  [54]. Một số  loài thuộc bộ  Cánh úp được  miêu tả bởi Kawai (1968­1969), Zwick (1988) và Stark et al. (1999), nhưng tất cả  các miêu tả  này chỉ  dựa trên giai đoạn trưởng thành. Tác giả  người Việt Nam   đầu tiên có những nghiên cứu tạo nền tảng cho lĩnh vực côn trùng nước là Đặng   Ngọc Thanh (1967, 1980) [7].  Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera) Công trình nghiên cứu về  bộ  Phù du đầu tiên  ở  Việt Nam là của tác giả  Lestage (1921,1924). Ngay sau đó, Navás (1922) mô tả 2 loài  Ephemera longiventris  Navas và Ephemera innotata Navas, căn cứ vào mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt  Nam [52]. Tác giả  Việt Nam phải kể đến Đặng Ngọc Thanh (1980) với nghiên  cứu khu hệ  Động vật không xương sống Bắc Việt Nam, cũng mô tả  một loài  mới thuộc họ  Heptageniidae [7]. Theo Đặng Ngọc Thanh (1980) đã xác định khu  hệ Phù du ở Việt Nam có 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau. Đồng thời ông   cũng mô tả hai loài mới cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và  Neoephemeropsis cuaraoensis  Dang [7, 52]. Những nghiên cứu này đã cung cấp  những thông tin hữu ích góp phần mở  ra một thời kì mới cho các công trình   nghiên cứu về Phù thời gian sau. Những năm cuối thế  kỷ  XX, Tshernova (1972) mô tả  giống  Vietnamella   dựa vào loài chuẩn  Vietnamella thani  và công bố  thêm 1 loài mới là  Asiatella  (Ephemerellidae) với mẫu chuẩn là Asiatella fermorata. Braacsh và Soldan (1979,  1984, 1986, 1988, 1990) đã mô tả 10 loài mới thuộc họ Heptagenidae thu được từ  một số suối ở Việt Nam. Đặc biệt, Braacsh & Soldan (1988) đã phát hiện thêm 2  giống mới là Asionurus và Trichogeniella trong đó có 2 loài Asionurus primus và  Trichogeniella maxillaris, đến nay vẫn được xem là loài đặc hữu cho khu hệ Phù  du Việt Nam [54]. 15
  16. Sang thế kỷ XXI, việc nghiên cứu côn trùng bộ Phù du ở Việt Nam được  đẩy mạnh. Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi xây dựng khoá định loại  các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây  dựng khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du. Kết quả của công trình này là cơ sở  khoa học cho các nghiên cứu phân loại về  Phù du cũng như  việc sử  dụng đối  tượng này là sinh vật chỉ  thị  cho các thuỷ  vực nước ngọt  ở  Việt Nam. Nguyễn   Văn Vịnh  và Yeon Jae Bae (2003, 2004, 2005, 2006, 2008) đã tiến hành nghiên   cứu khu hệ  Phù du  ở  một số  Vườn quốc gia của Việt Nam đồng thời công bố  một số loài mới cho khoa học [3]. Theo Nguyễn Văn Vịnh (2003), khu hệ Phù du  Việt Nam gồm có 102 loài thuộc 50 giống và 14 họ [54]. Các công trình nghiên cứu mới đây đều tập trung vào khu hệ Phù du ở một   số Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn trong nước. Tiêu biểu như các nghiên cứu của   Nguyễn Văn Vịnh (2005), trong dẫn liệu bước đầu về  Phù du ở  Vườn quốc gia   Ba Vì, Hà Tây, đã xác định được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ, trong đó, có một   loài mới cho khoa học là Polyplocia orientalis [10].  Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự  (2007), trong kết quả  bước đầu điều tra  thành phần loài Phù du tại Vườn quốc gia Bi Doup ­ Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, đã   xác định được 48 loài thuộc  30 giống và 7 họ [11].  Nguyễn Văn Vịnh (2008), trong nghiên cứu về thành phần loài của  bộ Phù  du (Ephemeroptera)  ở  Vườn Quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên Huế,  đã xác định  được 56 loài thuộc  33 giống và 11 họ đồng thời các tác giả cũng nhận xét về sự  phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại khu vực nghiên cứu [12].  Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata) Bộ  Chuồn chuồn  ở  Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những   năm đầu của thập niên 90 dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà khoa học người   Pháp như Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động  vật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae,   16
  17. Aeshnidae và Agrionidae. Trong 139 loài, Martin đã mô  tả  9 loài mới và một   giống mới là  Merogomphus  [1, 5]. Tiếp đó, Asahina ­ thuộc bảo tàng Tự  nhiên  Tokyo (Nhật Bản) cũng là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ  Chuồn chuồn  ở  Việt Nam [1]. Năm 1996, ông đã cho công bố 84 loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở  miền   Nam   Việt   Nam.   Trong   tài   liệu   này,   tác   giả   đã   công   bố   một   loài   mới:  Chlogomphus   vietnamensis  Asahina,  thuộc  họ  Cordulegasteridae.  Cho  đến thời  điểm hiện tại, Asahina là người có nhiều công bố  hơn cả  về  khu hệ  Chuồn   chuồn ở nước ta [5]. Các tác giả  Việt Nam bao gồm Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự  (2001),   khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt   thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn.   Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở  Vườn quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ  của bộ  Chuồn   chuồn ở khu vực này. Nguyễn Thị Minh Huệ (2009) trong nghiên cứu khu hệ côn  trùng nước Vườn Quốc gia Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế xác định được 15 loài  thuộc 11 họ. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về  phân loại thiếu trùng chuồn chuồn  ở  Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ  phân loại đến bậc  giống. Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera) Về Cánh úp, chỉ có một số ít các công trình được tiến hành trước đây bởi   các nhà côn trùng học nước ngoài như Kawai (1968 ­ 1969), Zwick (1968), Stark  et  al.  (1999) [17]. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ  đưa ra các khóa phân loại   dựa trên dạng trưởng thành.  Năm 2001, Nguyen V. V et al. khi nghiên cứu về  nhóm côn trùng nước  ở  Vườn Quốc gia Tam Đảo đã ghi nhận sự có mặt của 12 loài Cánh úp thuộc 3 họ  [53]. Năm 2002, Cao Thị  Kim Thu đã công bố  dẫn liệu mô tả  50 loài thuộc 22   giống, 4 họ  ở  Việt Nam dựa trên những đặc điểm của cả  hai giai đoạn trưởng   17
  18. thành và thiếu trùng [17]. Năm 2007, Cao Thị Kim Thu công bố hai loài mới thuộc   họ Cánh úp lớn (Perlidae) cho khu hệ Cánh úp Việt Nam là Agnetina den Cao &  Bae, 2007 và Chinoperla rhododendroma Cao & Bae, 2007 [19]. Năm 2008, cũng  tác giả  này đã bổ  sung 1 loài mới cho khoa học và 1 loài lần đầu tiên ghi nhận   cho khu hệ động vật Việt Nam  từ những mẫu thu được từ Cao Bằng.  Cao Thị  Kim Thu (2009) [8], khi nghiên cứu thành phần loài họ  Perlidae  thuộc bộ  Cánh úp  ở  khu vực miền Trung Việt Nam từ  2004 đến 2008, đã xác  định được 22 loài thuộc 10 giống, trong đó có 4 loài mới là   Neoperla tamdao,  Tyloperla trui, Acroneuria bachma,  Chinoperla rhododendrona  và 4 loài lần đầu  ghi nhận cho khu hệ Việt Nam. Trong năm 2009, tác giả cũng mô tả thêm hai loài  nữa thuộc giống Acroneuria (Perlidae) và 1 loài thuộc giống Phanoperla [8]. Sivec & Stark (2010) đã công bố một số loài mới cho khu hệ Cánh úp Việt  Nam với 7 loài được mô tả  từ  Vườn Quốc gia Cát Tiên và Vườn Quốc gia Yok  Đon, 8 loài được mô tả   ở  hệ  thống suối  ở  Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Stark & Sivec   (2011) đã phát hiện 2 mẫu vật thuộc giống Neoperla có kích thước khác thường  so với những loài đã thu được trước đó tại Cao Bằng vào năm 2011 [70, 67, 68].  Từ  các mẫu vật thu thập được, tác giả  Cao Thị  Kim Thu (2011) đã tổng   hợp được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớn thuộc 13 giống ở Việt Nam. Do đó,   hiện nay đã có 48 loài mới cho khoa học được mô tả  từ  mẫu vật và có 55 loài  mới chỉ thấy ở Việt Nam mà chưa ghi nhận ở một nơi nào trên thế giới [9].   Gần đây nhất, Stark et al. (2012) đã ghi nhận 3 loài mới Rhopalopsole azun   (Gia Lai), R. minima (Nghệ  An) và R. sapa (Lào Cai), đồng thời cũng cung cấp  một khóa phân loại tới loài của giống này tại Việt Nam [75].  Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera) Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về  Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học như:  Đức (Ulmer, 1907),  Tây Ban Nha (Navás, 1913). Banks (1931) và Mosely (1934) [26] nghiên cứu về  Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae. Oláh (1987­1989) mô tả  18
  19. các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [26]. Sau đó,  May   (1995­1998)   và   Malicky   (1994,   1995,   1998),   mô   tả   các   loài   thuộc   Hydropsychoidae,   Phiolopotamoidae,   Leptoceroidae,   Sericostomatoidae,  Limnephiloidae,   Glossosomatoidae,   Hydroptiloidae   và   Rhyacopphiloidae   từ   các  mẫu vật thu được ở một số vùng ở nước ta. Malicky & Mey (2001) [26], mô tả 2  loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở  miền Bắc Việt Nam. Schefter & Johanson  (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche.  Tác giả  Việt Nam đầu tiên đưa ra hệ  thống khóa phân loại Cánh lông  ở  Việt Nam là Hoàng Đức Huy (2005) [26] với 198 loài (14 loài mới cho Việt Nam  và 25 loài mới được ghi nhận) thuộc 58 giống và 24 họ. Trong nghiên cứu này,  tác giả đã đưa ra những mô tả chi tiết đến các giống thuộc bộ Cánh lông ở Việt  Nam.  Hoang D. H. & Bae J. Y. (2006) đã có nghiên cứu so sánh mức độ đa dạng  côn trùng nước giữa suối Đắk Pri ở miền Nam Việt Nam với suối ở miền Trung   của Hàn Quốc, kết quả cho thấy bộ Cánh lông ở nước ta đa dạng hơn nhiều về  số lượng loài và họ [27].  Năm 2009, trong nghiên cứu về đa dạng côn trùng nước ở các Vườn Quốc   gia một số tác giả có đề cập tới thành phần loài Cánh lông tại đó như Hoàng Đức  Huy và cộng sự  nghiên cứu  ở Vườn Quốc gia Bi Doup­ Núi Bà tỉnh Lâm Đồng,   Nguyễn Văn Hiếu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Minh  Huệ ở Vườn Quốc gia Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế [3, 4]. Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)              Những nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở Việt Nam được biết đến đầu tiên  là vào khoảng đầu thế  kỷ  20 và chủ  yếu được tiến hành bởi các nhà khoa học   nước   ngoài   như   Lansbury   (1972,   1973),   Nieser   (2002,   2004),   Polhemus   &   Polhemus (1995, 1998) [2]… Những loài thuộc họ Gerridae đầu tiên được miêu tả  từ  Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903. Hai thập kỷ sau, China (1925)   mô tả  loài Gigantometra gigas, là loài có kích thước lớn nhất thuộc họ Gerridae.   19
  20. Năm 1996, Zettel & Chen đã có những dẫn liệu về họ Gerridae  ở Việt Nam, ghi  nhận tổng cộng khoảng 40 loài. Hecher (1997) công bố  2 loài mới: Pseudovelia   intonsa và P. pusilla, hiện chỉ tìm thấy ở Việt Nam [2].                  Các tác giả Việt Nam phải kể đến là Trần Anh Đức (2008) đã đưa ra  khóa định loại đến loài của họ  Gerridae, ghi nhận 64 loài thuộc 26 giống [77] .  Tiếp đó, Tran  et al.  (2010) đã bổ  sung thêm 3 loài cho Việt Nam:  Hydrometra  albolineata  Scott,  1874;  H.  jaczewskii  Lundblad,  1933  và  H.  ripicola  Andersen,  1992, đồng thời cũng cập nhật dẫn liệu mới về phân bố của 9 loài  Hydrometra ở  Việt Nam [2]. Những nghiên cứu này đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả  các loài mới, cũng như  xây dựng các khóa định loại đến loài của các giống, góp  phần làm cơ  sở  cho những nghiên cứu tiếp theo về  bộ  Hemiptera  ở  nước của   Việt Nam. Năm 2011, tác giả đã cung cấp danh sách loài Cánh nửa thuộc khu vực  đô thị  Hà Nội bao gồm 23 loài, 12 giống, 9 họ [78]. Đây là một nghiên cứu đầu  tiên cho khu hệ  Cánh nửa tại thủ  đô Hà Nội. Mới đây nhất, Tran & Polhemus   (2012) đã bổ  sung một loài  Gerris  mới từ  miền Nam Việt Nam đồng thời ghi  nhận sự  xuất hiện lần đầu tiên của hai loài G. latiabdominis và G. gracilicornis  từ khu vực phía tây bắc của đất nước. Trong đó cũng đưa ra một khóa phân loại  chi tiết cho 4 loài Gerris có mặt ở Việt Nam hiện nay [80]. Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, Hai cánh, Cánh vảy và Cánh rộng                Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai   cánh (Diptera), bộ  Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ  Cánh rộng (Megaloptera) còn  tản mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường  đi cùng với các công trình nghiên cứu về  khu hệ  côn trùng nước nói chung như:  Nguyễn Văn Vịnh (2001), Nguyễn Văn Hiếu (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia  Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008), Nguyễn   Thị Minh Huệ (2009) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã...                  1.3. Đa dạng sinh học ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2