ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Đình Phúc
XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BỤI PM10
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Đình Phúc
XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC BỤI PM10
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 608502
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Vũ Văn Mạnh
Hà Nội - Năm 2012
LỜI CẢM ƠN
Qua luận văn này, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo
khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ em trong thời gian học vừa
qua, giúp chúng em trưởng thành hơn trong cuộc sống.
Em xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Vũ Văn Mạnh, người đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động
viên và chia sẻ khó khăn cùng em trong quá trình học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2012
Học viên
Nguyễn Đình Phúc
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt ..................................................................................... i Danh mục bảng .............................................................................................. ii Danh mục hình .............................................................................................. iii LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 Chương 1 - TỔNG QUAN ........................................................................... 3 1.1. Hoạt động quan trắc môi trường .......................................................... 3 1.1.1. Một số khái niệm về quan trắc môi trường .................................... 3 1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển quan trắc môi trường .................. 4 1.2. Mạng lưới quan trắc môi trường .......................................................... 7 1.2.1. Khái niệm và tầm quan trọng của mạng lưới quan trắc môi trường7 1.2.2. Các nghiên cứu về thiết lập mạng lưới quan trắc môi trường ........ 9 1.2.3. Hiện trạng mạng lưới quan trắc môi trường ở Việt Nam ............. 11 1.3. Tổng quan về bụi PM10 ...................................................................... 14 1.3.1. Định nghĩa và đặc trưng của bụi PM10 ........................................ 14 1.3.2. Nguồn gốc của ô nhiễm bụi PM10 ............................................... 16 1.3.3. Tác hại của ô nhiễm bụi PM10 ..................................................... 17 1.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ...................................................... 18 1.3.1. Vị trí địa lý ................................................................................. 18 1.4.2. Điều kiện tự nhiên ...................................................................... 20 1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội ............................................................. 26 Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................................................................... 29 2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 29 2.2. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................... 29 2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 29 2.3.1. Phương pháp thu thập, kế thừa .................................................... 29 2.3.2. Phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích ................................... 29 2.3.3. Phương pháp nội suy .................................................................. 30 2.3.4. Phương pháp tối ưu bầy kiến ...................................................... 31 2.3.4. Thiết lập mạng lưới quan trắc trên cơ sở tối ưu hóa sai số nội suy bằng phương pháp tối ưu bầy kiến ........................................................ 35
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 38 3.1. Thiết lập mạng lưới quan trắc sơ bộ ................................................... 38 3.2. Đánh giá hiện trạng ô nhiễm bụi PM10 trong môi trường không khí tỉnh Vĩnh Phúc.......................................................................................... 39 3.2.1. Xây dựng biểu đồ về mức độ tập trung của hàm lượng bụi PM10 tại các điểm quan trắc. .......................................................................... 39 3.2.2. Nhận xét mức độ ô nhiễm bụi PM10 nói chung và tại từng điểm khảo sát (so sánh theo QCVN).............................................................. 40 3.3. Xây dựng bản đồ phân bố hàm lượng bụi PM10 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. ........................................................................................................ 40 3.4. Xây dựng thuật toán giải quyết vấn đề thiết lập mạng lưới các điểm quan trắc dựa trên phương pháp tối ưu bầy kiến ....................................... 43 3.5. Kết quả xác định mạng lưới quan trắc tối ưu nhất .............................. 50 3.6. So sánh kết quả nội suy của mạng lưới mới với mạng lưới quan trắc sơ bộ ............................................................................................................. 58 KẾT LUẬN ................................................................................................. 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 63 PHỤ LỤC.................................................................................................... 66
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIE Sai số nội suy trung bình
BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
ESCAP Ủy ban Kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dương
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
KH&CN Khoa hoc và công nghệ
KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
LĐLĐ Liên đoàn lao động
MT Môi trường
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QLMT Quản lý môi trường
QTMT Quan trắc môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình môi trường Liêp hợp quốc
WHO Tổ chức y tế thế giới
i
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1. Danh sách các trạm QTMT không khí tự động, cố định trên toàn
quốc 13
Bảng 2. tỷ lệ % của bụi PM10 theo kích thước 15
Bảng 3. tỷ lệ % cao lanh lắng đọng trong đường hô hấp 15
Bảng 4. tốc độ hút bụi của điện thế 3.000V 16
Bảng 5. Nguồn gốc và thành phần bụi tự nhiên 17
Bảng 6. Nguồn gốc và thành phần của bụi PM10 nhân tạo 17
Bảng 7. lượng mưa trung bình các tháng tỉnh Vĩnh Phúc 22
Bảng 8. phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2010 26
Bảng 9. các thông số sử dụng trong quá trình tính toán 49
Bảng 10. Kết quả các trạm quan trắc bị loại bỏ và giá trị AIE tương ứng 50
ii
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình1. Cơ cấu tổ chức mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia 12
Hình 2. bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc 19
Hình 3. sơ đồ thí nghiệm chiếc cầu đôi của Deneubourg 33
Hình 4. sơ đồ vị trí các điểm quan trắc bụi PM10 trong đề tài 38
Hình 5. biểu đồ phân bố nồng độ bụi PM10 (mg/m3) tại các điểm quan trắc
sơ bộ 39
Hình 6. bản đồ phân bố nồng độ bụi PM10 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 41
Hình 7. Sơ đồ đường đi của kiến 44
Hình 8. Tóm tắt sơ đồ thuật toán 48
Hình 9. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa sai số nội suy trung bình AIE
với số lượng các điểm quan trắc bị loại bỏ 55
Hình 10. Sơ đồ biểu diễn kết quả đường đi tối ưu của đàn kiến với chỉ số
AIE thấp nhất 56
Hình 11. Sơ đồ mạng lưới phân bố 16 điểm quan trắc tối ưu nhất trong
mạng lưới quan trắc mới 57
Hình 12. so sánh kết quả nội suy từ mạng lưới 60 điểm quan trắc sơ bộ
ban đầu với mạng lưới quan trắc tối ưu mới 58
Hình 13. Contour kết quả nội suy từ mạng lưới 60 điểm quan trắc sơ bộ
ban đầu với mạng lưới quan trắc tối ưu mới 59
iii
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của kinh tế và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong
những năm qua ở Việt Nam đã tạo tiền đề thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế của các khu vực từ thuần nông sang kinh tế công nghiệp, thương mại - dịch
vụ và nông nghiệp. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển kinh tế là những áp lực về
tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng, diễn biến phức tạp và là một trong những
nguyên nhân dẫn đến suy giảm chất lượng cuộc sống của cộng đồng trong những
năm gần đây. Sự suy giảm chất lượng các thành phần môi trường một cách đáng
báo động trong đó có chất lượng môi trường không khí cùng với những yếu kém và
hạn chế trong hoạt động quan trắc hiện nay đã đặt ra những yêu cầu ngày càng cao
hơn đối với công tác quan trắc môi trường. Trước thực tế đó, một trong những yêu
cầu quan trọng hàng đầu hiện nay là bổ sung và thiết lập lại mạng lưới các điểm
quan trắc một cách hợp lý để đạt được hiệu quả quan trắc tối ưu.
Là một tỉnh nằm trên đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng thuộc đồng bằng
Bắc Bộ, Vĩnh Phúc là một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh nhất của Việt Nam. Từ một tỉnh thuần nông, Vĩnh Phúc đã có những bước
tiến thần kỳ vươn lên đứng thứ nhất miền Bắc, thứ ba cả nước về giá trị sản xuất
công nghiệp, phát triển rộng rãi hệ thống các khu và cụm công nghiệp . Sự thay đổi
nhanh chóng đó đã làm thay đổi tích cực giá trị kinh tế của vùng, tuy nhiên nó cũng
kéo theo nhiều hệ lụy về mặt xã hội và môi trường; trong đó, có một thực tế quan
trọng và rất đáng lưu tâm là sự suy giảm chất lượng môi trường không khí đang ở
mức báo động.
Theo thống kê và khảo sát sơ bộ, môi trường đô thị và khu công nghiệp trong
vùng có tốc độ ô nhiễm ngày một cao, đặc biệt là ô nhiễm bụi. Nguyên nhân là do
các khu vực xây dựng chưa có biện pháp giảm bụi, chưa áp dụng chặt chẽ các quy
định trong xây dựng; chất lượng các phương tiện giao thông kém, chưa có cơ chế
kiểm soát dẫn đến gây bụi và tiếng ồn ngày càng nhiều; các khu công nghiệp chưa
có hệ thống xử lý khí thải, bụi thải triệt để, cơ sở hạ tầng yếu kém, số lượng các cơ
1
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
sở sản xuất tăng nhanh, việc chấp hành các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường
của các đơn vị sản xuất chưa cao...
Môi trường nông thôn đặc biệt, các làng nghề ngày càng phát triển, gây ô
nhiễm ngày càng rộng cũng như sự gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm thải vào
môi trường không khí.
Mặt khác, mạng lưới các trạm quan trắc hiện nay ở Việt Nam nói chung và
Vĩnh Phúc nói riêng thường chỉ được xây dựng theo kinh nghiệm, tại khu vực dân
cư phân bố đông hay địa hình... Vì vậy, mạng lưới phân bố cũ này chưa có tính hệ
thống và khoa học. Việc quan trắc chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đo đạc một số thông
số khí tượng và môi trường; số lượng trạm quan trắc không đủ khả năng phản ánh
hiện trạng ô nhiễm của vùng (đặc biệt là ô nhiễm bụi). Nói chung, hệ thống các trạm
quan trắc môi trường hiện tại của vùng vừa thiếu lại phân bố chưa hợp lý, chưa đáp
ứng được những thay đổi về yêu cầu của hoạt động quan trắc trong giai đoạn hiên
nay.
Trước những yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu:
"Xây dựng mạng lưới quan trắc bụi PM10 tỉnh Vĩnh Phúc".
2
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1. Hoạt động quan trắc môi trường
1.1.1. Một số khái niệm về quan trắc môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường 2005, quan trắc môi trường là quá trình theo
dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động đến môi trường nhằm cung cấp
thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác
động xấu đối với môi trường[11].
Ngoài ra, còn có nhiều khái niệm về quan trắc môi trường, chẳng hạn, theo
ESCAP (Ủy ban Kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dương),1994 thì quan trắc môi
trường chỉ một quy trình lặp đi lặp lại các hoạt động quan sát và đo lường một hay
nhiều thông số chất lượng môi trường, để có thể quan sát được những thay đổi diễn
ra trong một khoảng thời gian.
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm:
- Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô
quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường.
- Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng
trọng điểm được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường.
- Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy
thoái môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ,
cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế[7].
Các nội dung của quan trắc môi trường:
3
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Nhiệm vụ hàng đầu của quan trắc môi trường là đáp ứng nhu cầu thông tin
trong quản lý môi trường, do đó có thể xem QTMT là một quá trình bao gồm các
nội dung sau đây:
- Quan trắc môi trường sử dụng các biện pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật
và quản lý tổ chức nhằm thu thập thông tin: mức độ, hiện tràng, xu thế biến động
chất lượng môi trường.
- Quan trắc môi trường phải được thực hiện bằng một quá trình đo lường, ghi
nhận thường xuyên và đồng bộ chất lượng môi trường và các liên quan đến chất
lượng môi trường (UNEP).
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển quan trắc môi trường
1.1.2.1. Hoạt động quan trắc môi trường trên thế giới
Ngay khi thành lập (1972), UNEP đã khởi xướng hệ thống quan sát trái
đất (Earthwatch). Từ năm 1973, một nhánh của Earthwatch cùng với tổ chức Y
tế thế giới (WHO), tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thiết lập hệ thống giám sát
môi trường toàn cầu GEMS (Global Environmental Monitoring System). GEMS có
mục tiêu thu thập các thông tin môi trường nền của thế giới và khu vực bao gồm các
thông tin về môi trường nước, không khí và thực phẩm.
Cũng trực thuộc GEMS còn có GEMS/Air (chương trình quan trắc và đánh
giá ô nhiêm không khí đô thị) do WHO điều hành trực tiếp. Tính từ 1973 - 1997,
GEMS/Air Network gồm 270 điểm ở 86 thành phố thuộc 45 quốc gia. Mạng lưới
trạm này được phân bố trên các thành phố lớn trên toàn thế giới với nhiệm vụ thu
thập và đánh giá chất lượng không khí tại khu vực đô thị. Các trạm quan trắc được
vận hành bởi chính quyền thành phố hay quốc gia ở các nước công nghiệp và đang
phát triển. Các số liệu thu thập được đưa vào ngân hàng dữ liệu tại Cục Môi trường
Mỹ (US.EPA) tại bang Carolina. Các số liệu sau khi được xử lý được in định kỳ
(WHO/UNEP / 1984-1988) [10].
4
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Đến năm 1996, WHO phát triển hệ thống thông tin quản lý không khí (Air
Management Information System, AMIS) kế tục GEMS/Air.
Từ 1989, chương trình theo dõi khí quyển toàn cầu GAW (thuộc tổ chức khí
tượng thế giới WMO) đã nghiên cứu phát triển mạng lưới quan trắc các tác nhân
ảnh hưởng tới chất lượng không khí và khí quyển toàn cầu. Tiền thân của GAW bắt
đầu từ cuối những năm 1960 khi mạng lưới quan trắc ô nhiễm không khí nền
(Background Air Pollution Monitoring Network - BAPMoN) được thành lập bởi
WMO. Đến năm 1989, BAPMoN hợp nhất với hệ thống quan trắc ozon toàn cầu
(Global Ozone Observing System) thành chương trình theo dõi khí quyển toàn cầu
(Global Atmosphere Watch - GAW).
Mục tiêu của GAW là quan trắc sự biến đổi dài hạn thành phần khí quyển ở
quy mô toàn cầu và khu vực nhằm đánh giá sự đóng góp vào biến đổi khí hậu và
các vấn đề môi trường. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) phối hợp và đánh giá các
đo đạc hóa học khí quyển và các thông số vật lý liên quan đến sự biến đổi khí hậu
(các khí nhà kính, ozone và các aerosol); (2) đánh giá ảnh hưởng của hóa học khí
quyển lên môi trường, bao gồm sự ô nhiễm đô thị và ô nhiễm xuyên biên giới (chất
lượng không khí, mưa acid, suy giảm tầng ozone bình lưu và gia tăng bức xạ UV).
Mạng lưới trạm của GAW bao gồm: (1) 22 trạm toàn cầu đặt tại những nơi
có nồng độ nền các chất ô nhiễm thấp, đại diện cho các khu vực địa lý rộng lớn,
thường sử dụng cho mục đích nghiên cứu sự thay đổi khí hậu và suy giảm tầng
ozone; (2) khoảng 400 trạm khu vực, thường đo đạc liên quan đến các vấn đề mang
tính khu vực như: mưa acid, vận chuyển các chất khí và aerosol lượng vết, bức xạ
UV cục bộ; (3) và các trạm cộng tác hay liên kết.
Ngoài các tổ chức trên, còn có các định chế quốc tế khác về quan trắc môi
trường như: IGBP (International Geosphere-Biosphere Programme) - chương trình
Địa-Sinh quyển quốc tế; hay IPCC (Intergovernmental Panel on Climate change) -
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu.
5
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Tại các quốc gia phát triển, cùng với Mỹ, CHLB Đức chịu những hậu quả
nghiêm trọng về môi trường do kinh tế phát triển. Tuy nhiên, chính điều đó đã tạo
nên 2 nước có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực nghiên cứu và triển khai công tác
bảo vệ môi trường. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến để giảm thiểu chất thải đã
được hai quốc gia trên tiến hành từ nhiều năm nay, trong đó có rất nhiều các mạng
lưới quan trắc môi trường với số liệu thu thập từ hàng chục năm nay.
Tại Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia có hệ thống quan trắc môi trường
phát triển mạnh và sớm nhất. Hiện nay, cơ quan quản lý môi trường Quốc gia Thái
Lan điều hành hoạt động các trạm quan trắc và phân tích môi trường cấp Trung
ương. Hiện tại, Bangkok có 8 trạm quan trắc chất lượng không khí cố định, tự động,
Samuttprakarn có 4 trạm, 2 trạm di động quan trắc tại nhiều thành phố khác và vùng
bờ biển phía Đông. Các thông số quan trắc tự động liên tục bao gồm: SO2, NO2,
HC, O3. Các mẫu khí được lấy theo thời gian 3 ngày một lần để phân tích trong
phòng thí nghiệm các thông số: Chì (Pb) và bụi PM10 [12].
Hiện tại, việc đánh giá chất lượng môi trường không khí đã có nhiều bước
tiến đáng kể, công tác quan trắc đã được cải thiện nhiều hơn với các ứng dụng khoa
học công nghệ mới và cả công nghệ thông tin. Nhiều mạng lưới các trạm tự động đã
được nhiều nước công nghiệp phát triển ứng dụng để tăng sự chính xác và sự liên
tục theo không gian và thời gian. Các thiết bị hiện đại và tự động toàn bộ trong thu
mẫu, phân tích và kể cả truyền số liệu về trung tâm nghiên cứu. Mặc dù vậy, chi phí
cho các hệ thống này khá lớn và cũng chỉ mới áp dụng ở diện hạn chế nhất định về
không gian hoặc theo nhu cầu cụ thể, trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên. Các tổ
chức về bảo vệ môi trường cũng khuyến các việc sử dụng này cần có sự phối hợp
quốc gia, khu vực và toàn cầu để đảm bảo tính kinh tế và khoa học.
1.1.2.1. Hoạt động quan trắc môi trường ở Việt Nam
Tại Việt Nam, hoạt đông quan trắc môi trường được bắt đầu từ khá sớm,
ngay từ năm 1902, toàn quyền Đông Dương đã cho thành lập Đài quan sát Từ
trường và Khí tượng Phủ Liễn (Hải Phòng); khởi đầu xây dựng mạng lưới khí tượng
6
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
thủy văn. Đến năm 1939, đã có 54 trạm khí tượng và 56 trạm thủy văn được xây
dựng.
Đến năm 1985, ra nghị quyết 246/HĐBT ngày 20/09/1985 của Hội đồng Bộ
trưởng về việc đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường.
Năm 1994, sau khi luật BVMT được ban hành, Việt Nam bắt đầu hình thành
hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường Quốc gia, phục vụ các báo cáo hiện trạng
môi trường.
Ngày 29/01/2007, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 16/2007/QĐ-TTG
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan
trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020”. Theo đó, mục tiêu tổng quát
của hoạt động quan trắc đến năm 2020 là xây dựng mạng lưới quan trắc tài nguyên
và môi trường quốc gia bảo đảm thống nhất trên phạm vi cả nước, đồng bộ, tiên tiến
và từng bước hiện đại, đáp ứng nhu cầu thu thập và cung cấp thông tin, số liệu điều
tra cơ bản về môi trường, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, phục vụ có hiệu quả
cho công tác xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường, dự báo, cảnh báo, phòng, tránh,
giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, phát triển mạnh và bền vững kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.2. Mạng lưới quan trắc môi trường
1.2.1. Khái niệm và tầm quan trọng của mạng lưới quan trắc môi trường
Mạng lưới quan trắc môi trường là một hệ thống các điểm quan trắc được
thiết lập dựa vào mối liên kết các loại số liệu đo đạc về mặt thống kê và không gian
phân bố, đảm bảo khả năng phản ánh chính xác hiện trạng môi trường cho toàn bộ
khu vực nghiên cứu.
Các yêu cầu trong thiết kế mạng lưới quan trắc môi trường bao gồm:
7
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
- Thiết kế mạng lưới QTMT phải được một nhóm chuyên gia có kiến thức đa
ngành thực hiện. Thiết kế mạng lưới cần xác định thông số nào phải quan trắc, quan
trắc ở địa điểm nào và với tần suất là bao nhiêu. Trong thiết kế mạng lưới cũng cần
đề cập đến việc sử dụng các phươn pháp lấy mẫu, các phương pháp phân tích trong
phòng thí nghiệm và các phương pháp xử lý số liệu.
- Cần đặc biệt quan tâm tới việc ứng dụng thống kê trong thiết kế mạng lưới.
Việc sử dụng thống kê học có thể làm giảm tối thiểu các địa điểm thông qua mối
tương quan giữa các trạm. Thống kê học cũng là cơ sở để chọn lựa giữa hai phương
án: nhiều địa điểm với tần suất thấp hoặc ít địa điểm với tần suất cao.
- Một vấn đề quan trọng trong thiết kế mạng lưới QTMT là xác định tính
hiệu quả của thông tin nhận được từ mạng lưới. Cần có sự hiểu biết chi tiết về chi
phí và hiệu quả của mạng lưới đã thiết kế.
- Thiết kế mạng lưới phải được tài liệu hóa bằng một văn bản. Văn bản này
phải được chuyển tới những người phụ trách và quản lý chiến lược quan trắc quốc
gia. Từ văn bản này, họ sẽ rút ra kết luận là mạng lưới quan trắc có nằm trong chiến
lược và mục tiêu quan trắc hay không.
Quản lý môi trường là công việc cần thiết trong quản lý môi trường ở tất cá
các quy mô: từ địa phương đến toàn cầu. Thông thường, mạng lưới QTMT không
khí sẽ giám sát chất lượng của một loạt các chỉ tiêu, với độ chính xác cao, theo các
tiêu chuẩn và quy định của từng địa phương, quốc gia; với phương pháp truyền
thống là lấy mẫu xác định các chỉ tiêu quan trắc tại các điểm quan trắc theo quy
định; tuy nhiên việc này bị ràng buộc bởi vấn đề kinh tế và những quy định của
từng địa phương. Vì vậy, điểm quan trọng nhất khi thiết kế mạng lưới phân bố các
điểm quan trắc là đảm bảo sự tối ưu về mặt kinh tế (số lượng trạm quan trắc) cũng
như đảm bảo tính đại diện cao của số liệu quan trắc. Chính vì vậy, bài toán xác định
số lượng và vị trí phân bố các điểm quan trắc tối ưu là mục tiêu hàng đầu trong kế
hoạch thiết lập hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường.
8
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
1.2.2. Các nghiên cứu về thiết lập mạng lưới quan trắc môi trường
a) Các nghiên cứu trên thế giới
Cùng với sự phát triển kinh tế và các vấn đề môi trường, việc xây dựng mạng
lưới quan trắc chất lượng môi trường đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với tất cả
các quốc gia. Những nghiên cứu về vấn đề này không chỉ là mối quan tâm của các
nước phát triển mà ngày nay, nó cũng đã trở thành mối quan tâm của tất cả các quốc
gia. Các nghiên cứu về thiết lập mạng lưới QTMT có thể liệt kê ra như:
Tại tham luận tại Hội thảo trao đổi kỹ thuật phân tích dữ liệu không gian của
Cục Môi trường Mỹ, tháng 12/2001, các tác giả Paul D. Sampson, Peter Guttorp và
David M.Holland ở Đại học Washington và Cục Môi trường Mỹ đã sử dụng phương
pháp tối ưu Pareto cho tiếp cận đa mục tiêu kết hợp với cải tiến công nghệ tính toán
thiết kế mạng lưới quan trắc chất lượng không khí[19].
Năm 2001, các tác giả Saisana M., Sarigiannis D., Chaloulakou A., Spyrellis
N., đã sử dụng các phương pháp xác định địa điểm, khoanh định sử dụng thông tin
khí tượng, bản đồ chất lượng không khí, các mô hình nhân khẩu học và bản đồ sử dụng đất ở độ phân giải 1x1km2 cho vùng nghiên cứu để tối ưu hóa mạng lưới quan
trắc bụi PM2,5[20].
Năm 2004, trong luận án tiến sỹ của mình, Sóren Lophaven đã áp dụng địa
thống kê, thống kê không gian - thời gian và các phương pháp thiết kế dựa vào địa
thống kê cho vấn đề "Phân tích và Thiết kế các chương trình quan trắc môi
trường"[21].
Năm 2006, Yuanhai Li và Amy B. Chan Hilton đã sử dụng phương pháp tối
ưu bầy kiến với mục đích tối ưu hóa lại mạng lưới các điểm quan trắc nước ngầm
sẵn có. Nghiên cứu đã chỉ ra các mức độ tối ưu khác nhau cho việc rút gọn từng số
lượng điểm quan trắc ở một địa điểm trên lý thuyết[23].
9
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Các tác giả Antonio Lozano, Jose Usero, Eva Vanderlinden, Juan Raez Juan
Contreras, Benito Navarrete và Hicham El Bakouri trong nghiên cứu "Thiết kế
mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường không khí thành phố Seville, Tây Ban
Nha (nghiên cứu điển hình cho NO2 và O3)" đã sử dụng tiếp cận 4 bước gồm: (1) sơ
bộ đánh giá, (2) lấy mẫu khuếch tán thụ động, (3) nội suy không gian, (4) lựa chon
địa điểm tốt nhất cho các trạm quan trắc[18].
Tại hội thảo thông tin môi trường ở Đại học Berlin (Đức), các tác giả Vũ
Văn Mạnh và Bùi Phương Thúy đã trình bày tham luận về việc ứng dụng thống kê
địa lý và phân nhóm trong thiết kế và tối ưu hóa mạng lưới quan trắc môi trường
tỉnh Hải Dương, Việt Nam[22].
Các tác giả Abdullah Mofarrah, Tahir Husain (năm 2010), đã áp dụng
phương pháp tiếp cận tổng thể cho thiết kế tối ưu việc mở rộng mạng lưới quan trắc
chất lượng không khí cho một khu vực đô thị[17].
b) Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các mạng QTMT không khí được thiết lập chủ yếu dựa trên
kinh nghiệm, và theo quy tắc qua thử nghiệm và rút tỉa khuyết điểm để chỉnh sửa,
bổ sung lại cho hợp lý; ngoài ra còn dựa vào các chỉ tiêu như mật độ dân số, địa
hình, các điều kiện phát triển kinh tế xã hội riêng của toàn khu vực. Và một điều
không kém phần ảnh hưởng là việc xây dựng các hệ thống mạng lưới quan trắc phụ
thuộc quá nhiều vào điều kiện kinh tế, vào mức chi ngân sách; điều này ảnh hưởng
không nhỏ tới hiệu quả quan trắc của mạng lưới.
Tuy nhiên, cũng phải kể đến một số nghiên cứu thiết lập mạng lưới quan trắc
được xây dựng rất công phu và khoa học như đề tài thiết lập mạng lưới QTMT tỉnh
Kon Tum của Khoa Môi trường - trường DH KHTN - ĐH Quốc gia Hà Nội năm
2002. Trong đó, đề tài đã xác định khoảng cách tối ưu giữa các điểm quan trắc dựa
trên tính khả biến nồng độ tương đối tổng cộng của các yếu tố môi trường tại khu
10
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
vực nghiên cứu. Tính khả biến này được đánh giá bằng hàm cấu trúc không
gian[15].
Các nghiên cứu trong luận án Phó tiến sỹ của Nguyễn Hồng Khánh, trường
Đại học xây dựng Hà Nội[10] và luận văn thạc sỹ ngành Công nghệ môi trường của
Nguyễn Anh Hiếu, trường Đại học bách khoa Hà Nội đều sử dụng phương pháp
đánh giá hiện trạng và dự báo tình trạng ô nhiễm để thiết lập mạng lưới QTMT
không khí cho các khu vực khác nhau.
Năm 2011, các tác giả Trần Thanh Bình, Vũ Văn Mạnh đã sử dụng phương
pháp cực tiểu biến phân để tối ưu hóa mạng lưới quan trắc môi trường không khí
tỉnh Quảng Ninh.
1.2.3. Hiện trạng mạng lưới quan trắc môi trường ở Việt Nam
Tại Việt Nam, trách nhiệm thực hiện quan trắc môi trường của các đơn vị
thực hiện quan trắc được chia ra như sau:
- Quan trắc hiện trạng môi trường quốc gia: Bộ TNMT
- Quan trắc các tác động đối với môi trường từ hoạt động ngành, lĩnh vực:
các bộ, ngành liên quan
- Quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
UBND cấp tỉnh
- Quan trắc các tác động xấu từ hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung: người quản lý, vận hành.
- Mạng lưới quan trắc môi trường Quốc gia
Từ năm 1993, sau khi luật BVMT được ban hành, Bộ KHCN&MT đã tiến
hành xây dựng mạng lưới QTMT quốc gia. Các trạm QTMT quốc gia được xây
dựng trên cơ sở phối hợp giữa Bộ KHCN&MT với các cơ quan nghiên cứu, phòng
thí nghiệm đang hoạt động của các Bộ, ngành và địa phương (gồm Bộ GD&ĐT, Bộ
Quốc phòng, Viện KH&CN Việt Nam, Bộ KH&CN, Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Tổng
LĐLĐ Việt Nam và tỉnh Lào Cai) [1].
11
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Quá trình xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường ở Việt Nam được tăng
cường dần theo thời gian. Về số lượng các trạm quan trắc, năm 1995, Cục Môi
trường (trước đây) đã có thể thực hiện được kế hoạch quan trắc môi trường Quốc
gia đầu tiên với 7 trạm tham gia. Đến năm 1996, đã có 13 trạm được xây dựng, năm
2007 là 17 trạm, năm 1998 là 18 trạm và đến 2002 đã có 21 trạm quan trắc được
thiết lập trong mạng lưới quan trắc môi trường Quốc gia.
Ngày 29/01/2007, chính phủ ban hành quyết định số 16/2007/QĐ-TTg phê
duyệt "Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc TNMT quốc gia đến năm 2020".
Theo đó, mạng lưới QTMT Quốc gia được chia thành 2 mạng lưới: (1) mạng lưới
QTMT nền và (2) mạng lưới QTMT tác động.
- Mạng lưới quan trắc môi trường nền: hiện nay, Trung tâm Khí tượng Thủy
văn Quốc gia và Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được Bộ TNMT giao
nhiệm vụ QTMT nền trực tiếp.
- Mạng lưới QTMT tác động được xây dựng dựa trên nguyên tắc kế thừa các
trạm, điểm QTMT đã có thuộc mạng lưới QTMT quốc gia trước đây do Tổng cục
môi trường quản lý, và một số trạm, điểm QTMT do Trung tâm Khí tượng Thủy
văn Quốc gia và Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam quản lý thực hiện. Cũng
theo QĐ16, Trung tâm QTMT, Tổng cục Môi trường được xác định là trung tâm
đầu mạng, thực hiện vai trò chỉ huy, điều hành của toàn mạng lưới (hình 1)[14]
Tổng cục môi trường
Hình1. Cơ cấu tổ chức mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia
12
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Trung tâm đầu mạng - Tổng cục môi trường có chức năng lập kế hoạch xây
dựng, phát triển mạng lưới QTMT Quốc gia, lập kế hoạch QTMT hàng năm, quản
lý kinh phí QTMT toàn quốc, quản lý hoạt động mạng lưới trạm toàn quốc, thu
nhận, quản lý và lưu trữ dữ liệu QTMT toàn quốc.
Các trạm quan trắc và phân tích môi trường vùng thực hiện quan trắc ở vùng
lãnh thổ đất liền hay biển, hỗ trợ kỹ thuật các trạm địa phương trong vùng, hỗ trợ
hoạt động các Sở trong vùng, tổng hợp kết quả quan trắc định kỳ báo về Tổng cục
môi trường.
Các trạm quan trắc và phân tích môi trường địa phương tiến hành quan
trắc trong phạm vi lãnh thổ địa phương, định kỳ báo cáo kết quả cho các trạm
vùng để tập hợp báo cáo về Tổng cục môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi
trường địa phương. Các trạm quan trắc và phân tích môi trường chuyên đề thực
hiện quan trắc một số thành phần môi trường đặc biệt, ví dụ: quan trắc nền, quan
trắc mưa axit, quan trắc ô nhiễm công nghiệp, ô nhiễm nông nghiệp, phóng
xạ…Các phòng thử nghiệm môi trường thực hiện kiểm chuẩn thiết bị và phương
pháp quan trắc.
Bảng 1. Danh sách các trạm QTMT không khí tự động, cố định trên toàn quốc[7]
Tỉnh/TP đặt trạm
Số trạm do Bộ TNMT quản lý Tổng cục MT Số trạm do các Sở TNMT quản lý
Hà Nội Hải Phòng Ninh Bình Nghệ An Đà Nẵng TP. Hồ Chí Minh Gia Lai Cần Thơ Sơn La Tổng cộng 3 1 1 5 Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia 2 1 1 1 1 1 1 1 1 10 2 9 11
13
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
- Mạng lưới QTMT ở các Bộ, ngành
Thực hiện Luật BVMT 2005, Quyết định 16 và các Nghị định, Thông tư
hướng dẫn liên quan, phần lớn các địa phương đã thành lập đơn vị trực thuộc Sở
TNMT thực hiện chức năng QTMT, theo dõi và giám sát chất lượng môi trường
không khí và nước trên địa bàn của địa phương mình. Đến cuối năm 2010, trên toàn
quốc đã có 40 địa phương thành lập Trung tâm Quan trắc môi trường[14].
Tuy nhiên, mức độ đầu tư và hiệu quả hoạt động của các đơn vị này tại các
địa phương có sự khác biệt lớn. Một số địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Bình Dương, Đà Nẵng… do có nguồn ngân sách dồi dào và hỗ trợ kinh phí của các
dự án, tổ chức trong và ngoài nước nên nguồn lực tài chính, trang thiết bị, và nguồn
nhân lực đã được quan tâm đầu tư, phát triển khá mạnh. Trong khi đó, tại nhiều địa
phương khác, việc đầu tư các nguồn lực cho hoạt động QTMT chưa được quan tâm,
chú ý đúng mức. Một số địa phương có những vấn đề nóng về môi trường như Lâm
Đồng, Đăk Nông, An Giang, Lào Cai, Phú Thọ, Ninh Thuận cũng đã và đang xây
dựng các dự án đầu tư tăng cường năng lực QTMT.
Ngoài mạng lưới QTMT của ngành TNMT Quốc gia và địa phương, một số
Bộ, ngành khác (như Bộ KH&CN, bộ NN&PTNT, Bộ Quốc phòng…) cũng tiến
hành quan trắc một số thành phần MT để đánh giá tác động MT do hoạt động của
ngành, lĩnh vực mình quản lý theo quy định tại điều 94 của luật BVMT năm 2005;
phục vụ yêu cầu quản lý MT của Bộ, ngành mình[14].
1.3. Tổng quan về bụi PM10
1.3.1. Định nghĩa và đặc trưng của bụi PM10
a) Định nghĩa PM10
Bụi là một tập hợp nhiều hạt rắn, có kích thước khác nhau tồn tại lâu trong
không khí. Tính chất của bụi được quyết định bởi thành phần hóa học và kích thước
hạt bụi.
14
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Bụi có đường kính động học lớn hơn 10m, thường rơi nhanh xuống đất theo
định luật Niutơn với tốc độ tăng dần. Bụi có đường kính động học từ 0,001-10m
hay gọi tắt là bụi PM10 chuyển động theo kiểu Brao hoặc rơi xuống đất với vận tốc
không đổi theo định luật Stock [13]. PM10 được phân loại thành 2 loại theo đường
kính khí động học:
- Bụi thô PM2,5-10: là bụi có đường kính khí động học từ 2,5-10m
- Bụi mịn PM2,5: là bụi có đường kính khí động học nhỏ hơn 2,5m.
b) Đặc trưng của PM10
- Tính chất phân tán: phân tán là tỷ lệ phân bố của hạt bụi theo cấp hạt trong
không khí. Tính chất phân tán phụ thuộc và trọng lượng hạt bụi và sức cản của
không khí. Bảng 2 giới thiệu mức độ phân tán của một số loại bụi trong sản xuất
[13].
Bảng 2. tỷ lệ % của bụi PM10 theo kích thước [13]
Hoạt động Tiện Phay Mài Loại bụi Gỗ Kim loại Đá < 2 m 48 37 62 2-5 m 20,0 31,5 2,5 5-10 m 20,0 9,5 10,0
Bảng 3. tỷ lệ % cao lanh lắng đọng trong đường hô hấp [13]
% lắng đọng trong phế bào 34,5 50,5 34,8 25,9 9,8 47,8 63,5 68,5 71,7 92,3 Kích thước (m) % lắng đọng chung % lắng đọng ở đường hô hấp 9,2 16,5 26,5 46,5 82,7 Tùy theo mức độ phân tán của bụi, sự lắng đọng của bụi khác nhau ở các bộ 0,5 0,9 1,3 1,6 5,0
phận của cơ quan hô hấp. Bảng 1.2 giới thiệu sự lắng đọng của bụi cao lanh trên
đường hô hấp theo Paul, Hatch, 1956 [13]. Số liệu trong bảng cho thấy % bụi lắng
15
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
đọng ở đường hô hấp tăng theo kích thước hạt bụi, còn bụi lắng đọng ở phế bào
thường là những hạt bụi có kích thước dưới 2.
- Tính chất lắng bụi do nhiệt
Nếu cho PM10 chuyển động từ một ống có nhiệt độ cao sang một ống có
nhiệt độ thấp hơn nhiều sẽ có hiện tượng phần lớn PM10 lắng đọng trên bề mặt ống
lạnh hơn. Hiện tượng này là do sự trầm lắng của các hạt bụi bởi sự giảm tốc độ
chuyển động của phân tử khí do ảnh hưởng của nhiệt độ
- Tính chất nhiễm điện của hạt bụi: nhờ kính hiển vi, các nghiên cứu đã xác
đinh được điện tích của hạt bụi. Bụi đặt trong điện thế 3000V sẽ bị hút với tốc độ
khác nhau tùy theo kích thước hạt bụi. Do đó, khi thiết kế một số hệ thống xử lý
bụi, phân tích bụi bằng tĩnh điện luôn phải lưu ý đến kích thước hạt bụi
Bảng 4. tốc độ hút bụi của điện thế 3.000V [13]
Đường kính (m) 100 10,0 1,00 1,10 Tốc độ (cm/s) 885 88,5 8,85 0,88
- Tính chất cháy nổ: bụi càng nhỏ thì diện tích tiếp xúc với ôxy càng lớn thì
hoạt tính hóa học càng mạnh và càng dễ bốc cháy, dễ gây nổ.
1.3.2. Nguồn gốc của ô nhiễm bụi PM10
- Nguồn gốc tự nhiên: đây là nguồn bụi do các hiện tượng thiên nhiên như
núi lửa, động đất, cháy rừng, bão bụi, bụi biển, các quá trình phát tán của phấn hoa,
bào tử, len, lông động vật.
Bảng 5. Nguồn gốc và thành phần bụi tự nhiên [9]
Nguồn gốc Núi lửa Thành phần chính CO2, CO, SO2 và các dẫn xuất của S,
16
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Hô hấp của sinh vật Nhiên liệu hóa thạch Thực vật, vi khuẩn Sương mù biển, vi khuẩn Thiên thạch Xâm thực do gió Cháy rừng Kim loại nặng-khoáng CO2 SO2 và các dẫn xuất của S Hydrocarbure, phấn hoa, bào tử SO2, các dẫn xuất của S, dẫn xuất của N Kim loại nặng - khoáng Kim loại nặng - khoáng Hợp chất hữu cơ tự nhiên
- Nguồn gốc nhân tạo của PM10 : nguồn phát sinh nhân tạo bụi PM10 rất đa
dạng, phức tạp và có thể chia ra nhiều loại khác nhau, tóm tắt theo bảng 1.5 sau:
Bảng 6. Nguồn gốc và thành phần của bụi PM10 nhân tạo [3]
Dạng bụi Bụi tro, bồ hóng
Nguồn gốc Sản xuất năng lượng Chế biến than Luyện kim Bụi than Bụi lò
Bụi công nghiệp
Bụi khoáng Thành phần chính SiO2, 2CaO.SiO2, CaO, CaSO4, CaCO3, C, Ca(AlO2)2 C, bụi than cốc Ôxit kim loại, kim loại, phụ gia, bụi quặng Sunfat, clorit, phôtphat, Ca, ôxit kim loại, nhựa Xi măng, cao lanh, bụi xỉ
Bụi thủy tinh
Công nghiệp hóa chất Công nghiệp xây dựng Công nghiệp thủy tinh Giao thông Bụi đường phố
Nông nghiệp Công nghiệp gỗ Công nghiệp dệt Phân bón, bụi tro Bụi gỗ Bụi sợi Thạch anh, silicat, ôxit kim loại, phi kim loại Dầu, xăng, bồ hóng, cặn cao su, hơi hữu cơ, hợp chất chì Phân bón, thuốc trừ sâu, bồ hóng Xenlulo Vải bông, vải sợi nhân tạo
1.3.3. Tác hại của ô nhiễm bụi PM10
Các hạt bụi PM10 theo không khí thở, do kích thước nhỏ nên chúng có thể
vào đến phế nang, đọng trên phổi và đường hô hấp gây ra một số bệnh ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe. Như bụi chì, thủy ngân, benzen gây nhiễm độc. Bụi bông,
gai, phân hóa học, một số tinh dầu gỗ… gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban… bụi
quặng, crôm… gây ung thư. Bụi thạch anh, quặng amiang gây xơ hóa phổi…[13]
17
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Một nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy, nếu cứ giảm được 10g PM10 trong 1m3 không khí thì con số tử vong về bệnh tim mạch sẽ giảm từ 3-6% và các bệnh hô
hấp giảm 1-2%.
Ngoài ra, còn phải kể đến những ảnh hưởng đến đời sống của động, thực vật
và những tác động tiêu cực đến khí hậu của PM10.
- Tác hại đến sức khỏe con người và động vật: PM10 tác hại trực tiếp đến con
người cũng như động vật, trước hết qua đường hô hấp, chúng gây nên các bệnh cho
phổi, phế quản. Mặt khác chúng có thể gây nên các bệnh cho da và mắt, nguy hiểm
nhất là một số loại bụi có thể gây ung thư. Điển hình cho tác hại của bụi PM10 là bụi
amiang với khả năng ảnh hưởng mãnh mẽ lên hệ thống phế nang gây xơ hóa phổi.
Những tác hại khác nhau do sự ảnh hưởng lên cơ thể khác nhau của các thành phần
cấu tạo nên bụi.
- Đối với thực vật, bụi PM10 có kích thước bé, dễ dàng khuếch tán qua màng
tế bào thực vật, làm thay đổi những tương tác bình thường của tế bào thực vật với
nước, là nguyên nhân làm khô cứng hoặc làm rách các cấu trúc của tế bào, từ đó
phá hoại các mô dẫn đến quá trình hoại tử (có thể nhận thấy rõ ràng nhất ở lá của
thực vật)
1.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng, thuộc vùng trung
du và miền núi phía Bắc; là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 21008' vĩ độ Bắc (xã Đạo Trù - huyện Tam Đảo) đến 21019' vĩ độ Bắc (xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội); từ 105009' (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) độ kinh Đông đến 105047' độ kinh Đông (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc
Yên). Về vị trí, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp
Phú Thọ, phía Đông giáp thủ đô Hà Nội.
18
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Hình 2: bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh có diện tích tự nhiên là 1.236,5km2 dân số năm 2010 là 1.008,3 nghìn người, mật độ dân số đạt 816người/km2. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính bao gồm:
Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Sông Lô, Tam Đảo,
Vĩnh Tường, Lập Thạch, Yên Lạc, Tam Dương [8].
19
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Vĩnh Phúc nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi phía Bắc và đồng bằng
Bắc Bộ, vì vậy, đây là khu vực có sự kết hợp của nhiều kiểu địa hình. Tỉnh nằm trên
tuyến quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là cầu nối giữa vùng trung
du miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài,
qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng
nước sâu Cái Lân. Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội.
Quá trình phát triển kinh tế - xã hôik của đất nước trong các năm qua đã cho
Vĩnh Phúc những lợi thế mới: tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai
phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc; chịu ảnh hưởng mạnh mẽ trước sự lan tỏa
của các khu công nghiệp lớn thuộc thủ đô Hà Nội như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn...
Sự hình thành va phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên
quan đến Vĩnh Phúc đã đưa tỉnh xích gần hơn tới các trung tâm kinh tế, công nghiệp
và những thành phố lớn của đất nước như: hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội -
Hải Phòng, quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và
trong tương lai là vành đai IV thành phố Hà Nội.
1.4.2. Điều kiện tự nhiên
a) Đặc điểm địa hình - địa chất
- Địa hình:
Về tổng quan, địa hình Vĩnh Phúc kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,
là phương chung của địa hình miền núi phía Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ Việt Nam.
Phía Bắc là dãy núi Tam Đảo với đỉnh Đạo Trù caao 1.592m, phía Tây Nam được
bao bọc bởi 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô. Là vùng chuyển tiếp giữa khu
vực miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc Bộ, Vĩnh Phúc có địa hình tương đối đa
dạng, bao gồm cả 3 kiểu địa hình: vùng núi, trung du và đồng bằng.
Vùng núi: có diện tích tự nhiên 65.300ha (đất nông nghiệp: 17.400ha, đất
lâm nghiệp: 20.300ha). Vùng này chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Đảo, huyện
20
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Sông Lô và huyện Lập Thạch. Đây là vùng có địa hình phức tạp, khó khăn cho việc
xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông.
Vùng trung du: nằm kế tiếp vùng núi, là một dải chạy dài từ Tây Bắc xuống
Đông Nam theo phương địa hình. Vùng này có diện tích tự nhiên khoảng 24.900ha
(đất nông nghiệp 14.000ha), chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương và Bình
Xuyên, thành phố Vĩnh Yên, một phần các huyện Sông Lô, Lập Thạch và thị xã
Phúc Yên. Quỹ đất của vùng có thể xây dựng công nghiệp và đô thị, phát triển cây
ăn quả và cây công nghiệp, kết hợp chăn nuôi gia súc. Trong vùng còn có nhiều hồ
lớn như Liễu Sơn, Đầm Vạc, Xạ Hương, Đại Lải... là nguồn cung cấp nước cho hoạt
động sản xuất, cải tạo môi sinh và phát triển du lịch.
Vùng đồng bằng: có diện tích 32.800ha, gồm các huyện Vĩnh Tường, Yên
Lạc, một phần thị xã Phúc Yên và huyện Tam Dương. Vùng này có đất đai bằng
phẳng, thuận tiện phát triển cơ sở hạ tầng, các điểm dân cư đô thị và thích hợp cho
sản xuất nông nghiệp.
- Địa chất
Về địa chất, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có phân bố 6 nhóm đá khác nhau
[10]:
Các đá biến chất cao: phân bố ở khu vực Bắc Hương Canh, trung tâm các
huyện Lập Thạch, Tam Dương tạo thành dải kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam.
Các đá trầm tích lục nguyên màu đỏ: phân bố ở phía Đông Nam huyện Tảm
Đảo, vùng Đa Phúc
Các đá trầm tích lục nguyên có chứa than: phân bố thành dải hẹp ở khu vực
Đạo Trù (huyện Tam Đảo). Các trầm tích Neogen lộ ra ở khu vực Tây Nam huyện
Lập Thạch, dọc rìa Tây Nam huyện Tam Đảo, nằm kẹp giữa các hệ thống đứt gãy
sông Chảy và sông Lô.
21
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Trầm tích bở rời: các trầm tích Đệ Tứ phân bố rộng rãi ở phần phía Nam
tỉnh, chạy dọc các thung lũng sông Hồng, sông Lô.
Các đá phun trào: phân bố ở phần Đông Bắc tỉnh, chiếm toàn bộ dãy núi
Tam Đảo, chủ yếu là đá Ryolit, một số là đaxit.
Các đá macma xâm nhập: thuộc phức hệ sông Chảy, phân bố ở phía Tây Bắc
huyện Lập Thạch. Đặc điểm của các đá này là giàu nhôm, giàu kiềm.
b) Đặc điểm khí hậu - thủy văn
- Về khí hậu, tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm từ 23,2-250C, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500-
1.700mm; độ ẩm trung bình là 84-85%; số giờ nắng trong năm từ 1.400-1.800 giờ.
Hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông
Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, kèm theo sương muối [16]. Riêng vùng
núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ (nhiệt độ trung bình chỉ khoảng 180C) cùng với cảnh rừng núi của vườn quốc gia đã tạo ra vị thế phù hợp cho các
hoạt dộng du lịch, vui chơi giải trí.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Bảng 7 lượng mưa trung bình các tháng tỉnh Vĩnh Phúc
11
89 35,4 56,2 101,1
76,8 153,8 198,4
236
220
61,5
9
9,5
10,7 79,5 78,9 112,6 107,8 227,4 167,2 185,5 310,3 117,9 26,6
38
Tháng Trạm Vĩnh Yên Trạm Tam Đảo
Đơn vị: mm 12
- Về thủy văn, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều sông chảy qua, sông chế độ thủy văn
phụ thuộc vào 2 sông chính là sông Hồng và sông Lô.
Sông Hồng chảy qua Vĩnh Phúc với chiều dài 50km, đã đem phù sa màu mỡ
cho đất đai, song thời gian nước đầu nguồn tràn về cùng với lượng mưa tập trung dễ
gây lũ lụt ở nhiều vùng (Vĩnh Tường, Yên Lạc).
22
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Sông Lô chảy qua Vĩnh Phúc dài 35km, có địa thế khúc khuỷu, lòng sông
hẹp, nhiều thác ghềnh nên lũ sông Lô lên xuống nhanh chóng.
c) Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Trên địa bàn tỉnh có 2 nhóm đất chính là: đất phù sa và đất đồi núi.
- Đất phù sa: bao gồm các loại:
+ Đất bãi bồi, cồn cát, bãi cát: có khoảng 127ha phân bố ở ven sông, bãi nổi.
+ Đất phù sa sông Hồng được bồi hàng năm có diện tích vào khoảng
6.167ha, phân bố chủ yếu ở các xã ngoài đê của các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc,
Lập Thạch và Sông Lô.
+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm đất trung tính, ít chua, không
glây hoặc glây yếu: diện tích khoảng 10.043ha, phân bố chủ yếu ở các xã trong đê
của huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và phía Nam Bình Xuyên.
+ Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua, glây trung bình hoặc glây
mạnh chiếm khoảng 1,58% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố dọc theo sông Cà
Lồ chủ yếu ở các huyện Yên Lạc, Tam Dương, Bình Xuyên.
+ Đất phù sa màu nâu nhạt, trung tính ít chua, được bồi hàng năm của sông
Lô: có diện tích khoảng 3.920ha, phân bố chủ yếu ở các huyện sông Lô, Lập Thạch.
+ Đất phù sa không được bồi có màu nâu nhạt trung tính, ít chua, không glây
hoặc glây yếu, chiếm khoảng 2,75% diện tích tự nhiên của tỉnh.
+ Đất phù sa không được bồi có màu nâu nhạt, trung tính, glây trung bình
hoặc glây mạnh, có diện tích khoảng 1.020ha, phân bố ở các huyện Tam Dương,
Lập Thạch, Sông Lô, Vĩnh Tường.
23
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
+ Đất dốc tụ ven đồi nú không bạc màu: có diện tích 11.230ha, phân bố tập
trung ở các huyện Lập Thạch, Sông Lô, Bình Xuyên, Tam Dương.
- Đất đồi núi: diện tích đất đồi núi của tỉnh chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên,
gồm các loại đất chính như:
+ Đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước không bạc màu: diện tích khoảng
4.850ha, tập trung ở phía Bắc các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch,
Sông Lô.
+ Đất Feralitic trên núi: diện tích khoảng 10.000ha, ở độ cao từ 150-500m,
phân bố ở các huyện Lập Thạch, Sông Lô, Tam Đảo, nhiều nơi trở thành đồi núi
trọc, cần phải cải tạo lại rừng.
+ Đất Feralitic mùn trên núi: diện tích nhỏ trên dãy núi Tam Đảo ở độ cao
trên 500m. Ngoài mục đích lâm nghiệp còn có thể ươm cây giống, trồng cây dược
liệu, cây xứ lạnh và rau mùa đông.
Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của trên địa bàn tỉnh khá phong phú nhờ hai hệ thống sông
- sông Hồng và sông Lô cùng hệ thống các sông nhỏ như: sông Phó Đáy, sông
Phan, sông Cà Lồ và hàng loạt hồ chứa (Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Đầm Vạc,
Đầm Dưng, Hồ Thanh Lanh...) dự trữ khối lượng nước khổng lồ, đủ để phục vụ cho
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, đạt khoảng 1 triệu m3/ngày-đêm.
Hiện này nguồn nước ngầm đang được khai thác ở thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên (với lưu lượng 28.000m3/ngày-đêm) nhưng chất lượng hạn chế. [16]
Tài nguyên rừng
Tính đến năm 2009, tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 32,7 nghìn ha đất lâm nghiệp,
trong đó rừng sản xuất là 10,8 nghìn ha, rừng phòng hộ là 6,6 nghìn ha và rừng đặc
24
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
dụng là 15,4 nghìn ha. Tài nguyên rừng đáng kể nhất là Vườn Quốc gia Tam Đảo
với trên 15 nghìn ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620 loài cây
thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó có nhiều loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ
như cầy mực, sóc bay, vượn... Rừng Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động
thực vật còn có vai trò điều hòa nguồn nước, khí hậu và có thể phục vụ cho các dịch
vụ thăm quan du lịch. Chính vì vậy, việc khôi phục vốn rừng đã mất, trồng thêm và
tái tạo rừng là một trong những nhiệm vụ cần được quan tâm trong quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trong việc duy trì, bảo vệ môi trường sinh
thái. [16]
Tài nguyên khoáng sản
Theo đánh giá sơ bộ, tài nguyên khoáng sản của Vĩnh Phúc có thể chia thành
các nhóm sau:
Nhóm khoáng sản nhiên liệu: gồm than antraxit (trữ lượng khoảng một nghìn
tấn) ở Đạo Trù, Tam đảo; than nâu ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh (Sông Lô), trữ
lượng khoảng vài nghìn tấn; than bùn ở Văn Quán (Lập Thạch), Hoàng Đan, Hoàng
Lâu (Tam Dương) có trữ lượng (cấp P2) 693.600 tấn, đã được khai thác làm phân
bón và chất đốt.
Nhóm khoáng sản kim loại: gồm Barit, đồng, vàng, thiếc, sắt... Các loại
khoáng sản này được phát hiện chủ yếu ở đứt gãy Tam Đảo và rải rác ở các huyện
Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên.
Nhóm khoáng sản phi kim loại: chủ yếu là cao lanh, nguồn gốc phong hóa từ
các loại đá khác nhau tập trung ở Tam Dương, Vĩnh Yên, Lập Thạch. Cao lanh của
Vĩnh Phúc là nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa, đồ gốm sứ, làm chất độn cho sơn,
cho cao su, cho giấy ảnh, giấy in tiền...
Nhóm vật liệu xây dựng: gồm sét gạch ngói khoảng 10 mỏ với tổng trữ lượng 51,8 triệu m3, sét đồng bằng, sét vùng đồi, sét màu xám đen, xám nâu, cát sỏi
25
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
lòng sông và bậc thềm, cát cuộn sỏi xây dựng (có 4 mỏ, tổng trữ lượng 4,75 triệu m3, đá xây dựng và đá ốp lát (granit và riolit) có 3 mỏ tổng trữ lwọng 307 triệu m3 , đá ong có 3 mỏ, tổng trữ lượng 49 triệu m3 Fenspat có 1 điểm, chưa đánh giá được
trữ lượng.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 6 mỏ Puzolan, tổng trữ lượng 4,2 triệu tấn.
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Dân số và nguồn nhân lực
Dân số tỉnh Vĩnh Phúc theo niên giám thống kê năm 2010 là 1.008.337
người. Trong đó, dân số nam là 497.986 người (chiếm 49,5%) và dân số nữ là
510.351 người (chiếm 50,5%).
TT Chỉ tiêu 1 2 3
Đơn vị 103 người Dân số trung bình Tỷ lệ tăng tự nhiên Phần nghìn Dân số lao động trong độ tuổi 103 người
2005 974,9 12,05 650
2008 995,2 14,92 688
2009 1.003,0 14,13 703
2010 1.008,3 13,55 718 Nguồn: [5]
Bảng 8. phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2010
Có thể nhận thấy, quy mô dân số của tỉnh ở mức trung bình, dân số của tỉnh
tương đối trẻ, lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm tới 70%
dân số.
Về chất lượng nguồn lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 36,4%
lực lượng lao động năm 2007, trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong các
ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 14,76%. Năm 2008, tỷ lệ lao động qua đào tạo
tăng lên đáng kể đat 42,9%. Năm 2010, tỷ lệ này đạt 51,2%.[16].
b) Kinh tế
Sau 15 năm xây dựng và phát triển, kinh tế của tỉnh luôn có tốc độ tăng
trưởng ở mức cao, bình quân giai đoạn 1997-2011 đạt 17,2%/năm, trong đó công
26
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
nghiệp - xây dựng tăng 29,3%/năm, dịch vụ tăng 16,4%/năm và nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm.
GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) liên tuc tăng, năm 1997 mới chỉ
đạt 2,13 triệu đồng/người (tương đương 180USD/người), đến năm 2007 đã cao hơn
so với mức bình quân vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; đến năm 2011 đạt
42,9 triệu đồng/người (tương đương 2.045USD/người).[6]
c) Y tế, giáo dục
- Về y tế, nhìn chung mạng lưới y tế trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng cơ bản nhu
cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Nhiều năm qua
không để xảy ra các dịch bệnh lớn trên địa bàn. Chất lượng khám chữa bệnh ngày
càng được nâng cao. Đảm bảo cung cấp đủ và kịp thời thuốc phòng bệnh và chữa
bệnh có chất lượng.
- Về giáo dục, mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo của tỉnh Vĩnh Phúc
đã và đang phát triển ngày càng rộng và phân bố đều khắp các xã, thị trấn. Từ năm
2002, tỉnh đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tỷ lệ lao
động qua đào tạo ngày càng tăng nhanh: năm 2008 là 28%, năm 2010 là 51,2%.
d) Cơ sở hạ tầng
So với tình hình chung của cả nước, hệ thống cơ sở hạ tầng của Vĩnh Phúc
khá phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư nâng cấp, phân bổ rộng khắp
và đa dạng. Đến nay, 100% các tuyến Quốc lộ được cứng hóa. Hệ thống điện được
quan tâm đầu tư, đến nay 100% các xã trên địa bàn tỉnh được đầu tư xây dựng trạm
biến áp và hệ thống đường dây cấp điện. Hệ thống cấp nước cho các khu đô thị và
khu công nghiệp, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được
triển khai tích cực, tuy nhiên, hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh hầu hếu mới chỉ
đầu tư chắp vá, chưa có tính hệ thống và trạm xử lý chất thải tập trung. Hoạt động
27
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
bưu chính - viễn thông tiếp tục phát triển nhanh, hệ thống cáp quang đã phủ tới
100% các xã.
e) Công tác vệ sinh môi trường
Hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay chưa đáp ứng được tình
hình thực tế. Toàn tỉnh hiện có 2 bãi chôn lấp rác. Tuy nhiên, các bãi này chưa được
thiết kế và xây dựng đạt tiêu chuẩn quy định nên không đảm bảo vệ sinh môi
trường. Đối với chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn thì hầu như chưa được tổ chức
thu gom mà chủ yếu vẫn đổ tự do gây mất mĩ quan và ô nhiễm môi trường.
Các làng nghề trên địa bàn tỉnh đang phát triển nhanh chóng, tuy nhiên công
tác vệ sinh môi trường chưa được quan tâm. Toàn tỉnh hiện có 22 làng nghề nhưng
hầu hết đều là các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, nằm trong khu dân cư, công nghệ sản
xuất thô sơ và mang tính thủ công nên chưa có khả năng đầu tư cho việc xử lý chất
thải. Điều này đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên
địa bàn tỉnh.
28
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bụi PM10 trong môi trường không khí tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ diện tích tỉnh Vĩnh Phúc
2.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: thiết lập mạng lưới các trạm quan trắc bụi PM10 cho
tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở đánh giá sự biến động theo không gian của số liệu quan
trắc.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá hiện trạng ô nhiễm bụi PM10 tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Xây dựng bản đồ hiện trạng bụi PM10 thổ tỉnh Vĩnh Phúc
+ Thiết lập mạng lưới điểm quan trắc sơ bộ
+ Tối ưu hóa số lượng và vị trí của các điểm quan trắc bụi PM10.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập, kế thừa
Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các nghiên cứu khác,
kế thừa có chọn lọc những tài liệu này. Kết quả của phương pháp này là đánh giá
được hiện trạng tài liệu (phương thức nghiên cứu, cách tiếp cận, phạm vi nghiên
cứu, kỹ thuật sử dụng, kết quả đạt được,...) theo các giai đoạn khác nhau để xây
dựng kế hoạch khảo sát, nghiên cứu bổ sung hợp lý.
2.3.2. Phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích
Tiến hành khảo sát thực địa, điều tra chung về hiện trạng môi trường không
khí, hiện trạng ô nhiễm bụi PM10, đo đạc và lấy kết quả hàm lượng bụi PM10 trong
29
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
không khí. Quá trình đo đạc giá trị nồng độ bụi được thực hiện bằng máy đo bụi
cầm tay Kanomax. Tiến hành đo đạc nồng độ bụi tại 60 điểm cùng một thời điểm,
đảm bảo tính đồng bộ của số liệu đo đạc tại các điểm. Quá trình đo đạc và thu thập
dữ liệu được tiến hành trong năm 2011, với 2 đợt quan trắc: đợt 1 vào tháng 4/2011
và đợt 2 vào tháng 10/2011.
2.3.3. Phương pháp nội suy
Trong bài toán này, để xác định các điểm xây dựng trạm quan trắc, chúng tôi
tiếp cận bài toán theo phương pháp nội suy và giải bài toán bằng phương pháp tối
ưu bầy kiến. Theo đó, việc thiết lập mạng quan trắc sẽ tiến hành trên cơ sở việc lựa
chon loại bỏ m điểm quan trắc trong mạng lưới quan trắc sơ bộ ban đầu để kết quả
nội suy từ mạng quan trắc mới giống với kết quả nội suy từ mạng quan trắc ban đầu
nhất. Các bước tiến hành có thể tóm tắt như sau:
- Đầu tiên, tiến hành đo đạc tại 60 điểm quan trắc và xây dựng bản đồ ô
nhiễm bụi cho tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở phương pháp nội suy.
- Sử dụng thuật toán tối ưu bầy kiến xác định việc loại bỏ m điểm quan trắc
nào sẽ cho ra sai số nội suy so với mạng lưới quan trắc ban đầu là thấp nhất.
- Tổng hợp kết quả những mạng lưới quan trắc tối ưu nhất với từng giá trị m
cụ thể.
- Lựa chọn mạng lưới tối ưu nhất về số lượng trạm quan trắc (60-m) cũng
như vị trí đặt 60-m trạm quan trắc này.
Nội suy Kriging
Kriging là một nhóm các kỹ thuật sử dụng trong địa thống kê để nội suy một
giá trị của trường ngẫu nhiên tại điểm không được đo đạc thực tế từ những điểm
được đo đạc gần đó.
Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp nội suy đã được phát triển, với độ
chính xác và các trường hợp sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu này lựa
30
Nguyễn Đình Phúc
Lớp cao học K18 - Chuyên ngành Quản lý Môi trường
chọn phương pháp nội suy Kriging bởi các lý do như: (1) Kriging là phương pháp
có độ chính xác cao khi nội suy số liệu từ tập hợp các điểm phân bố rời rạc, phân
cụm hoặc phân tuyến; đa số các trường hợp này đều sử dụng Kriging là phương
pháp nội suy hiệu quả nhất. (2) Trong các đánh giá chất lượng môi trường hiện nay
ở Việt Nam và trên thế giới, Kriging là phương pháp nội suy được sử dụng phổ biến
nhất. Vì vậy, tiếp cận bài toán thiết lập mạng quan trắc bằng phương pháp nội suy
sẽ đảm bảo cho những đánh giá dựa vào dữ liệu từ các mạng lưới quan trắc (sau khi
được thiết lập) sẽ ít sai lệch với hiện trạng môi trường nhất.
Kriging thuộc nhóm thuật toán bình phương tối thiểu tuyến tính. Mục đích
của phương pháp kriging là ước tính giá trị của một hàm số thực chưa biết f tại một
điểm x* cho ra các giá trị của hàm tại các điểm khác x1,…xn. Cách tính theo kriging
được gọi là tuyến tính vì giá trị phỏng đoán (x*) là một tổ hợp tuyến tính được
biểu diễn như sau:
