VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ NỞ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI – 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ NỞ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. VÕ THỊ KIM OANH

HÀ NỘI – 2021

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình

Phước” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự

hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Võ Thị Kim Oanh. Các số liệu, kết quả trong luận

văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Các giải

pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu

thực tiễn.

Tác giả

Đỗ Thị Nở

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và qua thực tiễn công tác,

được sự hướng dẫn, giảng dạy của thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện

của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận

văn thạc sỹ luật học. Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Các Thầy Cô Học viện, các giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt

những tri thức, kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian học tập.

Cám ơn Thư viện Học viện đã giúp đỡ trong quá trình tra cứu các tài liệu

nghiên cứu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành đã cung cấp số liệu thực

tiễn trong giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu.

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều

trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này. Đặc biệt, tôi xin dành sự

kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS. Võ Thị Kim Oanh, người đã tận tình hướng

dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Nở

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG

TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ

HỮU .......................................................................................................................... 10

1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

xâm phạm sở hữu ...................................................................................................... 10

1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án xâm phạm sở hữu ............................................................................................ 23

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

NAM VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT

XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU VÀ THỰC TIỄN THI

HÀNH TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC ........................... 32

2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành quyền công

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm .............................................................................. 32

2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm

phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước ............................................. 46

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC

HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ

ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH

PHƯỚC .................................................................................................................... 63

3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu ............................................................................... 63

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu ......................................................................... 66

3.3 . Các giải pháp khác ............................................................................................ 70

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 78

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT : Cơ quan điều tra

HĐXX : Hội đồng xét xử

TAND : Tòa án nhân dân

THQCT : Thực hành quyền công tố

TNHS : Trách nhiệm hình sự

VKS : Viện kiểm sát

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

XPSH : Xâm phạm sở hữu

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu Tên bảng Trang bảng

2.1 Tỷ lệ số vụ án XPSH đã xét xử sơ thẩm/số thụ lý

Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND huyện Chơn Thành 2.2 kháng nghị phúc thẩm

Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung các vụ án 2.3 XPSH/số VKS truy tố

2.4 Tỷ lệ số vụ án XPSH bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án

Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND Tỉnh Bình Phước 2.5 kháng nghị

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chơn Thành là một huyện phía Tây Nam của tỉnh Bình Phước, là nơi có

tuyến đường Quốc lộ 13 và 14 đi qua, nối dài với tuyến đường Hồ Chí Minh; là

đường huyết mạch nối liền Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và các tỉnh biên

giới miền Đông Nam Bộ. Ngoài hai trục đường chính, huyện Chơn Thành còn có

nhiều đường liên xã, kết nối thành một mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc phát

triển kinh tế, giao lưu văn hóa trong và ngoài huyện. Huyện Chơn Thành là một

trong những huyện đi đầu trong phát triển công nghiệp của tỉnh, kinh tế của huyện

chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút đầu tư phát triển

mạnh về công nghiệp, dịch vụ. Công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm trong

những năm qua đã có những bước phát triển lớn, góp phần quan trọng giữ vững an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân. Tuy nhiên, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp, tăng

nhanh về số vụ và số đối tượng phạm tội với tính chất, phương thức, thủ đoạn tinh

vi, xảo quyệt, hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến

tình hình chính trị, an ninh trật tự ở địa phương, mà còn trực tiếp xâm phạm đến sức

khỏe, tính mạng, tài sản của người dân.

Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là hai chức năng hiến định của

VKSND, là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà

nước ta. Trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, Ngành kiểm sát nhân dân đã

góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp luật;

đấu tranh phòng, chống tội phạm; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

của địa phương, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền dân

chủ của công dân.

Một trong những nội dung quan trọng được thể hiện ở nhiều nghị quyết của

Đảng là nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó

có VKSND; hoạt động THQCT và kiểm sát xét xử của VKSND nhằm mục đích

chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

1

Thực tiễn những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Chơn

Thành, tỉnh Bình Phước liên tục diễn biến phức tạp, tăng nhanh về số vụ, số người

phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là các

vụ án liên quan đến xâm phạm sở hữu. Trải qua 18 năm kể từ khi thành lập cho đến

nay, VKSND huyện Chơn Thành đã đạt nhiều thành tích đáng khích lệ trong công

tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo hoạt động thực hành quyền công tố

trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự nói chung, xét xử các vụ án xâm phạm sở

hữu nói riêng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, so với yêu cầu của Hiến pháp năm

2013, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020 thì việc phòng, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm còn nhiều hạn chế,

chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Một

trong những nguyên nhân của hạn chế nêu trên là do chính sách hình sự, quy định

của pháp luật về tố tụng hình sự có nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ, chưa kịp thời

sửa đổi, bổ sung; KSV khi THQCT trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm sở

hữu chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ, từng vấn đề liên quan đến vụ án, chưa nắm vững các

dấu hiệu pháp lý đặc trưng của từng tội xâm phạm sở hữu, những vấn đề cần làm rõ

trong vụ án xâm phạm sở hữu, xác định tội danh, tính chất, mức độ phạm tội, mức

độ thiệt hại, các tình tiết khác liên quan đến vụ án; việc chuẩn bị nội dung đề cương

xét hỏi không tập trung làm rõ các vấn đề liên quan cần chứng minh trong vụ án; dự

thảo luận tội còn sơ sài; hoạt động tranh tụng của KSV với Luật sư, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác còn nhiều mặt hạn chế nên vẫn còn tình trạng

án bị trả điều tra bổ sung, án hủy có trách nhiệm của VKS.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, phức tạp của công cuộc đấu tranh chống

và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà

nước, tổ chức và công dân, với trách nhiệm là một cán bộ trong ngành, học viên

nhận thấy việc chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước”

làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự là cần thiết về lý

2

luận cũng như thực tiễn, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp, công tác đấu

tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian tới.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở

hữu là một đề tài rộng, nhận diện các đặc điểm đặc trưng của tội xâm phạm sở hữu

là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong thời gian qua,

có nhiều nhà khoa học pháp lý và người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu

hoặc đề cập đến đề tài quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, có thể

nêu một số công trình tiêu biểu đó là:

- Luận án tiến sĩ Luật học, “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết

Hoa, (2005) [18]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quyền công tố của một số

nước trên thế giới và trong TTHS ở Việt Nam, nêu lên thực trạng thực hành quyền

công tố trong TTHS ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về

hoạt động công tố ở trước Tòa án.

- Luận văn thạc sỹ Luật hình sự, “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công

tố của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta” của

Lương Thúy Hà (2012) [14]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về thực hành

quyền công tố của VKSND, pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND cấp

huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu

thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)”, của Dương Thị Thu Hòa

(2015) ) [20]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề chung về thực hành quyền công

tố và kiểm sát điều tra, thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.

3

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Chức năng thực hành quyền công tố của Viện

kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)” của Lê

Thanh Hưng (2015) [21]. Đã đề cập một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố

trong TTHS. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố ở địa bản tỉnh Đăk Nông

và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực

hành quyền công tố trong các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu áp dụng nguyên tắc

tranh tụng ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Thúy Hằng (2016) [16]. Đề cập đến cơ sở

lý luận, thực trạng vấn đề năng lực tranh tụng của KSV thực hành quyền công tố

trong vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tranh tụng

của KSV thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định”, của Phan Vạn

Quốc (2016) ) [33]. Đã phân tích rõ thêm lý luận chung về thực hành quyền công tố

trong giai đoạn điều tra, quy định của pháp luật và thực trạng thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra, đề ra giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố trong

giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, của

Nguyễn Hữu Phước (2016) [31]. Đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về quyền

công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,

đánh giá thực trạng vấn đề này tại địa phương huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và

đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nội dung này tại địa

phương.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm

phạm sở hữu theo tố tụng hình sự Việt Nam”, của Nguyễn Văn Điền (2017) ) [12].

Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, nội dung

và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và những giải pháp nâng cao chất

lượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu.

4

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, của Phan

Thị Sa (2018) [43]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực hành quyền

công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực trạng pháp luật về thực

hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và đề xuất một số giải pháp tăng

cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận Tân Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh”, của

Lê Trung Tiến (2018) [47]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực

hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, quy định của

pháp luật và thực trạng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự; đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Đánh giá chứng cứ trong các vụ án về xâm

phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh”, của Nguyễn Thị Mỹ Hiệp (2018) ) [17].

Đã phân tích đánh giá rõ thêm những vấn đề lý luận về đánh giá chứng cứ; quy định

của pháp luật về đánh giá chứng cứ và thực tiễn đánh giá chứng cứ trong xét xử sơ

thẩm trong các vụ án về xâm phạm sở hữu.

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án

sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi

chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Khánh

Hòa (2020) [19].

- Luận văn thạc sĩ luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn tỉnh Bắc

Ninh”, của Lương Đức Huyên (2020) [23].

- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ

án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, của Nguyễn

Khánh Toàn (2020) [55].

5

Các đề tài khoa học cấp nhà nước có công trình "Cải cách hệ thống tư pháp

Việt Nam"; đề tài khoa học cấp bộ: "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng

và hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự"; đề tài

khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện

quyền công tố ở Việt Nam hiện nay"; đề tài khoa học cấp bộ: "Viện kiểm sát nhân

dân trong tiến trình cải cách tư pháp".

Một số giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Giáo

trình luật TTHS Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, NXB. Đại học quốc gia, Hà

Nội; Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân

dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động, VKSND tối cao chủ biên, NXB. Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2015; Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi

mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, TS. Lê Hữu Thể, TS. Đỗ Văn

Đương, ThS. Nguyễn Thị Thủy (đồng chủ biên), NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2013; Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp, VKSND tối cao chủ

biên, lưu hành nội bộ, 2012; v.v.

Bên cạnh đó, có những bài viết liên quan đến THQCT trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm VAHS được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:“Về thực hành quyền

công tố trong giai đoạn xét xử” của tác giả Lý Văn Chính, tạp chí Tòa án nhân dân,

số 12/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta

hiện nay”của tác giả Đỗ Văn Đương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 7/2006; “Bàn

về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí

Tòa án nhân dân, số 17/2007; “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành

nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Nguyễn

Đức Mai, tạp chí Luật học, số 07/2008; “Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong

pháp luật TTHS Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả Lê Cảm, Tạp

chí Kiểm sát, số 11/2011; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng luận tội,

tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác

giả Nguyễn Xuân Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2012; “Một số vấn đề về hoàn

thiện quy định của BLTTHS về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần Văn Độ,

6

Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012; “Đổi mới thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm theo

hướng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng” của tác giả Vũ Gia Lâm, Tạp chí Kiểm sát,

số 21/2013; “Nâng cao chất lượng xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ

thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2014; “Vướng mắc khi thực hành quyền công

tố trong giải quyết nguồn tin về tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn

thông” của tác giả Nguyễn Quốc Hân, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2021; “Kinh nghiệm

thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

của đồng tác giả Lê Thị Thùy Hương, Nguyễn Thu Quý, Tạp chí Kiểm sát số

13/2021, v.v...

Trên cơ sở kết quả khảo sát cho thấy, các công trình nghiên cứu trên đã làm

rõ một số vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các vấn đề lý luận, thực tiễn

cũng như định hướng, giải pháp giải quyết vấn đề. Việc nghiên cứu về THQCT của

VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm đối

với các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa mang tính hệ thống, chưa được

nghiên cứu một cách toàn diện. Thực hiện nghiên cứu về công tác thực hành quyền

công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn

Thành, tỉnh Bình Phước là rất cần thiết, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp để tiếp

tục tăng cường hoạt động này nhằm đáp ứng được yêu cầu của địa phương và tiến

trình cải cách tư pháp hiện nay.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về

thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu;

trên cơ sở nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, những nội dung cơ bản của

hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm

sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, làm rõ những ưu, khuyết

điểm, tìm ra nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất giải

pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư

pháp của nước ta hiện nay.

7

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu Luật Tổ chức VKSND, Bộ luật tố tụng hình sự nhằm là rõ cơ

sở lý luận về quyền và chức năng công tố.

+ Nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi THQCT tại

phiên tòa hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.

+ Đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm

phạm sở hữu nói riêng trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và thực trạng về công tác thực hành quyền công

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Chơn

Thành, tỉnh Bình Phước.

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của

VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu theo

quy định của BLTTHS về vấn đề này; thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình

Phước trong thời gian 05 năm, từ năm 2016 – 2020.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sơ vận dụng lý luận chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; tư tưởng, quan điểm

của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai

đoạn hiện nay.

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng, tác giả luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên

8

cứu như: Phương pháp phân tích – tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương

pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, khảo sát thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề tài góp

phần làm sáng tỏ thêm quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án xâm phạm sở hữu.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu cho việc

nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm các quy định của pháp luật về chức năng thực

hành quyền công tố của VKSND; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho đội

ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu và thực tiễn

thi hành tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng chất lượng thực hành quyền công tố

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh

Bình Phước.

9

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU

1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

1.1.1. Khái niệm công tố

1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố

Quyền công tố là quyền của Nhà nước vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà

nước hay của xã hội) đối với người phạm tội, đã được biết đến từ thời xa xưa của xã

hội loài người, khi nhà nước xuất hiện thì quyền công tố cũng xuất hiện. Lịch sử tư

pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện

chế định quyền công tố gắn với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Trong từng

thời kỳ nhất định, mỗi quốc gia có bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau gắn

liền với các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, con người, văn hóa. Do

đó, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, song song với việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố

cũng ngày càng thể hiện rõ nét. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền

công tố, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: quyền công tố là một khái niệm pháp

lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà

nước và pháp luật [47, tr.86].

Trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau và chưa có cách hiểu thống

nhất về khái niệm quyền công tố. Theo dòng lịch sử pháp lý Việt Nam, khoa học

luật pháp lý nói chung, cũng như khoa học hình sự nói riêng, chế định “quyền công

tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, trước Hiến pháp năm 1959 đã tồn tại

quyền công tố, từ năm 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này.

Quyền công tố ở nước ta được đề cập trong Hiến pháp năm 1980, chức

năng THQCT của VKS được quy định tại Điều 138 Hiến pháp 1992, Điều 137 Hiến

pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 107 Hiến pháp 2013 đã khẳng định

tại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, THQCT trong chức năng của VKSND.

10

Để hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội dung nó gì

là, hiện nay vẫn chưa có quan điểm, nhận thức thống nhất chung. Theo từ điển Luật

học thể hiện “công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

người phạm tội” [56, tr.188]; trong khi từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do

GS. Hoàng Phê chủ biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ

phạm pháp trước Tòa án” (57, tr.204]; lại có quan điểm cho rằng “công tố là hoạt

động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các

lợi ích của Nhà nước mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”.

Hiện nay Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào giải thích chính thức nội dung

quyền công tố, có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi,

chủ thể tham gia thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là

những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Tác giả đồng tình với một số

quan điểm có sự khác nhau nhưng cơ bản tập trung vào các nhóm sau:

Thứ nhất, quyền công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ

là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong

giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, tức là kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì

KSV THQCT để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [79, tr.85-86]. Quan điểm này là phổ

biến và cũng là quan điểm cơ bản của các nhà khoa học pháp lý Xô Viết, đã đồng

nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử hình

sự tại phiên tòa, phạm vi quyền công tố bị thu hẹp, chưa thấy hết vai trò, vị trí của

VKS khi thực hành quyền công tố, chức năng truy tố và buộc tội của VKS tại phiên

tòa xét xử vụ án hình sự chỉ là một trong các quyền hạn của VKS khi thực hành

quyền công tố.

Thứ hai, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy tố

người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử [30], thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa.

Nội dung của quyền công tố là đưa ra quan điểm, lời buộc tội những cá nhân cụ thể

với các tội danh cụ thể trong bản cáo trạng đó tại phiên tòa sơ thẩm. Theo quan

điểm này thấy rằng việc THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho hoạt động của

VKS. Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền

11

công tố, về lý luận cũng như trong thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Tòa án

chỉ là một trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của VKS.

Thứ ba, “Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKSND nói riêng và

các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung sử dụng để truy cứu TNHS và áp dụng các

chế tài hình sự để trừng trị các pháp nhân, người có hành vi vi phạm pháp luật

hình sự” [45, tr.26].

Quan điểm này chưa chính xác bởi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố

với nguyên tắc tố tụng hình sự, khi người tội phạm xâm phạm đến lợi ích chung của

xã hội hoặc lợi ích riêng của một cá nhân, người phạm tội phải bị truy cứu trách

nhiệm hình sự và bị xử lý bằng các chế tài hình sự. Quan điểm này đã dẫn đến sự

nhằm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự: buộc tội, bào chữa và xét

xử.

Thứ tư, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc

trái với các quy định của pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, bảo vệ trật tự của pháp luật [58, tr.85-86]. Theo quan điểm này, quyền công

tố ban đầu được thể hiện trong lĩnh vực hình sự. Cùng với sự phát triển của xã hội

và các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế,

lao động. Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp

pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm kiểm sát đối với các các cơ

quan tiến hành tố tụng. Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện

chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình

sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật,

hành vi phạm tội đều bị phát hiện điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội

phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất [58, tr.88].

Đặc trưng của tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc: quyền quyết

định và quyền tự định đoạt là của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn

tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Trong khi đặc trưng của tố tụng

hình sự, phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người

tham gia tố tụng. Quan điểm trên đã đồng nhất quyền công tố trong lĩnh vực hình sự

12

với những nhiệm vụ, quyền hạn khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án

hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.

Các quan điểm trên đều có hạn chế nhất định đó là không phân định rõ ràng

khái niệm, bản chất, nội dung và phạm vi quyền công tố; xem quyền công tố là một

hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình

sự, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của

VKSND quyền lực công; đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc

tuân theo pháp luật của VKS, mở rộng quyền công tố trong tố tụng hình sự sang các

lĩnh vực tư pháp khác như hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động;

quá thu hẹp quyền công tố, xem quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm

tội ra trước TAND và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó

trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể “Quyền công tố

chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực tư pháp hình sự, không thể

tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức

vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [45, tr

37].

Trong tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng cơ bản đó là, chức năng

buộc tội (điều tra xác minh hành vi phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

người phạm tội, giữ vai trò là quan trọng trong tố tụng hình sự, thu hút hoạt động

của tất cả các chủ thể tham gia); chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử.

Như vậy có thể hiểu, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện

việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân dân quyền lực công thực hiện việc

truy tố ra trước Tòa án đối với người phạm tội. Quyền này là quyền của Nhà nước,

Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam đó là Viện kiểm sát). Cơ

quan đó phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác

định người phạm tội và tội phạm. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra

trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. [5, tr.9].

13

Một vấn đề quan trọng cần làm rõ khi nói về quyền công tố đó là đối tượng,

phạm vi và nội dung quyền công tố. Các nhà nghiên cứu đều có lý luận riêng, đưa

ra những luận điểm về đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố để chứng

minh cho luận điểm của mình. Theo quan điểm nghiên cứu của tôi, đối tượng, nội

dung và phạm vi của quyền công tố được hiểu như sau:

- Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động vào

nhằm mục đích cụ thể nào đó, có thể là nhằm mục đích buộc tội của người phạm tội

để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, bảo vệ các quyền,

lợi ích chính đáng của các cơ quan, tổ chức chính trị, cá nhân... Theo quan điểm

quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, Nhà nước đứng ra thay mặt cho xã hội

thực hiện việc buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người

đã thực hiện hành vi phạm tội, do đó đối tượng của quyền công tố là tội phạm và

người phạm tội [45, tr.40].

- Nội dung của quyền công tố: là sự buộc tội của Nhà nước (thông qua cơ

quan VKSND) đối với bất kỳ người nào đã thực hiện hành vi tội phạm. Để phát

hiện tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, các cơ quan tố tụng áp dụng

tổng hợp các quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm cho việc mọi hành vi

phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo đúng quy định của pháp

luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Theo

quan điểm này tôi cho rằng đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung thực

hành quyền công tố.

- Phạm vi của quyền công tố: Với quan niệm quyền công tố là quyền nhân

danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội,

phạm vi của quyền này chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự [45, tr 46], từ khi có

hành vi phạm tội xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thực hiện các quyền năng

pháp lý khác nhau để phát hiện tội phạm và hành vi phạm tội, tìm ra các chứng cứ

buộc tội để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó, kết thúc khi bản án đã

có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.

14

1.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố

Để bảo đảm thực hiện quyền công tố, Nhà nước ban hành các văn bản quy

phạm pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố

để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Khi các cơ quan tiến hành

tố tụng thực hiện quyền năng pháp lý của mình được Bộ luật tố tụng hình sự giao để

thực hiện quyền công tố thì xuất hiện khái niệm thực hành quyền công tố, vì khi có

hành vi phạm tội xảy ra, làm phát sinh mối quan hệ giữa Nhà nước với người thực

hiện hành vi phạm tội. Trách nhiệm của Nhà nước là truy cứu trách nhiệm hình sự

đối với người thực hiện hành vi phạm tội thông qua một cơ quan thực hiện đó là cơ

quan thực hành quyền công tố.

Theo từ điển tiếng Việt ghi “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý

thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” [56, tr.973].

Khái niệm thực hành quyền công tố hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác

nhau, tuy nhiên, tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Thực hành quyền công tố là

việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhân danh Nhà nước để thực hiện

việc truy tố tra trước Tòa án đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra,

truy tố và xét xử [5, tr.11]. Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm

2013; Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, 2003 và 2015; các Luật tổ chức VKSND

năm 1960, 2002 và 2014 đều quy định VKSND là cơ quan duy nhất được Nhà nước

giao nhiệm vụ THQCT. Nội dung thực hiện quyền này được thể hiện cụ thể tại các

Điều 13, Điều 17, Điều 18 và Điều 19 Luật tổ chức VKSND năm 2002; khoản 1

Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 “Thực hành quyền công tố là hoạt động

của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của

Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin

báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,

xét xử vụ án hình sự”. Trên thực tế, không phải bất kỳ vụ án nào khi xảy ra cũng

được các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện ra và xử lý kịp thời. Đó là mối quan hệ

giữa khả năng và việc thực hiện hóa khả năng, Nhà nước trao quyền và thực hiện

quyền lực đó thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

15

Khi nói về chức năng THQCT cần làm rõ đối tượng, nội dung, chủ thể và

phạm vi THQCT: Đối tượng của THQCT là tội phạm và người phạm tội; chủ thể

THQCT chính là VKSND.

Phạm vi thực hành quyền công tố: cho đến giai đoạn hiện nay có nhiều ý

kiến khác nhau và chưa có sự thống nhất về khái niệm THQCT, tôi đồng ý với quan

điểm cho rằng: phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có dấu hiệu tội

phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án

được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Nội dung thực hành quyền công tố: THQCT của VKS là việc sử dụng các

quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành

vi phạm phạm tội, không để bỏ lọt người phạm tội và tội phạm, không làm oan

người vô tội. Theo đó, VKSND danh Nhà nước THQCT trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm là thực hiện các quyền năng pháp lý nhằm bảo đảm việc xét xử đúng người,

đúng tội, đúng pháp luật.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

1.1.2.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Xét xử là hoạt động quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và toàn bộ quá

trình tố tụng hình sự nói chung, nhằm thực hiện các biện pháp cần thiết do pháp luật

quy định để kiểm tra tính hợp pháp, có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà Cơ

quan điều tra, VKS đã thực hiện trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm

loại trừ những thiếu sót do sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong giai

đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét

xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án.

Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm

quyền tiến hành xem xét giải quyết vụ án, ra bản án, trả tự do hoặc các quyết định

khác theo quy định của pháp luật [60] . Xét xử sơ thẩm được xác định là giai đoạn

kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án

được thu thập trong quá trình điều tra được xem xét một cách công khai, khách

16

quan tại phiên tòa và được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng, người tham

gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn nhau.

Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, nghĩa vụ của

người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công

khai, đầy đủ nhất; đòi hỏi phải tập trung trí tuệ, xử lý tình huống một cách mau lẹ,

các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác về pháp luật mà phải có sức thuyết

phục.

Trên cơ sở quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử theo

quy định của pháp luật thì thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát tổng hợp

các quyền hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để truy tố trách nhiệm

hình sự, buộc tội, đề nghị áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong giai đoạn

xét xử [63, tr.28].

Thông qua công tác xét xử cần xem xét đối tượng của phiên tòa xét xử sơ

thẩm và phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Phiên tòa hình sự sơ thẩm có thể

được thực hiện khi VKS có quyết định truy tố, bản cáo trạng và các điều kiện cần

thiết khác theo quy định của pháp luật để tiến hành mở phiên tòa. Đối tượng của

phiên tòa xét xử sơ thẩm là bản cáo trạng của VKS đối với bị cáo đã thực hiện hành

vi vi phạm pháp luật hình sự (hành vi tội phạm). Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền,

trách nhiệm xem xét những nội dung trong bản cáo trạng và những vấn đề liên

quan, đưa ra căn cứ đúng pháp luật, thể hiện quyết định của mình trong bản án.

Phạm vi xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi VKS chuyển hồ sơ cùng bản cáo trạng đến

Tòa án và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định. Trong khi đó, đối tượng của

phiên tòa hình sự phúc thẩm chính là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực

pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị về tính có căn cứ, tính hợp pháp và mức hình

phạt của nó.

Giai đoạn xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn

truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai giai đoạn cơ bản đó là giai đoạn chuẩn bị xét

xử và xét xử tại phiên tòa với những hoạt động tố tụng hình sự khác nhau. Mỗi giai

đoạn tố tụng có tính độc lập riêng, đặc trưng về chủ thể, hành vi, hình thức, thời

17

hạn, nguyên tắc, văn bản tố tụng. Các giai đoạn tố tụng này có mối quan hệ với

nhau, tác động lẫn nhau; giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng

sau, ngược lại giai đoạn tố tụng sau bổ sung, kiểm tra giai đoạn tố tụng trước tạo

thành tiến trình tố tụng thống nhất. Dù ở giai đoạn nào đều phải tuân thủ nhiều

nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc độc lập xét xử. Việc xem xét đánh giá các tài

liệu, chứng cứ trong giai đoạn này phải hết sức khách quan, xem xét toàn diện,

không được lệ thuộc vào kết quả của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó.

Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ

án đến Tòa án có thẩm quyền xét xử theo luật định. Chuẩn bị xét xử được coi là

bước đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, từ khi VKS chuyển hồ sơ đến Tòa án nhận

đến khi mở phiên tòa. Giai đoạn này Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa

nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ liên quan, xét có đủ căn cứ

để đưa vụ án ra xét xử hay không, hay trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc

tạm đình chỉ vụ án.

Biểu hiện đặc trưng của giai đoạn xét xử sơ thẩm là tại phiên tòa sơ thẩm, vụ

án hình sự chính thức được giải quyết công khai với sự tham gia của nhiều chủ thể

khác nhau. Kết quả của phiên tòa khẳng định bị cáo có hay không có tội, nếu có thì

tội gì, có bị áp dụng mức hình phạt không, mức hình phạt được áp dụng, trách

nhiệm dân sự, giải quyết vật chứng và những vấn đề khác liên quan đến vụ án.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập,

trong đó chuẩn bị xét xử là tiền đề quan trọng, cần thiết cho việc mở phiên tòa và

tiến hành phiên tòa; phiên tòa sơ thẩm là nơi thể hiện rõ nét nội dung của các

nguyên tắc tố tụng hình sự, mối quan hệ tác động qua lại giữa các chức năng cơ bản

nhất của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội, chức năng xét xử,

trong đó chức năng xét xử đóng vai trò quyết định.

Như vậy, khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung

quyền công tố để buộc tội người đã thực hiện hành vi phạm tội bị truy tố tại phiên

tòa ở cấp xét xử thứ nhất, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng cùng hồ

18

sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra quyết định, bản án có hiệu lực

pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị.

Khái niệm THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung

quyền công tố để buộc tội người đã thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu bị

truy tố tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản

cáo trạng cùng hồ sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra quyết định,

bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị

1.1.2.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở

hữu.

Quan hệ sở hữu mà một trong những quan hệ xã hội giữa người với với

trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội. Quyền sở hữu xuất

hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật thông qua các hoạt động kinh tế.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân

sự năm 2005 thì quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm

hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Các quyền này luôn được pháp luật tôn trọng và

bảo vệ.

“Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe

dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ

bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” [61, tr.5]. Các tội này được quy định

tại Chương XIV của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, gồm 13 tội được quy định từ

Điều 168 đến Điều 180, đó là các tội: Tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm

chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài

sản (Điều 171), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản

(Điều 173), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản (Điều 175), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176), tội sử dụng trái

phép tài sản (Điều 177), tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178), tội

19

thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh

nghiệp (Điều 179), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).

Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, căn cứ vào tính chất của mục đích

phạm tội đã chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm: thứ nhất là nhóm các tội

có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 168 đến Điều 177), trong đó cần phân

biệt các tội có mục đích chiếm đoạt (Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 171, Điều

172, Điều 173, Điều 174 và Điều 175) và các tội không có mục đích chiếm đoạt

(Điều 176, Điều 177) và thứ hai là nhóm các tội không có mục đích tư lợi (gồm 03

tội Điều 178, Điều 179 và Điều 180).

Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, trước

hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý đặc trưng của nhóm tội này (căn cứ vào

bốn yếu tố cấu thành tội phạm) như sau:

- Về khách thể của tội phạm: Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội

phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [60, tr.78].

Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ấy được gọi khách thể chung được quy

định tại Điều 8 của BLHS, khách thể loại được quy định tại các chương phần các tội

phạm cụ thể trong đó có quan hệ sở hữu được quy định tại Chương XVI. Theo quy

định tại Điều 158 của BLDS thì quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử

dụng và quyền định đoạt tài sản. Đối tượng tác động thuộc khách thể của các tội

xâm phạm sở hữu là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác (không phải là

tài sản của người phạm tội) nhưng không phải cứ là tài sản thì là đối tượng tác động

của tội xâm phạm sở hữu. Mà tài sản đó bị hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu tác

động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu được luật

hình sự bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu

là những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản đó, trong sự

chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người quản lý tài sản. Về

nguyên tắc, các tài sản này phải là những tài sản hợp pháp của chủ sở hữu, bao

gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản [Điều

105 Bộ luật dân sự].

20

- Về mặt khách quan của tội phạm: Các tội xâm phạm về sở hữu có sự khác

nhau ở hình thức thể hiện hành vi, có thể thực hiện ở nhiều dạng khác nhau, các

hành vi đó đều có cùng tính chất là gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, xâm phạm

quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản, làm cho chủ tài sản mất khả

năng thực hiện quyền sở hữu của mình. Các hình thức thể hiện chủ yếu của tội xâm

phạm sở hữu đó là: hành vi chiếm đoạt; chiếm giữ trái phép; sử dụng trái phép; hủy

hoại, làm hư hỏng, mất mát, làm lãng phí tài sản.

Hậu quả của hành vi nói trên là những thiệt hại gây ra về quan hệ sở hữu,

thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất (tài sản bị mất). Đối với các tội: Cướp tài sản,

Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại bao gồm cả thiệt hại

về vật chất và thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần).

- Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu là người

có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định, cụ thể: Người từ đủ 16

tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà

Bộ luật hình sự có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu

trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

quy định tại một trong các Điều 168, 170, 171, 173, 178 Bộ luật hình sự.

- Về mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện các tội xâm phạm sở hữu

chủ yếu là lỗi cố ý, người thực hiện hành vi muốn chiếm đoạt tài sản của người

khác, biết tài sản muốn chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn

muốn chiếm đoạt, biến tài sản đó thành tài sản của mình. Bên cạnh đó, vẫn có

trường hợp phạm tội với với lỗi vô ý.

Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với các vụ án xâm phạm sở

hữu tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần nắm vững những dấu hiệu pháp lý đặc trưng,

đặc điểm riêng biệt để phân biệt các tội phạm thuộc nhóm xâm phạm sở hữu trong

quá trình xét hỏi, tranh luận để tránh được sự nhầm lẫn giữa các tội danh. Để làm

được điều đó, quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên cần làm rõ các biểu hiện của hành vi

chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội

21

gây ra, định giá tài sản, thiệt hại về tài sản, việc bồi thường thiệt hại, có tính chất

chuyên nghiệp hay không,...

Biểu hiện của mục đích chiếm đoạt: Mục đích chiếm đoạt là yếu tố bắt buộc

trong cấu thành các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt. Tùy từng tội cụ

thể, mục đích chiếm đoạt khác nhau có biểu hiện khác nhau, có thể xuất hiện trước,

trong hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Đối với các tội có cấu thành hình

thức thì mục đích chiếm đoạt thường xuất hiện trước hoặc trong khi thực hiện hành

vi phạm tội. Đặc biệt, mục đích chiếm đoạt phải gắn liền với các hành vi dùng thủ

đoạn gian dối hoặc bỏ trốn thì người chiếm đoạt tài sản sẽ trở thành người phạm tội

lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp mục đích chiếm đoạt có trước hoặc vào

thời điểm nhận tài sản qua hợp đồng, còn mục đích xuất hiện sau khi nhận tài sản

thì người chiếm đoạt phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Biểu hiện của hành vi chiếm đoạt: Hành vi làm cho người có quyền chiếm

hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của

mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện quyền sở hữu tài sản đó thì được

coi là hành vi chiếm đoạt. Về bản chất, quá trình này không làm cho người có

quyền sở hữu mất tài sản (về vật chất) mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện

các quyền cụ thể của quyền sở hữu (về pháp lý). Để xác định hành vi chiếm đoạt có

trái pháp luật hay không, cần phải xác định việc chiếm hữu đó có thuộc các trường

hợp chiếm hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự hay không.

Việc xác định hành vi có tính chất chiếm đoạt đối với các tội có dấu hiệu

chiếm đoạt thuộc hành vi khách quan của các tội xâm phạm quyền sở hữu một cách

chính xác, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn

thành. Tùy vào từng tội xâm phạm quyền sở hữu cụ thể mà thời điểm hoàn thành

của tội phạm là khác nhau. Ngoài ra, khi xem xét thời điểm hoàn thành của tội

phạm cần có sự phân biệt giữa thời điểm tội phạm hoàn thành với thời điểm tội

phạm kết thúc.

Việc nhận thức đúng các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm

sở hữu, cách phân loại giúp cho việc xác định đúng tội danh, tránh được sự nhầm

22

lẫn giữa các tội danh. Đặc biệt đối với Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi, tranh

luận để chứng minh tội phạm tại phiên tòa được chính xác, bảo đảm xử lý đúng

pháp luật, đúng người, đúng tội.

1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án xâm phạm sở hữu

Mục đích của tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu mọi tội phạm xảy ra đều phải

được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định pháp luật. Về mặt nguyên tắc, quyền

công tố phải được thực hiện khi có tội phạm xảy ra để chứng minh tội phạm, truy tố

người phạm tội ra tòa án để xét xử. THQCT là một trong những quy định pháp lý để

thực hiện quyền công tố, nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ về tội phạm như: tiếp

nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật

chứng; lấy lời khai người bị tạm giữ, người làm chứng, người liên quan; khởi tố vụ

án, bị can; ban hành cáo trạng, các hoạt động buộc tội tại phiên tòa. Đây là một

trong những nội dung thực hành quyền công tố, nhưng không phải tất cả các vụ án

đều được đưa ra xét xử trước Tòa án, nên phạm vi THQCT có thể bị triệt tiêu ở giai

đoạn tố tụng sớm hơn khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can. Điều này

cho thấy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì việc THQCT không còn.

Như vậy, phạm vi THQCT bắt đầu từ khi giải quyết tin báo, tố giác tội phạm

hoặc kiến nghị khởi tố cho đến khi kết thúc vụ án bằng bản án có hiệu lực pháp luật

hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.

Phạm vi của THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu là

bắt đầu khi VKS chuyển hồ sơ, bản cáo trạng sang Tòa án và kết thúc khi Tòa án ra bản

án, quyết định có hiệu lực không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án xâm phạm sở hữu

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là biểu hiện tập trung, rõ nét nhất

của quyền công tố, kể cả đối với các vụ án xâm phạm sở hữu. Tại phiên tòa, KSV

23

THQCT là đại diện VKSND thực hiện nhiệm vụ thay mặt quyền lực công (nhà

nước) chính thức công bố công khai sự buộc tội của nhà nước đối với bị cáo, đồng

thời bảo vệ sự buộc tội đó trước HĐXX và những người tham gia tố tụng tại phiên

tòa. Hoạt động này chỉ được tiến hành bởi VKSND, là cơ quan duy nhất đại diện

Nhà nước. Nhưng VKSND là tổ chức nên việc thông qua nhiệm vụ thực hiện buộc

tội bị cáo tại phiên tòa không thể tất cả người của VKSND hoặc ai cũng được mà

phải do VKSND quyết định cử (phân công) người đại diện cho tổ chức mình thực

hiện nhiệm vụ ấy, đó chính là Kiểm sát viên. Để thực hiện chức năng THQCT trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm, Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS quy định cho VKSND

một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó có những quyền chỉ có

VKS mới thực hiện được, đó là công bố sự buộc tội bị cáo trước tòa bằng bản cáo

trạng và bảo vệ cáo trạng bằng luận tội, do đó phải có KSV tham gia phiên tòa với

vai trò là bên buộc tội.

Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS thì KSV THQCT tại

phiên tòa bằng các hoạt động: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ

tục rút rọn, các quyết định khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án; Xét hỏi để

làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải

quyết đúng đắn vụ án; Thực hiện việc luận tội; Tranh luận với bị cáo, bị hại, nhân

chứng, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

- Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút rọn, các quyết

định khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án;

Điều 306 BLTTHS quy định: “Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên

công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không

được làm xấu đi tình trạng của bị cáo” [35, tr 265].

Theo quy định tại Điều 23 Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét

xử hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của

Viện trưởng VKSND tối cao (gọi tắt là Quy chế 505) thì Kiểm sát viên phải đọc,

công bố nguyên văn bản cáo trạng. Nguyên văn không có nghĩa là đọc toàn bộ dấu

chấm, phẩy, nơi nhận của văn bản mà nguyên văn là nguyên văn nội dung. Nếu cáo

24

trạng nhiều trang, KSV cần phải nghiên cứu, phải đọc trước. Tại phiên tòa, khi công

bố, KSV phải đứng thẳng, có khoảng nhìn lên, quan sát thái độ bị cáo, người tham

dự phiên tòa, không được “chỉ nhìn vào văn bản”, giọng đọc cần rõ ràng, mạch lạc,

không ngọng, lắp, vấp và phải có điểm nhấn tại các phần như kết luận, quyết định;

có ngắt câu, có thể bố trí lại dấu chấm, phẩy mà không làm mất đi hoặc sai lệch nội

dung; đối với những từ ngữ la tinh, nước ngoài, chữ viết tắt cần phiên âm ra tiếng

việt khi đọc, ví dụ: chất heroin = chất hê-rô-in; Methamfetamine = mê-tham-phê-ta-

min; Công ty THHH = Công ty trách nhiệm hữu hạn …

Đối với vụ án có nhiều Kiểm sát viên THQCT tại phiên tòa thì cần có sự

phân công cụ thể KSV công bố Bản cáo trạng, nên tự giới thiệu họ tên trước khi đọc

và nói đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc khi đã công bố xong Cáo trạng.

Sau khi công bố bản cáo trạng, KSV có thể trình bày ý kiến bổ sung nhưng chỉ để

làm rõ, bổ sung thêm nội dung của bản cáo trạng mà không làm thay đổi nội dung

bản cáo trạng, không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Thực tiễn thấy rằng

KSV thường phát biểu về các tình tiết, nội dung có lợi cho người bị buộc tội (bị

cáo) như bị cáo đã bồi thường, đã hợp tác với cơ quan điều tra tố giác đồng phạm,

người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do chuyển biến chính sách pháp

luật, nên hành vi của bị cáo phạm vào Điều luật nhẹ hơn…

- Xét hỏi để làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác có ý

nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án;

Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, Kiểm

sát viên kiểm chứng, chứng minh sự buộc tội của VKS bằng việc xét hỏi bị cáo, bị

hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định;

xem xét, đối chiếu tài liệu của các cơ quan chuyên môn, xem xét vật chứng...để bảo

đảm rằng sự buộc tội là có căn cứ, các chứng cứ được thu thập ở các giai đoạn trước

đó là hợp pháp, khách quan và có liên quan đến vụ án nên cần phải được kiểm

chứng công khai để chứng minh tại Tòa án là đúng với nội dung bản cáo trạng đã

truy tố; đảm bảo các hành vi phạm tội phải được phát hiện xử lý, không bỏ lọt tội

phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

25

Xét hỏi của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là việc KSV trực tiếp

xét hỏi bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, xem xét tại

chỗ, nhận xét và hỏi thêm những vấn đề có liên quan để xem xét, đánh giá chứng

cứ; các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm xác định

sự thật khách quan của vụ án. Việc xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện theo các

Điều 307, 308, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 317, 318 BLTTHS năm

2015.

Phạm vi xét hỏi của KSV đối với những người nêu trên bao gồm mọi khía

cạnh liên quan đến vụ án, đó là: Những chứng cứ, tình tiết xác định có tội và vô tội,

những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân bị

cáo, nguyên nhân và điều kiện phạm tội... đặc biệt, KSV cần chú ý hỏi để làm rõ

những dấu hiệu pháp lý đặc trưng để phân biệt các tội danh thuộc nhóm xâm phạm

sở hữu ví dụ như cần làm rõ dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực thì trong điều kiện hoàn

cảnh đó có diễn ra ngay tức khắc không, có làm bị hại tê liệt ý chí kháng cự không

để phân định giữa tội cướp tài sản hay cưỡng đoạt tài sản hoặc để làm rõ thủ đoạn

gian dối của bị cáo có trước hay sau khi nhận tài sản để phân định giữa tội lạm dụng

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc ngay sau khi trộm

tài sản mà bị phát hiện thì người phạm tội đã có hành vi chống trả người bắt giữ, khi

đó cần làm rõ mục đích chống trả làm nhằm tẩu thoát hay nhằm chiếm đoạt tài sản

để phân định có việc chuyển hóa tội danh từ trộm cắp tài sản thành tội cướp hay

không … Kết quả xét hỏi là cơ sở để HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ

quyền lợi của đương sự xác định đủ căn cứ để kết tội bị cáo hay không. Nếu có thì

bị cáo phạm tội gì, theo quy định tại khoản, điều nào của Bộ luật hình sự, hình phạt

nào áp dụng đối với bị cáo, có thể áp dụng biện pháp tư pháp cũng như buộc bị cáo

và người có liên quan bồi thường cho bị hại hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan.

Sau khi xét hỏi, nếu việc buộc tội có căn cứ thì Kiểm sát viên bảo vệ cáo

trạng bằng luận tội; nếu việc buộc tội không chính xác tội danh thì tùy trường hợp

mà thay đổi tội danh bằng hoặc nhẹ hơn hoặc đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để

26

điều tra bổ sung về tội danh nặng hơn cáo trạng truy tố; còn nếu xét thấy việc buộc

tội là không có căn cứ thì Kiểm sát viên có quyền rút quyết định truy tố.

- Thực hiện việc luận tội;

Luận tội là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VSKND khi THQCT

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm do KSV trực tiếp thực hiện ngay sau khi kết thúc

phần xét hỏi, mở đầu phần tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Vậy, “Luận tội” là gì, theo tác giả “Luận” có nghĩa “bàn luận”, “bình luận” trao đổi,

phân tích và nhận định về tình hình, vấn đề nào đó, dựa vào lý lẽ, ý nghĩa mà suy ra.

Còn “tội” trong quy định “luận tội” của BLTTHS có nghĩa là tội trạng của bị cáo,

người phạm tội. Do đó, “Luận tội” là “bàn luận về hành vi phạm tội của bị cáo tại

phiên tòa”, để từ đó KSV căn cứ đề nghị mức án cho phù hợp, giúp HĐXX có căn

cứ ra bản án, quyết định đúng quy định của pháp luật.

Luận tội luôn là một vấn đề được quan tâm không chỉ đối với cán bộ, KSV

Ngành Kiểm sát mà còn đối với cả các cơ quan tư pháp, thậm trí là với cả các cơ

quan truyền thông và dư luận xã hội. Bởi nội dung luận tội luôn thể hiện xúc tích

nhất những đánh giá, nhận định, quan điểm xử lý đối với vụ án của VKS. Nếu luận

tội có chất lượng không những thể hiện được trình độ nghiệp vụ của cá nhân KSV

mà còn thể hiện được vai trò, vị thế của Ngành Kiểm sát trong công tác đấu tranh

phòng chống tội phạm. Vì vậy, để có được một luận tội có chất lượng thì KSV cần

phải có kỹ năng để xây dựng một bản Dự thảo luận tội thật toàn diện. Xây dựng Dự

thảo luận tội là một trong những hoạt động thể hiện thao tác nghiệp vụ mà KSV

phải làm để chuẩn bị cho việc THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Dự thảo luận tội được KSV thực hiện trong giai đoạn truy tố và có thể được chỉnh

sửa, bổ sung tùy theo diễn biến tại phiên tòa, đến trước khi thực hiện việc luận tội

tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, Luận tội phải phân tích đánh giá các tài liệu, vật chứng được

thu thập, xác minh trong quá trình điều tra vụ án đúng trình tự, thủ tục tố tụng,

khách quan và liên quan đến vụ án để khẳng định các tài liệu, vật chứng đó là chứng

cứ và có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội. Việc phân tích, đánh giá các

27

chứng cứ phải toàn diện, đầy đủ để xác định bị cáo có tội hay không có tội, phân

tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân

thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nguyên

nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và các yếu tố khác có ý nghĩa cho việc

giải quyết đúng đắn vụ án; có thể nói luận tội là biện pháp bảo vệ cáo trạng VKS đã

truy tố nên KSV phải phân tích, đánh giá chứng cứ, viện dẫn các chứng cứ đã được

kiểm tra công khai tại phiên tòa, đảm bảo sự buộc tội của VKS (bản cáo trạng) là có

căn cứ.

Luận tội của VKS là cơ sở tranh luận giữa VKS với bị cáo, người bào chữa,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố

tụng khác, đồng thời là căn cứ để các bên đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về

toàn bộ nội dung vụ án. Đây là giai đoạn đấu lý quan trọng nhất, giai đoạn làm việc

cực lực của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải nên kiểm sát viên phải tập trung, nhạy

bén. Trên cơ sở luận tội, HĐXX sẽ xem xét, quyết định để đưa ra phán quyết đối

với toàn bộ vụ án và người phạm tội.

- Tranh luận với bị cáo, bị hại, nhân chứng, người bào chữa và những người

tham gia tố tụng khác.

Đối đáp, tranh luận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của KSV khi

THQCT tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Để thực hiện tốt việc đối đáp, tranh luận tại

phiên tòa, KSV phải nhiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tìm ra những vấn đề còn mâu thuẫn,

những chứng cứ còn yếu, đặc biệt phải xem xét đến các chứng cứ buộc tội, gỡ tội

một cách đầy đủ, đảm bảo tính khách quan. Bên cạnh đó, KSV còn cần phải xây

dựng kế hoạch xét hỏi gắn liền với kế hoạch tranh luận, dự kiến các tình huống có

thể xảy ra để chuẩn bị các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật

còn hiệu lực phục vụ tốt cho dự thảo nội dung tranh luận.

Tại phiên tòa, KSV phải tích cực tham gia xét hỏi để đấu tranh làm rõ

những chứng cứ, tình tiết chưa rõ nhưng cũng phải tập trung cao độ để theo dõi, ghi

chép đầy đủ các câu hỏi của Hội đồng xét xử, người bào chữa, các câu trả lời của bị

cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để phán đoán hướng bào chữa; từ

28

đó bổ sung vào dự thảo những ý kiến đối đáp, tranh luận. Nội dung đối đáp, tranh

luận của KSV tại phiên tòa phụ thuộc vào nội dung lời bào chữa của người bào

chữa, của bị cáo, bị hại… Khi đối đáp, tranh luận, KSV phải vận dụng, tổng hợp

những hiểu biết, kiến thức của mình về Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và

các văn bản pháp luật liên quan như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND

tối cao, Thông tư, Nghị định của Chính phủ, Liên ngành Trung ương … để xác định

chính xác tội danh, điều, khoản áp dụng hình phạt, trách nhiệm dân sự,… Trên cơ

sở các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã

được xét hỏi công khai tại phiên tòa, KSV phải đối đáp, tranh luận với người bào

chữa, bị cáo, bị hại những người tham gia tố tụng khác nhằm chứng minh luận điểm

của VKS là có căn cứ, đúng quy định để bác bỏ những luận điểm không đúng,

không đầy đủ, không trung thực của bị cáo, người bào chữa và những người tham

gia tố tụng khác ...

- Kháng nghị phúc thẩm:

Sau khi việc tranh luận kết thúc, bị cáo nói lời sau cùng Hội đồng xét xử sẽ

tiến hành nghị án để tuyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo. Tuy nhiên, việc xét xử

của Hội đồng xét xử không phải lúc nào cũng đúng, khó tránh khỏi những thiếu sót,

sai lầm không khắc phục được, gây nên tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Để

tránh những thiếu sót, sai lầm ấy thì cần thiết phải đảm bảo quyền “chống án” của

“bên buộc tội” và “bên gỡ tội” nên việc ra đời chế định kháng nghị phúc thẩm là

cần thiết. Vì vậy, Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014, điểm c khoản 1 Điều

266 BLTTHS năm 2015 quy định khi THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,

VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong

trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội”.

Theo tác giả Trần Thị Minh Ngọc: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền

năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện

thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Toà án

cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Thông qua việc kháng nghị phúc

29

thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời nhằm khắc phục

các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà

án chưa có hiệu lực pháp luật” [28, tr24].

Khi thực hiện chức năng THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,

VKS kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan,

sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.

Theo tác giả Trần Thị Quỳnh Anh: khái niệm “oan” có thể được hiểu là

“Trường hợp không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, do bị

vu cáo, dựng vụ án giả hoặc hành vi do người khác thực hiện, nhưng một người vẫn

bị điều tra, truy tố, xét xử và kết tội”. Khái niệm về “sai” có thể được hiểu là trường

hợp các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình

sự một cách không khách quan, không đầy đủ, trái với những quy định của pháp

luật. Việc để xảy ra sai trong xét xử vụ án hình sự với các biểu hiện như việc áp

dụng pháp luật hình thức, pháp luật nội dung không đúng, không đầy đủ, không

khách quan, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối

với một người phạm tội chưa chính xác [2, tr25].

Bỏ lọt tội phạm, người phạm tội: là trường hợp VKS truy tố người có hành

vi phạm tội nhưng vì lý do nào đó, Tòa án lại cho rằng không có sự việc phạm tội

hoặc người bị truy tố không phạm tội (bỏ lọt) và không bị một chế tài nào trừng

phạt mà vẫn “nhởn nhơ” ngoài vòng pháp luật.

Toàn bộ nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm

sở hữu chính là việc Kiểm sát viên, đại diện cho VKSND thực hiện tổng hợp các

quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thực hiện buộc

tội người phạm tội xâm phạm sở hữu tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất.

30

Tiểu kết Chương 1

Quá trình phát triển và hoàn thiện chế định quyền công tố gắn liền với bản

chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, gắn

với điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người của mỗi quốc

gia, bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau. Do đó, quyền công tố, THQCT

cũng có sự khác biệt nhất định.

Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS

đối với người phạm tội, quyền này được Nhà nước giao cho cơ quan VKS để phát

hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. THQCT là chức năng của

VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với

người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,

kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình

sự. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ được thu thập, VKS xác định tội phạm và người

phạm tội, quyết định truy tố người phạm tội ra trước Toà án và bảo vệ quyết định

truy tố tội đó trước phiên toà.

Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, có ý

nghĩa rất quan trọng, quyết định thành quả các hoạt động tố tụng trước đó nên khi

THQCT này, VKS phải sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung

quyền công tố để buộc tội người phạm tội tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất. Quá

trình này, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố

(theo thủ tục rút gọn) cùng hồ sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra

quyết định, bản án hoặc quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật, không bị kháng

cáo kháng nghị. Để thực hiện tốt công tác THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án xâm phạm sở hữu cần phải xác định rõ: Tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy

hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý

hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu được nhà nước

thừa nhận. Nhận dạng đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu thông qua việc nghiên

cứu cấu thành tội phạm của nhóm tội này, điểm đặc trưng riêng biệt của tội này với

tội khác để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố.

31

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ

SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành

quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng,

công cuộc cải cách về xã hội, kinh tế, chính trị đã đạt đến những bước phát triển

quan trọng, vừa là cơ hội - tiền đề, vừa là thách thức lớn đòi hỏi phải có những điều

chỉnh mang tính đột phá. So với kinh tế, xã hội thì xây dựng nhà nước pháp quyền -

chính trị có phần chậm hơn, trong đó cách tư pháp chậm hơn so với cải cách hành

chính. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội

phạm, tăng cường khả năng chống oan sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo

đảm các quyền tự do dân chủ của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy

định. Việc cải cách tư pháp trong đó có tố tụng hình sự phải bao gồm cả thẩm

quyền, nhiệm vụ của các chủ thể tố tụng, trình tự, thủ tục, thời hạn cũng như mối

quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói

chung, tranh tụng trong xét xử nói riêng đã được đề ra trong nhiều Nghị quyết của

Đảng về cải cách tư pháp, trong đó Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của

Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đặt

ra yêu cầu phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các chủ thể

tham gia tố tụng tại phiên tòa để đưa ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức

thuyết phục. Việc đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng

tại các phiên tòa, đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh theo tinh thần

Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn và trách nhiệm của các

32

chủ thể tham gia tố tụng. Đặc biệt, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 xác định

nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, đáp ứng ngày càng cao trong

công cuộc đổi mới nguyên tắc của tố tụng hình sự. Trên cơ sở thi hành Luật tổ chức

VKSND và kết quả tổng kết thực tiễn thi hành luật, Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015 đã bổ sung “Nguyên tắc trong xét xử được bảo đảm” nhằm đảm bảo cho

những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình,

bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát

viên khi THQCT tại phiên tòa nói chung và phiên toàn sơ thẩm nói riêng.

Kế thừa các quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 có

những sửa đổi, bổ sung các quy định về xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, đã

nhập Phần thứ ba (xét xử sơ thẩm) và Phần thứ tư (xét xử phúc thẩm) thành Phần

thứ tư (xét xử vụ án hình sự), gồm 03 chương: Chương XX. Những quy định chung;

Chương XXI. Xét xử sơ thẩm; Chương XXII. Xét xử phúc thẩm. Qua đó phản ánh

chính xác hai cấp xét xử, tạo cơ sở để loại bỏ những quy định trùng lắp, không nhất

thiết phải lặp đi, lặp lại ở cả sơ thẩm và phúc thẩm, nhằm đảm bảo tính khoa học

trong việc phân chia các giai đoạn tố tụng, phù hợp với lý luận và thực tiễn áp dụng.

Theo khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Nguyên tắc tranh tụng

trong xét xử được bảo đảm” [37], cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, BLTTHS

năm 2015 đã nhập “thủ tục xét hỏi tại phiên tòa” tại Chương XX với “tranh luận tại

phiên tòa” tại Chương XXI của BLTTHS năm 2003 thành “Thủ tục tranh tụng tại

phiên tòa” (Mục V Chương XXI Xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2015) để bảo

đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn thể hiện ngay

trong phần xét hỏi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, tố tụng hình sự Việt

Nam đã chính thức ghi nhận về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại BLTTHS, cụ thể là tại khoản 1 Điều 266

BLTTHS năm 2015. Có thể nói, đây là bước tiến mới, quan trọng trong công tác lập

pháp của nước ta, góp phần khẳng định vai trò của chức năng công tố và vị trí của

ngành kiểm sát.

33

Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của

BLTTHS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư

pháp, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung, tranh luận trong xét xử nói

riêng, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, cụ thể:

- Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nội dung THQCT có nhiều sửa đổi, bổ

sung nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, quy định rõ trách nhiệm

của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều

279), theo đó Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người

tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng,

người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa,

nhằm đảm bảo các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được đưa đến phiên tòa để xét xử phải

đầy đủ và hợp pháp, phiên tòa có đầy đủ các chủ thể tham gia tố tụng.

- BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp Viện kiểm sát phát

hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị

Tòa án trả hồ sơ” (khoản 2 Điều 280); sửa đổi quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ

sung: “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần

và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ bổ sung một lần”, “Có căn cứ khởi tố bị can

về một hay nhiều tội phạm khác”, “Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác

liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can”. Theo đó,

trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa yêu cầu và vẫn giữ

nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ

để giải quyết vụ án hoặc tiến hành xét xử vụ án; trường hợp kết quả điều tra bổ sung

dẫn đến phải thay đổi quyết định truy tố thì VKS ban hành bản cáo trạng mới thay

thế bản cáo trạng trước đó. Với những sửa đổi, bổ sung của BLTTHS đã đáp ứng sự

linh hoạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật và bảo đảm yêu cầu tranh tụng trong tố

tụng hình sự.

- Đồng thời, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung điều luật quy định cụ thể

nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, VKS

có nhiệm vụ, quyền hạn ( khoản 1 Điều 266):

34

“a) Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,

quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;

b) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;

c) Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết

luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về

việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;

d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ

lọt tội phạm, người phạm tội;

đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này” [35].

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung điều luật mới về nhiệm vụ và quyền hạn

của Kiểm sát viên khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, giúp

cho KSV nhận thức rõ nhiệm vụ và quyền hạn khi THQCT tại phiên tòa, để nâng

cao nhận thức trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.

- Công bố cáo trạng hoặc công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,

quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa:

Cáo trạng là văn bản pháp lý do VKS lập ra để khẳng định việc truy tố bị

can ra trước Tòa án để xét xử. Nội dung Cáo trạng, trên cơ sở kết quả điều tra và

kiểm sát điều tra, VKS xác định một hay nhiều người thực hiện hành vi phạm tội

cụ thể, từ đó truy tố ra trước Toà án để xét xử về một hay nhiều tội danh theo

điều khoản hình phạt cụ thể của BLHS. Cùng với cáo trạng, hồ sơ vụ án được

chuyển sang Tòa án đây là hoạt động đầu tiên của việc THQCT tại phiên tòa nhằm

công khai hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi truy tố, tại phiên toà Kiểm sát viên

công bố cáo trạng, xét hỏi và luận tội để bảo vệ bản cáo trạng đã truy tố. “Trước

khi tiến hành xét hỏi, KSV công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu

có). Ý kiến bổ sung không làm xấu đi trình trạng của bị cáo” (Điều 306), BLTTHS

năm 2015 có quy định mới KSV trình bày ý kiến bổ sung vào cáo trạng không được

làm xấu đi tình trạng của bị cáo, nhằm bảo đảm quyền của bị cáo (người bị buộc

tội).

35

Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh tụng nếu xét thấy có tình tiết mới có lợi

cho bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố, thì KSV trình bày lý do quyết định rút

một phần hay toàn bộ quyết định truy tố và phải chịu trách nhiệm về việc rút quyết

định, sau phiên tòa KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo.

- Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ

Tiếp tục quá trình điều tra, tại phiên tòa công khai với sự có mặt của các

chủ thể liên quan đến vụ án chính, để bảo vệ cáo trạng của VKS, KSV chủ động xét

hỏi, thẩm vấn, đưa ra những chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp để chứng

minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết từng sự việc của vụ án nên việc xét

hỏi, việc tham gia xét hỏi của KSV tại phiên tòa là bắt buộc. Trình tự xét hỏi tại

phiên tòa là một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của mô hình thẩm vấn của tố tụng

hình sự Việt Nam, thể hiện tại Mục V “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” BLTTHS

năm 2015. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc xét hỏi và quyết định việc xét hỏi; tùy

thuộc vào từng vụ án cụ thể chủ tọa phiên tòa quyết định việc hỏi ai trước, hỏi ai

sau để việc xét hỏi có hiệu quả nhất. Trách nhiệm xét hỏi thuộc về HĐXX mà thực

chất là chủ tọa phiên tòa, trình tự thủ tục hỏi tại phiên tòa là chủ tòa phiên tòa hỏi

trước, sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, người bào chữa, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc xét hỏi. Trước khi tham

gia phiên tòa, KSV phải chuẩn bị, dự thảo đề cương xét hỏi, dự kiến những nội

dung cần làm sáng tỏ, các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa. Tại phiên tòa,

KSV ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của HĐXX, người bào chữa, người tham gia

tố tụng khác, ý kiến trả lời của từng người được hỏi; khi KSV xét hỏi không hỏi lặp

lại những câu hỏi đã được hỏi trước đó, chủ động hỏi những vấn đề chưa được làm

rõ để làm sáng tỏ. Phạm vi xét hỏi của KSV bao gồm mọi khía cạnh liên quan đến

vụ án, đó là: Những chứng cứ, tình tiết xác định có tội và vô tội nhằm xác định sự

thật khách quan của vụ án, vai trò của từng bị cáo, những tình tiết tăng nặng và

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân bị cáo, nguyên nhân và điều

kiện phạm tội... trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp.

36

Khi có những tài liệu, chứng cứ, đồ vật mới phát sinh tại phiên tòa, KSV

cần kiểm tra, xét hỏi về nguồn gốc của những chứng cứ, đồ vật, tài liệu mới, xem

xét tính hợp pháp và có căn cứ nhằm xác định các chứng cứ, đồ vật, tài liệu mới có

làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án hay không.

Điểm mới của BLTTHS liên quan đến vấn đề xét hỏi là những người tham

gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình

tiết mới để làm sáng tỏ, bị cáo này có quyền đặt câu hỏi với bị cáo khác, bị hại,

đương sự, người làm chứng, người đại diện của họ về những vấn đề liên quan đến

vụ án nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý (Điều 307, Điều 309, Điều 310, Điều 311).

Để xác định, đối chiếu lời khai của bị cáo là có căn cứ hay không, HĐXX có thể

thực hiện việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, xem, nghe nội dung được ghi âm

hoặc ghi hình có âm thanh. Đồng thời có thể hỏi để nghe lời trình bày của đại diện

các cơ quan, tổ chức, người định giá tài sản, người giám định, yêu cầu Điều tra

viên, KSV, người tham gia tố tụng nêu quan điểm của mình để làm rõ những quyết

định hành vi tố tụng trong giai đoạn xem xét; xử lý thông tin tố giác tội phạm, điều

tra, truy tố, xét xử.

Trở lại việc xét hỏi (Điều 323) là việc HĐXX hỏi để làm rõ những vấn đề

chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ. Những vấn đề đã được xét hỏi, đã được làm

rõ thì HĐXX không hỏi lại. Sau khi HĐXX xong, KSV phải tiếp tục tranh luận theo

quy định, những vấn đề chưa được tranh luận hoặc đã tranh luận một phần thì KSV

tranh luận bổ sung, không lặp lại những nội dung đã tranh luận trước đó. Khi trong

lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với

vụ án thì HĐXX phải quyết định trở lại việc hỏi và yêu cầu bị cáo không được trình

bày những điểm không liên quan đến vụ án.

Tuy nhiên, Điều 307 BLTTHS năm 2015 quy định thẩm phán chủ tọa phiên

tòa là người điều hành xét hỏi và hỏi trước, hỏi chính; đến quyết định để hội thẩm

rồi mới đến KSV - người bảo vệ quan điểm truy tố, người tham gia tố tụng khác xét

hỏi. Quy định về thứ tự xét hỏi này là bất cập, nếu Thẩm phán có tinh thần đấu

tranh phòng đấu tội phạm thì vô hình trung đã dẫn đến việc thẩm phán làm thay

37

việc của KSV nhưng nếu thẩm phán có vấn đề không trong sáng thì “sẽ vẽ đường

cho hưu chạy” gây khó khăn cho việc KSV chứng minh hành vi phạm tội của bị

cáo, không đảm bảo tính vô tư của người “làm trọng tài, phân xử”, không thể hiện

đúng tinh thần của hoạt động tranh tụng. Bản chất của tranh tụng là việc tranh luận

giữa các bên có lập trường tương phản nhau, yêu cầu Thẩm phán chủ tọa làm trọng

tài phân xử. Thẩm phán là người điều hành xét hỏi là đúng, nhưng nếu thẩm phán là

người hỏi trước, hỏi chính thì vô hình trung đã làm thay nhiệm vụ của KSV hoặc

không vô tư trong việc làm rõ chứng cứ buộc tội tại phiên tòa và làm mất đi vị trí là

người trọng tài trung lập.

Mặt khác, sau khi truy tố thì VKS chuyển cáo trạng cùng hồ sơ vụ án đến

tòa án, trong đó có cả những tài liệu, đồ vật có thể đi kèm vụ án. Nếu tại phiên tòa,

bị cáo, bị hại hoặc những người tham gia tố tụng không nhớ những nội dung trước

đây đã khai hoặc mâu thuẫn hoặc bị cáo phản cung thì theo quy định Điều 308

BLHS cần phải công bố tài liệu, đồ vật để xem xét tại phiên tòa. Tuy nhiên, nếu hội

đồng xét xử phối hợp công bố tài liệu theo yêu cầu của KSV thì không vấn đề

nhưng nếu cho rằng trách nhiệm chứng minh, buộc tội của VKS thì lúc đó sẽ rất

khó khăn cho việc phạm tội.

- Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, kết

luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án

tại phiên tòa.

+ Luận tội và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa:

Luận tội là lời trình bày của KSV phân tích tội trạng, đề nghị kết tội bị cáo

khi việc xét hỏi kết thúc, mở đầu cho giai đoạn tranh luận. Luận tội là sự buộc tội

trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với bị cáo. Theo quy định của Luật

Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 42, 266, 320, 321 của BLTTHS năm 2015 và

Quy chế 505 thì luận tội là quyền hạn nhưng cũng là nhiệm vụ của KSV thuộc trình

tự tố tụng để bắt đầu hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa. Luận tội có ý

nghĩa pháp lý và chính trị rất lớn; luận tội của KSV thường được sự những người

tham dự phiên toà và công chúng quan tâm, đặc biệt chú ý theo dõi. Xét về tính chất

38

pháp lý, luận tội của KSV chính là công cụ để VKS THQCT Nhà nước tại phiên

toà. Để bản luận tội có chất lượng tốt, trước khi tham gia phiên toà, KSV cần phải

nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để chuẩn bị dự thảo luận tội. Khi xây dựng dự thảo luận

tội KSV phải đảm bảo tính có căn cứ, viện dẫn được chứng cứ chứng minh, đề xuất

đường lối, quan điểm giải quyết vụ án phải chính xác, khách quan. Khi xây dựng dự

thảo luận tội, KSV phải bám sát quy trình, theo đúng hướng dẫn tại Quy chế 505:

Dự thảo luận tội phải theo mẫu hướng dẫn của VKSND tối cao (Mẫu số 13), đối với

các vụ án trọng điểm, phức tạp, xét xử lưu động thì phải báo cáo Lãnh đạo VKS

duyệt và cho ý kiến về dự thảo luận tội…

Theo quy định tại Điều 321 BLTTHS năm 2015, luận tội phải căn cứ vào

những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa nên tại phiên tòa,

KSV cần tập trung chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích

cực, chủ động tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia tố tụng khác. Trên có cơ đó, KSV tiến hành sửa

chữa, bổ sung cập nhật vào nội dung của dự thảo luận tội cho chính xác, đầy đủ

trước khi trình bày luận tội.

Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ

những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra đối với

người bị hại và an ninh, chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Khi phân tích, đánh

giá các nội dung trên, cần đúng mức, không phóng đại. Đánh giá vấn đề gì, cần phải

có chứng cứ chứng minh chính xác, đầy đủ. Ngoài ra, luận tội còn phải phân tích,

đánh giá các nội dung khác gồm nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội

danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện

pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa

đối với vụ án. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì khoản 4

Điều 320 BLTTHS quy định: “bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung

ý kiến sau khi KSV trình bày luận tội” [35] .

39

Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, KSV khẳng

định nội dung truy tố của cáo trạng là đúng hay không đúng, cần phải thay đổi, bổ

sung, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn hay không; kết

luận và đề nghị xử lý về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự

trong vụ án. Trên cơ sở đó, KSV phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề

nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết tội về

tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung; biện pháp tư pháp,

trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Luận tội còn phải chỉ rõ ra, phân

tích kỹ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và vi phạm pháp luật để kiến

nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật cụ thể nhằm góp

phần vào công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật.

+ Tranh luận:

Mỗi mô hình tố tụng phụ thuộc vào truyền thống của mỗi quốc gia, có nhiều

quan điểm về tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa. Tác giả đồng tình với quan điểm:

Tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời, sự bàn cải giữa

KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ

sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, giúp

HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [5, tr.258]. BLTTHS đã

có nhiều quy định về sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc đưa

ra các chứng cứ, trách nhiệm tranh luận và đối đáp dân chủ. Hội đồng xét xử không

phải là một bên trong tranh tụng nhưng có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực

hiện các quyền và nghĩa vụ tranh tụng. Điều 218 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị

cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý

kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập

luận của mình đối với từng ý kiến...” [34]. BLTTHS năm 2015 đã có sự thay đổi

mới đáng kể về tranh tụng nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư

pháp, bảo đảm phiên tòa hình sự được xét xử công khai, khách quan, bình đẳng.

Theo quy định Điều 322 BLTTHS năm 2015: “Bị cáo, người bào chữa, người tham

gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của

40

mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác

định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả

do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự,

xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình

tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án” [35]. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố

tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ,

tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa,

người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Khi đối đáp, tranh luận Kiểm sát viên

phải vận dụng tổng hợp những hiểu biết, kiến thức pháp luật của mình về Bộ luật

hình sự, tố tụng hình sự, Luật, các văn bản pháp luật khác (Nghị quyết của Hội

đồng thẩm phán Tòa án tối cao, Thông tư, Nghị định của Chính phủ, Liên ngành

Trung ương …) có liên quan đến việc xác định tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm

sở hữu, điều khoản áp dụng hình phạt, trách nhiệm dân sự … trên cơ sở các chứng

cứ, tài liệu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dân sự đã được

thẩm tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải đối đáp, tranh luận với

bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để chứng minh luận

điểm của đại diện VKS tại phiên tòa là đúng, có căn cứ và luận điểm của bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác là không đúng, không đầy

đủ, không trung thực...Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người

khác. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận giữa bên buộc tội

và bên gỡ tội, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại

hoặc đại diện hợp pháp của họ, những người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình

bày hết ý kiến của mình. Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt, không cho

trình bày những ý kiến không liên quan đến vụ án hoặc những ý kiến lặp lại. Chủ

tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa,

người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh

luận. Như vậy, khi THQCT tại phiên tòa, KSV bắt buộc phải tranh luận, dự thảo đề

cương tranh luận phải được chuẩn bị trước, dự kiến những vấn đề cần tranh luận; tại

41

phiên tòa KSV phải ghi chép đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, đưa

ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến bị cáo, người

bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. KSV tổng hợp các ý kiến của

người bào chữa (nhiều người bào chữa) cho bị cáo hoặc những người tham gia tố

tụng khác có cùng nội dung để đối đáp chung đối với các ý kiến đó. Khi tranh luận,

KSV phải bình tĩnh, thận trọng, khách quan, tôn trọng ý kiến của những người tham

gia tố tụng, cần căn cứ vào lý luận của cấu thành tội phạm, phân tích, đánh giá bốn

yếu tố cấu thành tội phạm, lý luận về chứng cứ để lập luận một cách lôgic theo từng

vấn đề. KSV cần dựa vào các chứng cứ của vụ án, các quy định trong BLHS,

BLTTHS, các văn bản dưới luật, các quy định chuyên ngành, các quy tắc trong cuộc

sống để tranh luận, đối đáp, lập luận chặt chẽ khẳng định quan điểm đúng đắn của

mình, kiên quyết bác bỏ ý kiến sai trái hoặc không đúng của người bào chữa, bị cáo, bị

hại hoặc những người tham gia tố tụng khác. Thực tế THQCT tại phiên tòa sơ thẩm vụ

án hình sự cho thấy, người bào chữa, bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của bị hại, đương sự thường tập trung tranh luận vào những vấn đề sau:

Một là, bị cáo không nhận tội, người bào chữa cho rằng bị cáo không phạm

tội theo cáo trạng mà VKS đã truy tố, kết luận trong luận tội của KSV.

Hai là, bị cáo, người bào chữa thừa nhận bị cáo phạm tội nhưng với tội khác,

nhẹ hơn so với tội danh mà VKS truy tố, kết luận nên đề nghị thay đổi tội danh;

Ba là, thừa nhận bị cáo phạm tội theo đúng tội danh mà VKS đã truy tố

nhưng phạm vào khoản khác, nhẹ hơn so với khoản VKS đã truy tố.

Bốn là, thừa nhận bị cáo phạm tội theo đúng tội danh, điều khoản của VKS

đã truy tố nhưng quá trình điều tra, truy tố, xét xử có vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tạm hoãn phiên tòa, trả hồ sơ yêu cầu điều tra

bổ sung.

Năm là, không đồng ý với các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, đề nghị loại bỏ tình tiết tăng nặng, hoặc tăng thêm tình tiết giảm nhẹ.

Sáu là, không đồng ý với loại và mức hình phạt mà KSV đề nghị vì cho rằng

như vậy là nặng, không tương xứng và đề nghị mức hoặc loại hình phạt nhẹ hơn.

42

Bảy là, không đồng ý với mức bồi thường thiệt hại hoặc biện pháp xử lý vật

chứng do KSV đề nghị.

+ Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên

tòa (Điều 319):

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn

bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Trường hợp có căn cứ xác định

để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội khác nhẹ

hơn; kết luận về một khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn trong cùng một điều luật

làm thay đổi quyết định truy tố, đường lối xử lý đã được lãnh đạo cho ý kiến thì

KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Khi KSV rút một

phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử

vụ án.

Kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn;

Qua kết quả xét hỏi, cho dù kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa có thể

làm thay đổi nhận thức về hành vi phạm tội so với thời điểm truy tố theo khoản

hoặc tội nặng hơn cáo trạng đã truy tố thì KSV cũng không được kết luận theo

khoản khác nặng hơn khoản đã truy tố, không được kết luận theo tội khác nặng hơn

tội đã truy tố. Điều này mâu thuẫn với quy trình tố tụng ở giai đoạn điều tra và giới

hạn xét xử của Tòa án. Bởi theo khoản 3 Điều 8, khoản 4 Điều 9 Thông tư liên tịch

số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về quan hệ phối hợp giữa

Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự thì quá trình điều tra phát hiện bị can phạm vào khoản nặng hơn

khoản đã khởi tố thì cũng không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án, không phải

thay đổi quyết định khởi tố bị can [80]. Còn theo khoản 2, 3 Điều 298 BLTTHS

năm 2015, Ở giai đoạn xét xử, tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với

khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật (kể cả khoản khác nặng hơn

khoản đã truy tố), thậm chí có thể xét xử theo tội nặng hơn tội mà VKS đã truy tố

(sau khi đã trả hồ sơ để VKS truy tố lại nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy

tố). Điều này vô hình trung đã làm mất đi tính khách quan trong hoạt động chứng

43

minh của VKS, khiến cho hoạt động THQCT của VKS bị phụ thuộc vào kết quả

điều tra của CQĐT và hoạt động xét xử của tòa án. Cụ thể, khoản 1 Điều 266

BLTTHS năm 2015 không quy định về thẩm quyền của KSV khi luận tội tại phiên

tòa có thể kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố

trong cùng một điều luật. Còn điểm c khoản 1 Điều 266 BLTTHS năm 2015 lại quy

định VKS có quyền “kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn”, nhưng khoản 3 Điều

321 BLTTHS nãm 2015 (luận tội của KSV) và khoản 1 Điều 325 BLTTHS năm

2015 (xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa)

lại chỉ quy định KSV chỉ có thể kết luận về tội nhẹ hơn mà không quy định thẩm

quyền của KSV có thể kết luận về tội khác bằng với tội đã truy tố. Trong khi đó,

khoản 3 Điều 25 Quy chế 505 lại cho phép KSV có thể kết luận về khoản khác nhẹ

hơn hoặc nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật. Điều này

tạo nên sự không thống nhất trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

về THQCT của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. điều này gây khó

khăn cho KSV khi tranh luận, bởi vì những gì không được nêu trong bản luận tội thì

không thuộc phạm vi tranh luận.

Rút quyết định truy tố

Sau khi xét hỏi (Điều 319), khi luận tội, phát biểu quan điểm giải quyết vụ

án hoặc sau khi tranh luận (Điều 320, 322, 325), Kiểm sát viên nhận thấy có căn cứ

thuộc quy định Điều 285 BLTTHS thì KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết

định truy tố và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu KSV rút một

phần quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Nếu KSV rút

toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án Hội đồng xét xử yêu cầu những

người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút đó. Khi nghị án, nếu Hội đồng

xét xử cho rằng việc rút quyết định truy tố đúng đắn thì ra bản án tuyên bị cáo vô

tội; nếu thấy bị cáo có tội và rút quyết định truy tố không đúng, thì ra quyết định

tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị lên Viện trưởng VKSND cùng cấp hoặc Viện

trưởng VKSND cấp trên trực tiếp. Điểm bất cập là, khi KSV rút quyết định truy tố,

nhưng Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án hoặc kiến nghị lên VKSND cấp

44

trên, điều này không phù hợp. Bởi lẽ nếu KSV đã rút quyết định truy tố (rút toàn bộ

cáo trạng) thì đương nhiên sẽ không có lời luận tội, cũng không có việc đối đáp

tranh luận giữa các bên nhưng Tòa án vẫn tiếp tục xét xử, vẫn ra bản án thì trái với

chức năng xét xử của Tòa án, qua đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị buộc

tội. Đáng lẽ, khi KSV rút quyết định truy tố phần nào, HĐXX chỉ được xét xử phần

còn lại, và nếu KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì vụ án phải được tuyên bố bị

cáo vô tội, không phải HĐXX lựa chọn là tiếp tục xét xử. Như vậy, thẩm quyền của

Tòa án trong vấn đề rút quyết định truy tố đã mâu thuẫn với chức năng xét xử. Vì

giới hạn xét xử và quyền công tố của Kiểm sát viên đặt ra yêu cầu nếu không có

buộc tội thì không phát sinh việc xét xử.

+ Về giới hạn xét xử của tòa án

Quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 cho phép tòa

án xét xử theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố trong cùng hoặc

khác điều luật. Điều này thể hiện tính độc lập trong hoạt động xét xử của tòa án,

nhưng mặt khác lại ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động THQCT của VKS tại

phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bởi nếu tòa án cho rằng bị cáo phạm tội

nặng hơn cáo trạng đã truy tố nên đã tra trả hồ sơ để truy tố lại theo tội nặng hơn

nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm ban đầu, tức không truy tố theo tội nặng

hơn. Mà cáo trạng truy tố (buộc tội) thì mới có việc xét xử, không truy tố (buộc tội)

thì không có xét xử nhưng điều luật này cho phép tòa án xét xử khi không có buộc

tội của VKS là không đúng về chức năng tố tụng tư pháp. Trong trường hợp này,

tòa án kiêm luôn cả chức năng buộc tội dẫn đến việc xét xử không còn đảm bảo sự

vô tư, khách quan. Thậm chí còn vi phạm cả quyền bào chữa của bị buộc tội. bởi tại

phiên tòa sơ thẩm, KSV THQCT cũng không được kết luận về tội danh theo hướng

bất lợi cho bị cáo và ngay cả giai đoạn điều tra, nếu người bị buộc tội (bị can) phạm

vào tội nặng hơn còn phải thực hiện việc thay đổi quyết định khởi tố nhưng đối với

việc tòa án xét xử thì chỉ cần thông báo trả hồ sơ là có thể xử bị cáo theo tội danh

nặng hơn là chưa phù hợp.

+ Kháng nghị phúc thẩm

45

Kế thừa các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước đây, BLTTHS

năm 2015 đã quy định tiến bộ hơn về Kháng nghị phúc thẩm, trong đó có sự phân

định về kháng nghị phúc thẩm khi nào thuộc chức năng thực hành quyền công tố,

khi nào thuộc chức năng kiểm sát xét xử. Cụ thể điểm c khoản 1 Điều 266 BLTHS

năm 2015 quy định khi THQCT mà phát hiện bản án sơ thẩm có oan, sai, bỏ lọt tội

phạm, người phạm tội thì VKS sẽ kháng nghị phúc thẩm.

Trên thường tiễn việc kháng nghị phúc thẩm đối với các trường hợp oan, bỏ

lọt người, lọt tội là ít, vì phần lớn các cáo trạng truy tố của VKS phần lớn là đúng

quy định và được Hội đồng xét xử chấp nhận tuyên các bị cáo có tội. Điều đó,

không có nghĩa rằng trên thực tế không phát sinh kháng nghị phúc thẩm đối với bản

án sơ thẩm có dạng vi phạm này. Dạng vi phạm còn lại “sai” thường được VKS

kháng nghị phúc thẩm hơn, thường rơi vào dạng kháng nghị phúc thẩm đối với

trường hợp mức án mà hội đồng xét xử quá nhẹ, không tương xứng với tính chất,

mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Nhìn chung những quy định của BLTTHS năm 2015 về THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm không những khắc phục được hạn chế, thiếu sót của BLTTHS

năm 2003, BLTTHS năm 2015 còn đã có bổ sung nhiều quy định đảm bảo cho

nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, nâng cao vai trò trách nhiệm của KSV khi

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là một bên đảm bảo tranh tụng nhưng cũng

có những quy định còn bất cập, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động THQCT

của VKS tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

2.2.1. Khái quát về tình hình xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại

huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

Tỉnh Bình Phước là một trong các tỉnh nằm trong vùng minh tế trọng điểm

phía Nam và Chơn Thành là huyện kinh tế trọng điểm của tỉnh Bình Phước với

nhiều khu công nghiệp ngày càng phát triển nên có một vị trí địa chiến lược quan

trọng. Trong những năm quan, với sự chú trọng đầu tư của tỉnh Bình Phước, kinh tế

46

- xã hội ở huyện Chơn Thành phát triển nhanh. Đi đôi với sự phát triển kinh tế thì

hình vi phạm pháp luật và tội phạm ở huyện Chơn Thành cũng gia tăng, diễn biến

phức tạp, khó lường, tính chất, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội ngày càng tinh

vi, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra ngày càng nặng nề, trong đó có cả

các tội xâm phạm quyền sở hữu. Các cơ quan tiến hành tố tụng tại huyện Chơn

Thành đã có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật song

song với việc điều tra, khám phá án. Số lượng án hình sự nói chung, án liên quan

đến tội xâm phạm sở hữu nói riêng hàng năm tăng ít về số vụ nhưng tăng nhiều về

số người phạm tội với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với xã hội ngày càng cao.

Cụ thể số liệu xét xử trong 05 năm (2016 - 2020) như sau:

Qua thống kê số liệu (Bảng 2.1), có thể thấy từ năm 2016 đến năm 2020 số

lượng án xét xử liên quan đến các vụ án phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện

Chơn Thành tăng, giảm không ổn định, số lượng án và số bị cáo tăng dần từ năm

2016 đến năm 2018, sau đó giảm dần từ năm 2018 đến 2020, thấp hơn cả năm 2016.

Tổng số các vụ án hình sự Tòa án xét xử 558 vụ/1.037 bị cáo thì có đến 251vụ/378

bị can XPSH (chiếm tỷ lệ 44,98% vụ/36,45% bị cáo). Trong tổng số vụ án XPSH

được xét xử thì chủ yếu vẫn là nhóm tội có tính chiếm đoạt với 06 tội (chiếm

95,22%) gồm số vụ án trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ 70,12% (176 vụ/251 vụ), tiếp

đến là vụ án Cướp tài sản chiếm tỷ lệ 7,17% (18 vụ/251 vụ), vụ án lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản chiếm tỷ lệ 6,77% (17 vụ/251 vụ); vụ án lừa đảo chiếm

đoạt tài sản chiếm tỷ lệ 5,98% (15 vụ/251 vụ), , vụ án cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ

4,38% (11 vụ/251 vụ), vụ cưỡng đoạt tài sản 0,80%; còn lại nhóm tội không có tính

chiếm đoạt, với 1 tội vụ án hủy hoại tài sản (12 vụ/251 vụ) chiếm tỷ lệ 4,78%.

Trong các tội có tính chiếm đoạt thì số vụ/bị cáo chiếm tỷ lệ cao nhất là tội trộm cắp

tài sản, chiếm hơn 70% (02 vụ/251 vụ) [66], [67], [68], [69], [70].

Tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Chơn Thành ngày càng phát triển với tốc

độ cao, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm ngày càng

tăng về số lượng với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Các yếu tố

47

tiêu cực là nguyên nhân và điều kiện của tình hình các vụ án XPSH trên địa bàn

huyện Chơn Thành giai đoạn 2016- 2020 có thể khái quát như sau:

Về nguyên nhân khách quan: Môi trường gia đình, nhà trường và môi trường

xã hội trên địa bàn huyện Chơn Thành vẫn còn chứa đựng những yếu tố không lành

mạnh trong việc hình thành nhận thức, tình cảm đối với pháp luật, đạo đức truyền

thống đã có những tác động trong việc hình thành ý thức thiếu tôn trọng những giá

trị vật chất, quyền sở hữu tài sản của con người; sự di dân từ các vùng nông thôn về

các khu công nghiệp nên tập trung nhiều thành phần; công tác quản lý nhà nước trên

các lĩnh vực còn nhiều kẽ hở, hệ thống pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện;

nhiều tệ nạn nghiện game, hút chích, nhiều thành phần ăn chơi, đua đòi nhưng lười

lao động, thích hưởng thụ công sức của người khác; người bị hại nhẹ da, cả tin, sự

sơ hở của người quản lý tài sản; sự phát triển của công nghệ thông tin, các trang

mạng xã hội ...cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến phạm tội.

Về nguyên nhân chủ quan: Đa phần người phạm tội xâm phạm sở hữu có

trình độ thấp, có độ tuổi từ 18 đến 30; ý thức chấp hành pháp luật thấp, nhận thức

không đúng trong ý thức tôn trọng quyền sở hữu của con người, kết hợp với những

nhu cầu, sở thích không lành mạnh của người phạm tội đã dẫn đến hình thành động

cơ thực hiện hành vi phạm tội; có lối sống thích hưởng thụ nhưng lười lao động, hút

chích, nghiện game; một số tội phạm có sử dụng hung khí để gây án, có bàn bạc kế

hoạch gây án cụ thể, thực hiện hành vi phạm tội manh động; thực hiện hành vi

phạm tội xuyên tỉnh trong phạm vi cả nước.

Về điều kiện phạm tội: Người quản lý tài sản chưa có nhận thức đúng về việc

quản lý, bảo vệ tài sản, thiếu thận trọng trong cuộc sống, phô trương tài sản, mất

cảnh giác, nhẹ dạ cả tin,...đã tạo điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện

hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và sự manh động của đối tượng phạm

tội.

Trước diễn biến về tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, cấp ủy Đảng đã

chỉ đạo quyết liệt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; phối hợp với

chính quyền luôn xác định đây là công tác trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên,

48

nhằm góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. VKSND huyện

Chơn Thành đã có nhiều cố gắng, nỗ lực phấn đấu và đạt những kết quả đáng khích

lệ khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung và vụ án

xâm phạm sở hữu nói riêng. VKSND đã phối hợp với TAND huyện Chơn Thành

mở các phiên tòa rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp để nâng cao quyền

hạn, trách nhiệm, kỹ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký. Tại

phiên tòa, Kiểm sát viên đã chủ động, tích cực tham gia việc xét hỏi, tranh luận với

người bào chữa, bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự...và

những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật của vụ án. Tuy nhiên, khi

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu có những hạn chế,

khuyết điểm, sai sót như: truy tố bị can thiếu chứng cứ quan trọng, thu thập tài liệu

chưa đầy đủ, xây dựng hồ sơ có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ...dẫn đến

TAND huyện Chơn Thành phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc TAND tỉnh Bình

Phước tuyên hủy án để điều tra, xét xử lại vụ án.

2.2.2. Kết quả thực hành quyền công tố và nguyên nhân

2.2.2.1. Thực tiễn công bố cáo trạng hoặc công bố quyết định truy tố theo

thủ tục rút gọn tại phiên tòa sơ thẩm

Cáo trạng là văn bản pháp lý của VKS, với nội dung là những căn cứ cụ thể

dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các tình tiết của vụ án để từ đó truy tố bị can

ra trước tòa án. VKSND huyện Chơn Thành nói chung và từng Kiểm sát viên nói

riêng luôn chú trọng trong việc xây dựng cáo trạng để cáo trạng đảm bảo về nội

dung và hình thức,. Kiểm sát viên xây dựng dự thảo cáo trạng xong, được chuyển

cho lãnh đạo phụ trách bộ phận hình sự duyệt, sau đó chuyển đến Viện trưởng xem

xét. Như vậy, cáo trạng trước khi được ban hành chính thức được thông qua, nhận

xét, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện, đảm bảo đúng mẫu số

144/HS ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của

VKSND tối cao. Hàng năm, VKSND Chơn Thành tham gia các cuộc thi để nâng

cao chất lượng công tác kiểm sát, trong đó có thi viết cáo trạng, luận tội; đơn vị

thường xuyên họp để đánh giá chất lượng bản cáo trạng của Kiểm sát viên. Trong

49

quá trình xét xử, Kiểm sát viên đọc nguyên văn cáo trạng chính xác, rõ ràng, ngắt

câu, ngắt ý đúng chỗ, đúng lúc, âm lượng vừa đủ nghe tạo được sự trang nghiêm,

giúp cho những người tham dự phiên tòa nghe dễ hiểu, nắm bắt nhanh chóng được

nội dung vụ án. Điều này đã tạo được vị thế của người Kiểm sát viên tại phiên tòa,

giúp Kiểm sát viên tự tin hơn trong xét hỏi, tranh luận và đối đáp để chứng minh

hành vi phạm tội của bị cáo.

Kết quả công bố cáo trạng và bảo vệ cáo trạng đều đạt chất lượng, làm rõ

được các vấn đề tại phiên tòa để việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ năm 2016 - 2020 VKSND huyện Chơn Thành đã truy tố 298 vụ/467 bị cáo,

TAND huyện Chơn Thành đã xét xử 251 vụ/378 bị cáo, tương ứng VKSND huyện

Chơn Thành đã ban hành 298 bản cáo trạng. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung

là 24 vụ/48 bị cáo, VKS không chấp nhận thụ lý để điều tra bổ sung 13 vụ, giữ

nguyên cáo trạng đã truy tố, yêu cầu Tòa án tiếp nhận lại hồ sơ để xét xử theo quy

định của pháp luật đối với 11 vụ [66], [67], [68], [69], [70].

2.2.2.2. Thực tiễn hoạt động xét hỏi

Hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm trong thời gian

qua đã có những chuyển biến tích cực, từng Kiểm sát viên đã nhận thức đầy đủ hơn

về nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Trước khi THQCT tại phiên tòa, Kiểm sát viên

phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung vụ án, phải xây dựng đề cương xét hỏi

một cách chi tiết, câu hỏi phải ngắn gọn, đủ ý, dễ hiểu, rõ ràng nhằm làm sáng tỏ

các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo; dự kiến các vấn đề cần làm

sáng tỏ, đối chiếu với các lời khai đã có trong hồ sơ vụ án; dự kiến các tình huống

khác có thể phát sinh tại phiên tòa để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tại

phiên tòa, Kiểm sát viên tập trung theo dõi diễn biến phiên tòa, ghi chép đầy đủ nội

dung xét hỏi của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên,

người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến trả

lời của người được xét hỏi; Kiểm sát viên phải chủ động tham gia xét hỏi, không

hỏi lại những câu hỏi đã được hỏi để tránh sự chồng chéo không cần thiết. Khi xét

hỏi, Kiểm sát viên có thái độ bình tĩnh, không căn thẳng, đặt câu hỏi khách quan, rõ

50

ràng, dễ hiểu, tránh giải thích, kết luận ngay, linh hoạt khi đặt câu hỏi, tránh phụ

thuộc vào các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, nhạy bén, chủ động đưa ra những câu hỏi

phù hợp theo diễn biến tâm lý của bị cáo tại phiên tòa.

Kết quả THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ

năm 2016 - 2020, VKSND huyện Chơn Thành đã ra quyết định truy tố 298 vụ án

đối với 467 bị can. Tại phiên tòa, không có vụ án nào VKS không tham gia xét hỏi.

Khi xét hỏi, KSV luôn có thái độ nghiêm túc, lịch sự, xưng hô chuẩn mực, tuân thủ

đúng Quy tắc ứng xử của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt

động tư pháp tại phiên tòa, phiên họp của Tòa án ban hành kèm theo Quyết định số

46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 của VKSND tối cao; kiểm tra, xem xét lời khai

của bị cáo có phù hợp với vật chứng và các tình tiết khác của vụ án không, chủ

động xét hỏi về nguồn gốc chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ bản chất vụ án, làm

cơ sở để giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, việc xét hỏi tại phiên tòa vẫn do HĐXX mà chủ yếu là Thẩm

phán - Chủ tọa phiên tòa thực hiện nên Kiểm sát viên chưa phát huy được vai trò

tích cực trong việc xét hỏi để xác định tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm

tội. Đôi khi có những vụ án HĐXX hầu như đã hỏi cơ bản đầy đủ để xác định sự

thật khách quan của vụ án, Kiểm sát viên tham gia xét hỏi để bổ sung những câu hỏi

của HĐXX nhằm mục đích bảo vệ cáo trạng của mình là đúng và việc buộc tội bị

cáo có tội là có căn cứ.

2.2.2.3. Thực tiễn hoạt động tranh luận

Tranh luận được bắt đầu sau khi KSV luận tội đối với bị cáo, đưa ra quan

điểm về mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Trong

thời gian qua, Kiểm sát viên đã bám sát nội dung, yêu cầu của Quy chế thực hành

quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự [77], chuẩn bị kỹ lưỡng luận tội,

căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, người bào chữa,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; KSV không còn những luận

điểm quy chụp, suy diễn; bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiến của những

người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng đắn và bác bỏ những ý kiến, đề nghị

51

không có căn cứ pháp luật. Do đó, luận tội của KSV là phần được quan tâm theo dõi

đặc biệt của những người tham dự phiên tòa, nội dung luận tội phân tích sâu sắc,

khách quan, toàn diện, mang tích thuyết phục, bác bỏ những quan điểm sai trái của

bị cáo, người bào chữa trong quá trình xét hỏi; luận tội có tính giáo dục và tuyên

truyền pháp luật. Qua luận tội, KSV đã làm cho bị cáo, nhân dân hiểu biết thêm về

pháp luật, nhận thức sâu sắc hơn về sự công minh, nghiêm trị, khoan hồng của pháp

luật hình sự và chính sách của Nhà nước ta, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp

luật, nâng cao trách nhiệm trong phòng, chống tội phạm. Khi tranh luận, đối đáp,

KSV đã có thái độ bình tĩnh, linh hoạt, nói to, rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, đi thẳng

vào vấn đề, lập luận, phản bác quan điểm của người bào chữa, bị cáo có tính thuyết

phục hơn, có lý có tình trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan; thể hiện sự tôn

nghiêm qua tư thế, tác phong của người kiểm sát. Chất lượng tranh luận của KSV

tại phiên tòa từng bước được nâng lên, KSV đã tích cực, chủ động đối đáp với

những lập luận sắc bén để bác bỏ ý kiến và những đề nghị không đúng của bị cáo,

người bào chữa... nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của VKS.

Trong thực tiễn, luận tội của KSV tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện tóm tắt

được nội dung vụ án, phân tích đánh giá động cơ, nguyên nhân, điều kiện phạm tội,

vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giải quyết yêu cầu bồi thường và xử lý vật

chứng; KSV đã viện dẫn chứng cứ, khẳng định được tính có căn cứ của quyết định

truy tố, điều đó phản ánh chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của

KSV tại phiên tòa đã được nâng lên, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả

hoạt động công tác của VKSND huyện Chơn Thành trong những năm gần đây.

Đồng thời, khi THQCT tại phiên tòa, có nhiều trường hợp KSV được người tham

dự tại phiên tòa đánh giá cao về khả năng nhạy bén trong tranh luận, đối đáp, trong

xử lý tình huống mới phát sinh tại phiên tòa, đưa ra những lập luận sắc bén để

chứng minh bị cáo có tội và được HĐXX chấp nhận, dù cho bị cáo một mực không

nhận tội và kêu oan [66], [67], [68], [69], [70].

52

2.2.2.4. Thực tiễn hoạt động kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án

Qua 05 năm (2016-2020) VKSND huyện Chơn Thành đã THQCT tại phiên

tòa sơ thẩm đối với 251 vụ/558 bị cáo về tội xâm phạm sở hữu (Bảng 2.1). Nhìn

chung các luận tội, phát biểu quan điểm giải quyết về vụ án luôn cơ bản phù hợp

với quan điểm của hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Tuy nhiên, cùng có vài

trường hợp còn có sự khác nhau về quan điểm giải quyết vụ án, nhất là về vấn đề

mức hình phạt được áp dụng với bị cáo, trách nhiệm dân sự. Nhưng sự chênh lệch

về mức án giữa đề nghị của KSV và HĐXX không lớn nên VKSND huyện chơn

thành ít ban hành kháng nghị phúc thẩm. Theo (Bảng 2.2), tổng số vụ án TAND

huyện Chơn thành đã xét xử trong 05 năm (2016-2020) là 558 vụ thì có 251 vụ án

xâm phạm sở hữu, chiếm 45% (251/558) tổng số án hình sự đã xét xử. Trong tổng

số vụ án hình sự đã xét xử thì VKSND huyện Chơn Thành chỉ kháng nghị phúc

thẩm 03/558 vụ (chỉ chiếm 0,54%), trong đó riêng án xâm phạm sở hữu đã chiếm

2/3 số lượng kháng nghị phúc thẩm, chiếm 0,36% (2/558) tổng số án hình sự và

0,80% (2/251) án xâm phạm sở hữu đã xét xử, và tất cả các kháng nghị phúc thẩm

này đều rơi vào thời điểm năm 2019 về tội danh về tội trộm cắp tài sản và cướp tài

sản, các năm còn lại đều không có kháng nghị phúc thẩm. Trong số các vụ án hình

sự mà TAND huyện Chơn Thành đã xét xử, bao gồm cả án xâm phạm sở hữu thì

trong 05 năm qua, VKSND cấp trên (tỉnh Bình Phước) cũng không kháng nghị phúc

thẩm vụ nào (Bảng 2.5). Quán triệt Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày

19/6/2008 và Chỉ thị số 08/2016/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng

VKSND tối cao về tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án hình sự: “Viện kiểm

sát các cấp thường xuyên quan tâm, coi trọng công tác kháng nghị phúc thẩm, coi

đây là một trong những công việc trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong kế hoạch, chương trình công tác năm

phải đề ra chỉ tiêu phát hiện những bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm về áp

dụng pháp luật, về thủ tục tố tụng để kháng nghị phúc thẩm, hàng năm được đánh

giá thi đua đối với đơn vị” [75, tr1-2]; các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác theo các Nghị

quyết số 37/2013/QH13 và Nghị quyết số 111/2015/QH13 của Quốc hội, Quyết

53

định số 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao; VKSND

huyện Chơn Thành xác định công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự là một nhiệm

vụ trọng tâm, xuyên suốt của công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Từ đó,

đơn vị đã đề ra các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện hàng năm.

Để công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự nói chung, đối với các vụ án

xâm phạm sở sở hữu nói riêng đạt hiệu quả, được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước

chấp nhận; trước khi ban hành kháng nghị, lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành

trao đổi trước với Phòng THQCT và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự (gọi tắt

là Phòng 7) của VKSND tỉnh Bình Phước. Đồng thời, lãnh đạo VKSND huyện

Chơn Thành luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ bằng nhiều hình thức

cho KSV THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án

xâm phạm sở hữu nói riêng; lựa chọn và tổ chức các phiên toà rút kinh nghiệm theo

thần cải cách tư pháp có sự tham dự của nhiều KSV trong đơn vị; qua đó, đã phát

huy được trí tuệ tập thể trong giải quyết án, phát hiện được một số vi phạm trong

hoạt động xét xử của Tòa án, kiên quyết ban hành kháng nghị. Vì vậy, trong những

năm qua, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự tại VKSND huyện Chơn Thành đã

có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy số lượng

kháng nghị không nhiều nhưng các kháng nghị phúc thẩm luôn đảm bảo hình thức

đúng Mẫu số 15 ban hành kèm theo Quy chế 505; về nội dung kháng nghị đã chỉ ra

được vi phạm của bản án sơ thẩm, phân tích đánh giá được việc bản án áp dụng

mức hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị

cáo, việc phân tích lập luận chặt chẽ, viện dẫn đầy đủ căn cứ pháp luật nên chất

lượng kháng nghị được đảm bảo, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước chấp nhận đạt tỷ

lệ cao. Điển hình như: vụ án Nguyễn Trọng D trộm cắp tài sản:

Nguyễn Trọng D là người làm thuê cho anh Phạm Doãn K. Khoảng 20 giờ

ngày 17/6/2019, anh K và D bắt gà ở phía sau nhà anh K để hôm sau đi bán tại tỉnh

Bình Dương. Bắt gà được khoảng 15 phút thì D đi vệ sinh, khi đi vào nhà ngang

phòng khách thì phát hiện có 01 quần kaki màu xám của anh Khuyến để dưới nền

gạch, D cầm quần lên thấy trong ví da (bóp) có tiền. Quan sát không có ai, D lấy

54

30.900.000 đồng (gồm 60 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng/tờ, 09 tờ tiền mệnh giá

100.000 đồng/tờ) rồi để ví và quần lại như ban đầu. Sau đó D cất số tiền trong túi

quần rồi đi ra đường quốc lộ 14 đón xe khách đến thuê phòng trọ nghỉ tại khu vực

phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 18/6/2019, D

gặp bạn tên Đặng Thị Nam L (sinh năm 1983, nơi cư trú: xã Mỹ Lợi, huyện Phù

Mỹ, tỉnh Bình Định) tại khu vực quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây,

D đưa cho L mượn 55.000.000 đồng (trong đó, 30.900.000 đồng là tiền D lấy của

anh K và 24.100.000 đồng là tiền của riêng D). Sau khi đưa tiền, L đi về tỉnh Bình

Định, còn D sinh sống, làm thuê nhiều nơi tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình

Dương. Sau khi phát hiện mất tiền, anh K có liên lạc với D nhiều lần qua số điện

thoại di động 0347.554.759 và số 0968.964.568, D hứa sẽ trả số tiền đã trộm cho

anh K và cam kết cứ 10 ngày, D trả cho anh K 5.000.000 đồng và đến Công an

huyện Chơn Thành đầu thú, khai rõ hành vi phạm tội như trên.

Cáo trạng của VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo

Nguyễn Trọng D theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề

nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50 và các điểm i, s khoản 1, 2 Điều

51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 01 năm tù nhưng cho hưởng án

treo. Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2019/HSST, ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân

dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s

khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung

năm 2017, xử phạt Nguyễn Trọng D 01 năm tù.

Sau khi xét xử và nhận được bản án trên, Kiểm sát viên nhận thấy bị cáo D là

người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai

báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là lao

động chính trong gia đình và đang nuôi 2 con nhỏ nhưng TAND huyện Chơn Thành xử

phạt bị cáo D 01 năm tù là quá nghiêm khắc. Do đó, Kiểm sát viên đã kịp thời đề xuất

lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm

số 04/QĐ-VKS-HS, ngày 20/8/2019 kháng nghị một phần bản án nêu trên, đề nghị

TAND tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

và được TAND tỉnh Bình Phước chấp nhận giảm án cho bị cáo.

55

Để đạt được những kết quả tích cực như trên, trước tiên là sự quan tâm của

Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương là động lực to lớn giúp KSV vững tin,

kiên quyết đấu tranh bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo pháp luật được

chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Bên cạnh đó, KSV có ý thức được trách

nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác THQCT, luôn có tinh thần trách

nhiệm trong công tác; nắm vững các quy định của pháp luật nhất là các cấu thành

tội phạm xâm phạm sở hữu để áp dụng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo; có

kỹ năng để THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: kỹ năng xét

hỏi, tranh luận, đối đáp, ghi chép, tổng hợp và văn hóa ứng xử; nắm vững nội dung,

các tình tiết, chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị cáo; mối liên hệ giữa các chứng cứ

với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; dự thảo được những

tình huống phát sinh trong quá trình tranh tụng và có hướng giải quyết phù hợp; có

niềm tin nội tâm, kiên quyết đấu tranh bảo vệ công lý và phải đặt mình trong hoàn

cảnh của người phạm tội để đưa ra hướng xử lý cũng như mức hình phạt phù hợp,

đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội.

2.2.3. Hạn chế, thiếu sót trong thực hành quyền công tố và nguyên nhân

2.2.3.1. Hạn chế, thiếu sót trong thực hành quyền công tố

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác THQCT trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án XPSH tại huyện Chơn Thành còn có một số thiếu sót, hạn chế, ảnh

hưởng đến chất lượng giải quyết án, dẫn đến án bị trả để điều tra bổ sung. cụ thể:

Thứ nhất, khả năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng phát hiện vấn đề vi phạm

trong vụ án của một số KSV được phân công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án xâm phạm sở hữu còn hạn chế, không phát hiện được những vi phạm về

tố tụng, thiếu chứng cứ quan trọng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Thứ hai, một số trường hợp KSV chưa có tính chủ động trong nghiên cứu,

đánh giá còn chưa khách quan, toàn diện và đầy đủ đối với các chứng cứ buộc tội và

chứng cứ gỡ tội của bị cáo, chưa phát hiện được các chứng cứ còn thiếu và những

mâu thuẫn của chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội để chủ động đề ra yêu cầu điều

tra bổ sung.

56

Thứ ba, chất lượng tranh tụng của KSV tại một số phiên tòa còn hạn chế,

những vụ án có tình tiết phức tạp, nhiều luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho các

bị cáo thì KSV còn ngại tranh luận, đối đáp trực tiếp những vấn đề mà luật sư, bị

cáo nêu ra; chỉ tập trung vào việc luận tội, mà không tập trung việc tranh luận. Nội

dung tranh luận, đối đáp của KSV còn chung chung, chưa cụ thể về từng vấn đề cần

tranh luận, thiếu dẫn chứng từ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thiếu dẫn chứng

pháp lý để chứng minh cho quan điểm buộc tội của mình.

Theo Bảng thống kê 2.3, trong 05 năm qua (2016-2020), tổng số án hình sự

về xâm phạm sở hữu mà VKSND huyện Chơn Thành đã truy tố là 298 vụ thì có 24

vụ phải trả điều tra bổ sung, chiếm 8,1% (24/298). Trong tổng số 24 vụ án xâm

phậm sở hữu phải trả điều tra bổ sung thì có đến 13 vụ, chiếm 54% (13/24) án đã trả

và chiếm 4,4% (13/298) tổng số án truy tố do VKS trả cho cơ quan điều tra; Tòa án

trả cho VKS để điều tra bổ sung là 11 vụ, chiếm 46% (11/24) án đã trả và chiếm

3,7% (11/298) tổng số án truy tố. các vụ án mà VKS trả cho cơ quan điều tra, tòa án

trả cho VKS đều xảy ra vào các năm (từ 2016 đến 2020), lý do trả là do thu thập

chứng cứ chưa đầy đủ.

Đồng thời, chất lượng điều tra, truy tố còn hạn chế, KSV có trình độ, năng

lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được phân công; chưa nắm vững các văn

bản pháp luật về hình sự, TTHS, văn bản pháp luật liên quan; thiếu kỹ năng, kinh

nghiệm kiểm tra, đối chiếu, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong việc nghiên cứu hồ sơ

để nhận diện, xác nhận vi phạm nên không thể phát hiện được vi phạm, chưa đánh

giá đúng mức độ vi phạm; đôi khi KSV còn có thái độ lúng túng, bảo vệ cáo trạng

đã truy tố không đạt chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng THQCT tại

phiên tòa. Tuy không để xảy ra tình trạng tòa tuyên không phạm tội, oan nhưng vấn

đề “sai” hoặc hủy án để điều tra, xét xử lại là vấn đề khó tránh khỏi. Cụ thể:

Chẳng hạn như vụ án trộm cắp tài sản: Vũ Xuân T và Nguyễn Đình T biết

Điểu C rủ Điểu N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 93C1-254.51 ra

chỗ Xuân T và Đình T chơi nên đã bàn bạc nhau lên kế hoạch lấy trộm xe mô tô của

Điểu N. Do tại căn nhà hoang thuộc ấp Chà Là, xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản,

57

tỉnh Bình Phước có đông người nên Đình T không thực hiện được hành vi trộm xe

của Điểu N. Sau đó Xuân T đã tạo điều kiện thuận lợi để Đình T lén lút lấy trộm xe

mô tô của Điểu N tại phòng trọ của anh Huỳnh Thanh H tại ấp 3A, xã Minh Hưng,

huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Giá trị xe bị mất là 14.000.000 đồng.

Cáo trạng số 126/Ctr-VKS-CT, ngày 26/11/2019 của VKSND huyện Chơn

Thành truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều

173 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều

173 BLHS. Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST, ngày 18/3/2020 của TAND

huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17,

38, 50, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ

Xuân T 04 năm tù; căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 50, Điều 17,

38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn

Đình T 01 năm tù. Ngày 19/3/2020 bị cáo Vũ Xuân T có đơn kháng cáo kêu oan.

Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2020/HS-PT, ngày 22/7/2020 của TAND

tỉnh Bình Phước căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b, c khoản 1 Điều 358

BLTTHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp nhận một phần kháng cáo của

bị cáo Vũ Xuân T, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 18/3/2020

của TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Chuyển hồ sơ cho VKSND huyện

Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để điều tra và xét xử lại theo thủ tục chung.

Cáo trạng số 130/Ctr-VKS-CT, ngày 19/11/2020 của VKSND huyện Chơn

Thành truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều

173 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều

173 BLHS. Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2020/HSST, ngày 24/12/2020 của

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173,

điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi

bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 02 năm 06 tháng tù; căn cứ khoản 1

Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 50, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015,

sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 11 tháng 29 ngày tù.

58

Đối với vụ án trên, quá trình kiểm sát điều tra cũng như THQCT tại phiên

tòa, KSV không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án từ giai đoạn ban đầu để kịp thời đề ra

yêu cầu điều tra, dẫn đến thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, có vi phạm

nghiêm trọng tố tụng thủ tục tố tụng; tại phiên tòa sơ thẩm KSV cũng chưa phát

hiện để khắc phục nên bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại. Số vụ án hình

sự nói chung và án xâm phạm sở hữu nói riêng mà TAND huyện Chơn Thành đã

xét xử, bị cấp phúc thẩm hủy án chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Theo Bảng 2.4 thì số vụ án

trong 05 năm, cấp phúc thẩm chỉ hủy có 01 vụ án, chiếm 0,04% (01/251) án xâm

phạm sở hữu và chỉ chiếm 0,01% (01/558) tổng số án hình sự đã xét xử. Tuy nhiên,

đây cũng là thiếu sót cần phải rút kinh nghiệm.

2.2.3.2. Nguyên nhân

* Nguyên nhân khách quan

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa hoàn thiện,

có nhiều vướng mắc, khó hiểu, mâu thuẫn, chẳng hạn như Hiến pháp, Luật tổ chức

VKSND, BLTTHS quy định về chức năng của VKS là THQCT và kiểm sát các

hoạt động tư pháp nhưng chưa có điều luật nào giải thích hay quy định thống nhất

về khái niệm quyền công tố, THQCT cũng như nội dung, phạm vi, đặc điểm của

chúng, dẫn đến tình trạng có nhiều quan điểm khác nhau, gây khó khăn không chỉ

trong lý luận mà cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật; việc xét hỏi tại phiên tòa vẫn

do Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa điều khiển và HĐXX tiến hành thực hiện nên

KSV chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động khi THQCT. Trong thực tế, có

nhiều vụ án HĐXX đã hỏi đầy đủ, đã làm rõ các vấn đề khách quan khiến KSV có

tâm lý chủ quan, ỷ lại trong việc chứng minh tội phạm và bảo vệ quan điểm buộc tội

của mình.

- Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc đối với KSV còn hạn chế, khó khăn;

chế độ lương, thưởng thấp, chưa đảm bảo được cuộc sống nên KSV bị chi phối

trong công việc.

59

- Số lượng vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng

ngày càng tăng, trong khi biên chế KSV sơ cấp ít. Ngoài việc THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì KSV còn phải kiêm nhiệm thực hiện những

nhiệm vụ đối với việc giải quyết các loại án khác như hành chính, kinh doanh

thương mại, lao động, dân sự, hôn nhân và gia đình, áp dụng biện pháp xử lý hành

chính tại Tòa án hoặc kiêm nhiệm về thi hành án dân sự, hình sự...v.v, dẫn đến KSV

bị quá tải trong công việc, nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng công tác.

- Một số luật sư bào chữa cho bị cáo chưa vận dụng tốt các quyền năng pháp

lý, lập luận chưa có cơ sở vững chắc, áp dụng pháp luật còn hạn chế, không tranh

luận các tình tiết liên quan đến vụ án sát với các tính tiết cần chứng minh gỡ tội,

buộc tội mà thường đưa ra ý kiến nêu các tình tiết giảm nhẹ cho bị can, bị cáo;

không tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, đề nghị mức hình phạt không phù

hợp với quy định của pháp luật. Nhận thức pháp luật của bị can, bị cáo và những

người tham gia tố tụng khác còn hạn chế, chưa tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho

bản thân.

* Nguyên nhân chủ quan

- Lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành đôi lúc chưa thật sự quan tâm, sâu

sát trong quản lý, chỉ đạo điều hành, sắp xếp, bố trí KSV thực hiện nhiệm vụ đúng

năng lực, sở trường; ít thời gian để trực tiếp tham dự, theo dõi các phiên tòa rút kinh

nghiệm để kịp thời họp đánh giá, rút kinh nghiệm trong đơn vị những thiếu sót của

KSV trong THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chung và vụ án

xâm phạm sở hữu nói riêng.

- Kiểm sát viên khi được phân công giải quyết vụ án xâm phạm sở hữu còn

có biểu hiện chủ quan, chưa nghiêm túc trong nghiên cứu hồ sơ, dẫn đến đánh giá

chứng cứ không đầy đủ; còn chưa nghiên cứu quy định của pháp luật khi thực hiện

thao tác nghiệp vụ dẫn đến việc thực hiện hiện vụ không có sự chủ động, tích cực

trong khi THQCT tại phiên tòa, việc tham gia xét hỏi, trình bày quan điểm, tranh

luận qua loa, sơ sài; có thái độ ngại tranh luận, lời lẽ tranh luận không ngắn gọn, sắc

bén, không đủ tính răn đe, giáo dục và thuyết phục.

60

- Ý thức trách nhiệm của một số của KSV chưa cao, chưa nhận thức đúng

đắn về vị trí, vai trò của Ngành nói chung; chức năng, nhiệm vụ của KSV khi

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng, dẫn đến chất lượng thực hiện

nhiệm vụ còn nhiều hạn chế.

- Kiểm sát viên được phân công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án xâm phạm sở hữu chưa thể hiện hết tinh thần trách nhiệm, không nghiên cứu hồ

sơ một cách toàn diện, để hồ sơ vi phạm thủ tục tố tụng, xác định các dấu hiệu đặc

trưng của loại tội phạm nhất là các tội xâm phạm sở hữu còn thiếu chính xác, đánh

giá chứng cứ chưa đầy đủ dẫn đến còn tình trạng án bị trả điều tra bổ sung chiếm tỷ

lệ cao và án bị hủy để điều tra, xét xử lại.

- Tại phiên tòa việc tham gia xét hỏi của một số KSV còn qua loa, đại khái,

thiếu nhạy bén, không sát với nội dung vụ án cần xét hỏi làm rõ. Kiểm sát viên

không chủ động xây dựng kế hoạch xét hỏi hoặc dự kiến những vấn đề sẽ phát sinh

tại phiên tòa; thiếu chủ động trong việc xét hỏi, không tập trung theo dõi diễn biến

tại phiên tòa nên hỏi lặp lại những câu hỏi của HĐXX, không phát hiện được những

câu hỏi của HĐXX mang tính gợi ý, móm cung để nhắc nhở và một số KSV chưa

giữ được thái độ bình tĩnh khi xét hỏi.

- Một số Kiểm sát viên khi luận tội tại phiên toàn còn lặp nội dung bản cáo

trạng; chưa phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ xác

định bị cáo có tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; động cơ,

mục đích, thủ đoạn phạm tội, mức độ hậu quả; nhân thân người phạm tội, xác định

nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự,...kỹ năng nghiệp vụ có phần hạn chế, tâm lý thiếu vững vàng, nên

chưa có khả năng dự báo về những vấn đề sẽ phải tranh luận để bảo vệ cáo trạng.

61

Tiểu kết Chương 2

Qua thực tiễn THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở

hữu từ năm 2016 đến năm 2020 tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho thấy

VKSND huyện Chơn Thành đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong thực hiện tốt chức

năng, nhiệm vụ, hoàn thành tốt chỉ tiêu của Ngành đề ra, góp phần hoàn thành thắng

lợi chỉ tiêu Quốc hội giao. Điều này cho thấy, chất lượng công tác THQCT trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu được nâng cao, hình ảnh người

KSV tại phiên tòa được xã hội ghi nhận, KSV đã bảo vệ được Cáo trạng truy tố.

Tuy nhiên, khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu vẫn

còn những hạn chế, thiết sót cần phải khắc phục như: vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng, thiếu chứng cứ buộc tội, bỏ lọt tội phạm, mức án tuyên không tương xứng

với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo...dẫn đến bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ

sung, án bị hủy để điều tra, xét xử lại.

Đồng thời qua thực tiễn công tác, tác giả đã phân tích các nội dung THQCT

đúng và THQCT sai; xác định nguyên nhân để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các

giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng khâu công tác này.

62

Chương 3

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM

SỞ HỮU TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

3.1.1. Yêu cầu nâng cao vai trò của Viện kiểm sát

Trong những năm qua, cải cách tư pháp có vai trò hết sức quan trọng trong

việc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và hướng đến xây

dựng một nền tư pháp trong sạch, hội nhập quốc tế. Chủ trương của Đảng về yêu

cầu cải cách tư pháp đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải thật sự vững mạnh, trong

sạch, là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo

vệ quyền con người. Năm 2021, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại

hội XIII của Đảng và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Ngành Kiểm sát nhân dân đứng

trước nhiều thách thức, áp lực do phải thực hiện nhiều nhiệm vụ, quyền hạn và trách

nhiệm tăng thêm theo các đạo luật mới về tư pháp, đặc biệt phải chịu nhiều chế tài,

trách nhiệm trong thực thi công vụ; số lượng các vụ, việc tăng, tính chất ngày càng

phức tạp, quy mô ngày càng lớn, nhất là đối với các vụ án xâm phạm sở hữu. Tuy

nhiên, công tác THQCT có nhiều chuyển biến tích cực, trách nhiệm công tố được

tăng cường ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm, nhằm đảm bảo cho

VKS thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền

con người, quyền công dân. Vai trò, trách nhiệm công tố của KSV tại các phiên tòa

hình sự được nâng lên, góp phần quan trọng, bảo đảm khách quan, dân chủ, bảo vệ

quyền con người, quyền và lợi ích của công dân.

VKSND phải thực hiện tốt nhiệm vụ THQCT, là một chủ trương nhất quán

của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập Ngành Kiểm sát nhân dân và được Đảng

ta đặc biệt nhấn mạnh trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trong các Nghị quyết

của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-

63

NQ/TW, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng và Văn kiện Đại hội lần thứ XIII

của Đảng đã khẳng định và đặt ra yêu cầu VKSND phải nâng cao hơn nữa chất

lượng THQCT và thực hiện có bước đột phá trong công tác này. Đặc biệt, Ban Chỉ

đạo Tư pháp Trung ương họp cho ý kiến về việc xây dựng đề án “Chiến lược xây

dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm

2030, định hướng đến năm 2045”, đặt ra yêu cầu xây dựng nền tư pháp bảo đảm

tính chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm minh, công chính, phụng sự Tổ quốc

và phụng sự nhân dân. VKSND huyện Chơn Thành xác định tầm quan trọng của

công tác THQCT nói chung và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa nói riêng theo tinh

thần khoản 5 Điều 103 Hiến pháp sửa đổi năm 2013: "Nguyên tắc tranh tụng trong

xét xử được bảo đảm", đã triển khai quy định của Hiến pháp để KSV nhận thức đầy

đủ, đúng đắn quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, thống nhất

nhận thức pháp luật về mục đích, ý nghĩa, phạm vi, nội dung, phương pháp THQCT

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án xâm phạm sở

hữu, KSV thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo quy định một cách nghiêm túc để nguyên

tắc tranh tụng được bảo đảm bảo, pháp luật hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh.

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án

xâm phạm sở hữu nói riêng là giai đoạn quan trọng của quá trình tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc xét hỏi công khai, khách quan của những người

tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng khẳng định kết quả thực hiện của

các giai đoạn trước đó. KSV với tư cách là người bảo vệ cáo trạng, bảo vệ sự buộc

tội là có căn cứ, đúng pháp luật phải chứng minh trên cơ sở chứng cứ được thu thập

trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử, để buộc tội đúng người,

đúng tội; không thể buộc tội mà không có căn cứ, Tòa tuyên không phạm tội, trả

điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ, bỏ lọt người.

3.1.2. Yêu cầu nâng cao việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện

kiểm sát từ thực tiễn áp dụng pháp luật và đấu tranh phòng, chống tội phạm

BLTTHS năm 2003 đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh

phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn

64

xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Những quy định của BLTTHS năm 2003 đã thể

hiện sự kế thừa và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn nước ta

trước đây, đồng thời thể chế hóa kịp thời chủ trương cải cách tư pháp đề ra trong

Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số

nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Tuy nhiên, qua thực

tiễn, BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập cả về kỹ thuật xây

dựng, lý luận lẫn thực tiễn áp dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, đặc biệt THQCT

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu chống bỏ

lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013 là tôn trọng, bảo vệ, bảo

đảm quyền con người, quyền công dân, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa thành

những quy định, yêu cầu cụ thể đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó

quy định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, quy định rõ hơn

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong công tác THQCT nói chung và

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.

Để THQCT đạt kết quả cao, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói

chung cũng như vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, đáp ứng với đòi hỏi của cải cách

tư pháp trong thời gian tới, VKS cần phải thực hiện các yêu cầu như sau:

Thứ nhất, sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo sâu sát của cấp ủy Đảng và chính

quyền địa phương đối với KSV là điều kiện cần thiết để KSV tự tin thực hiện nhiệm

vụ được giao.

Thứ hai, Kiểm sát viên không chỉ là những cán bộ có lương tâm và trách

nhiệm cao, có khả năng phản ứng linh hoạt, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm

trước những vấn đề phức tạp mới phát sinh tại phiên Tòa, mà còn là người có văn

hóa, có hình thức nhất định để tham gia phiên Tòa. Mỗi KSV cũng phải tự rèn luyện

mình về phẩm chất đạo đức, về năm đức tính của người cán bộ kiểm sát: “công

kinh, chính trực, khánh quan, thận trọng, khiêm tốn”, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lẽ

65

phải, bảo vệ công lý, đề nghị hướng xử lý, mức hình phạt phù hợp, không để bỏ lọt

tội phạm, không làm oan người vô tội.

Thứ ba, KSV phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ

chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững các quy định của pháp luật, đặc biệt là các cấu

thành tội phạm, phân biệt các tội xâm phạm sở hữu để áp dụng đối với hành vi

phạm tội của từng bị cáo, chủ động dùng pháp luật để xét hỏi, tranh luận tại phiên

tòa. Sự am hiểu toàn diện các quy định của pháp luật sẽ giúp cho KSV có được tâm

lý tự tin để bảo vệ quan điểm buộc tội của VKS.

Thứ tư, Kiểm sát viên phải nắm vững nội dung vụ án, phân tích, đánh giá

khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị cáo, tính

chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; dự kiến các tình huống có thể

phát sinh trong quá trình tranh tụng, tránh bị động tại phiên tòa.

Thứ năm, Kiểm sát viên cần nghiên cứu nhiều lĩnh vực để am hiểu các mặt

của đời sống xã hội, tâm lý tội phạm, tổng hợp kinh nghiệm trong khi thi hành

nhiệm vụ để trao dồi kỹ năng xét hỏi, tranh luận, đối đáp, ghi chép, tổng hợp và quy

chế ứng xử trong khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được bảo đảm chất

lượng.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu

Giải pháp chính

BLTTHS năm 2015 được ban hành đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải

cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, tăng cường trách nhiệm của các cơ

quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp

phần quan trọng thực hiện mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,

dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,

phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Để nâng cao chất lượng THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng

trong tiến trình cải cách tư pháp, tác giả tán thành với ý kiến sửa đổi, hoàn thiện

66

BLTTHS và tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự theo hướng

như sau:

Một là, trong tố tụng hình sự cần đưa ra khái niệm thống nhất về “quyền

công tố” và “thực hành quyền công tố” để tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận thức về

vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKS.

Hai là, tranh tụng được quy định là một nguyên tắc trong xét xử được quy

định tại Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 26 BLTTHS năm 2015:“Nguyên tắc

tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Do đó cần thiết phải xây dựng các chế định

làm rõ nội dung, phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của VKS, Luật sư, Thẩm phán

trong phiên tòa hình sự; trình tự thu thập và cung cấp chứng cứ của luật sư; nâng

cao hơn nữa trách nhiệm KSV trong tranh tụng tại phiên tòa...nhằm đảm bảo cơ chế

để hoạt động tranh tụng thực sự dân chủ. Đồng thời, cần có những quy định cụ thể

và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của KSV và người bào chữa trong quá

trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của KSV và Luật sư.

Ba là, VKS là cơ quan duy nhất THQCT có trách nhiệm chứng minh sự thật

của vụ án tại phiên tòa, bảo đảm sự buộc tội là có căn cứ. Tuy nhiên, BLTTHS quy

định chủ tọa phiên tòa hỏi trước đã chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm của

VKS sang Tòa án, Điều 307 BLTTHS năm 2015 quy định:“Chủ tọa phiên tòa hỏi

trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi”. Như vậy,

BLTTHS chưa tạo điều kiện để KSV phát huy tính chủ động, tích cực và trách

nhiệm của bên buộc tội trong thực hiện chức năng tố tụng của mình. Để VKS thực

hiện tốt công tác THQCT cần sửa đổi quy định trên theo hướng phát huy tính chủ

động, tích cực của bên buộc tội, bên bào chữa trong hoạt động xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, tạo điều kiện để KSV kiểm tra công khai những chứng cứ đã thu thập

được trong giai đoạn điều tra, nên quy định KSV và người bào chữa xét hỏi là chủ

yếu, trong đó KSV phải là người xét hỏi đầu tiên, đến người bào chữa hỏi đối với bị

cáo, người làm chứng, người bị hại,...HĐXX lắng nghe, tổng hợp kết quả xét hỏi và

trả lời của các bên tham gia tố tụng, khi cần thiết HĐXX có thể yêu cầu KSV hoặc

67

người bào chữa hỏi thêm, trình bày thêm những vấn đề cần chứng minh trong vụ án.

HĐXX chỉ hỏi khi cần thiết, khi thấy có nội dung chưa được làm rõ.

Sửa đổi quy định khoản 2 Điều 307 BLTTHS cho phù hợp về việc chủ tọa

phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý

với quy định, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự thực hiện việc hỏi trước, chủ tọa phiên tòa hỏi; bổ sung vào khoản 2 Điều

322 BLTTHS về quy định căn cứ “đối đáp đến cùng” khi KSV phải đưa ra chứng

cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa,

người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa... Do đó, các cơ quan tư pháp ở Trung

ương cần khẩn trương tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn các quy định của Bộ

luật hình sự, Bộ luật TTHS và các quy định còn có vướng mắc khác

Bốn là, cần sửa đổi các quy định liên quan đến THQCT trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS 2015 trên các nội dung:

- Sửa đổi quy định về việc VKS rút quyết định truy tố: Theo Điều 285 Bộ

luật TTHS hiện hành: " Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157

của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2

Điều 91 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở

phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án” [35]. Tôi đồng tình với một số tác giả

là quy định này chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính độc lập của VKS trong THQCT.

Bởi vì, khi VKS rút quyết định truy tố thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc chấm

dứt việc THQCT. Do đó, cần phải sửa đổi quy định này theo hướng khi VKS rút

quyết định truy tố thì đồng thời VKS có quyền đình chỉ vụ án. Tương tự như vậy, để

khẳng định rõ vai trò của VKS là cơ quan duy nhất THQCT thì cần sửa đổi một số

quy định tại Điều 248 của BLTTHS theo hướng: Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi,

KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, trong trường hợp rút toàn

bộ quyết định truy tố, vụ án phải được đình chỉ, nếu rút một phần quyết định truy tố

thì Tòa án chỉ xét xử phần còn lại.

- Về giới hạn xét xử của Tòa án: Không nên quy định Tòa án có thể xét xử bị

cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật, xử

68

khác với tội danh mà VKS đã truy tố theo quy tại Điều 298 BLTTHS năm 2015.

Việc quy định như vậy đã cho phép Tòa án buộc tội theo hướng nặng hơn VKS đã

truy tố, gây bất lợi cho bị cáo, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội. Mặt khác, mỗi

khoản quy định trong Bộ luật hình sự là một trường hợp phạm tội với những tình

tiết định khung khác nhau, với những nội dung cần chứng minh khác nhau, theo đó

các khoản quy định trong một điều luật thường quy định hình phạt theo hướng nặng

hơn, thậm chí khung hình phạt là tử hình đòi hỏi phải thực hiện quy định riêng về

quyền bào chữa, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị cáo.

Khi Tòa án xét xử về một tội mà VKS không buộc tội thì bản thân Tòa án đã làm cả

chức năng buộc tội, trái với chức năng của Tòa án là cơ quan xét xử, trọng tài phán

xử, lúc đó việc xét xử của Tòa án không còn đảm bảo tính vô tư, khách quan mà

luôn thiên định bị cáo có tội theo tội nặng hơn. và cũng trái với quan điểm của Đảng

về việc phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự.

Năm là, để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các

phiên tòa hình sự, theo tác giả cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau gồm

các giải pháp pháp lý, các giải pháp về tổ chức, các giải pháp về con người, các giải

pháp vật chất – kỹ thuật, có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng phù

hợp với hoạt động đặc thù của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…Các giải

pháp này liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề và điều kiện để

tiến hành các giải pháp kia và ngược lại đạt hiệu quả cao.

Tóm lại, các giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện

hành liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa quan trọng,

góp phần thiết thực vào quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; giải quyết

các vấn đề vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án

hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng; cải cách hệ thống các cơ

quan tiến hành tố tụng các cấp, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong

công tác.

- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Ngành kiểm sát nhân

dân: Nhằm xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

69

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, Đảng

và Nhà nước cần quy định chính sách tiền lương, đãi ngộ phù hợp cho cán bộ, KSV,

bảo đảm điều kiện để họ có thể nuôi sống bản thân, gia đình, an tâm công tác; trang

bị thêm phương tiện đi lại thực thi công vụ, trang bị thêm nhiều máy tính xách tay

để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ, các thiết bị

để phục vụ việc ghi âm, ghi hình... theo yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự Việt

Nam.

3.3 . Các giải pháp khác

- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân

dân ở địa phương: Lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cần

nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nói chung

và công tác của Ngành Kiểm sát nói riêng; tiếp tục chỉ đạo thực hiện các Chỉ thị,

Nghị quyết của Đảng về công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Cấp

ủy Đảng cần chú trọng lãnh đạo về công tác cán bộ, lựa chọn những cán bộ có tâm

có tầm, bản lĩnh, tâm huyết để bố trí vào các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan tiến

hành tố tụng; quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn nhằm

đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế.

- Nâng cao năng lực, đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với

hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm: Lãnh đạo

VKSND huyện Chơn Thành cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả THQCT của

KSV trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở

hữu nói riêng theo đúng quy định pháp luật và Quy chế của Ngành Kiểm sát. Việc

kiểm tra, đánh giá phải làm thường xuyên, để kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai

phạm của KSV để nhắc nhở, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng giải công tác.

Đồng thời, VKSND cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Tòa án trong việc tổ chức

các phiên tòa rút kinh nghiệm liên quan đến các vụ án xâm phạm sở hữu nhất là

những vụ án có nhiều bị cáo, có tính chất phức tạp, bị cáo không nhận tội, có sự

tham gia của luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, giúp

KSV trao dồi kỹ năng, năng lực THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm

70

phạm sở hữu. Sau phiên tòa, lãnh đạo đơn vị phải kịp thời tổ chức họp rút kinh

nghiệm, đánh giá khách quan, toàn diện các hoạt động nghiệp vụ của KSV tại phiên

tòa như việc thẩm vấn, tranh tụng, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa...tập trung

làm rõ những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Đây là một hoạt động

quan trọng, là biện pháp tự đào tạo và đào tạo lại nghiệp vụ cho Kiểm sát viên.

- Nâng cao năng lực thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

vụ án xâm phạm sở hữu: Chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa phụ thuộc rất

nhiều vào các chứng cứ (nhất là vật chứng, kết quả định giá, giám định) thu thập

được ở giai đoạn điều tra, giúp cho KSV nắm chắc các tình tiết, nội dung của vụ án.

Để nắm bắt được thái độ tâm lý, KSV tiếp xúc trực tiếp với bị can ở giai đoạn điều

tra, giúp KSV có thể dự kiến những vấn đề sẽ phát sinh tại phiên tòa, dự thảo luận

tội, dự kiến nội dung đối đáp, tranh luận có chất lượng.

Thứ hai, nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án của KSV: Khi được phân

công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, Kiểm sát

viên VKSND huyện Chơn Thành phải tập trung nghiên cứu hồ sơ vụ án, trích cứu

hồ sơ, ghi chép cụ thể, tỉ mỉ những chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dân sự, xử lý vật chứng và sao chụp, photocoppy lại

những chứng cứ quan trọng như: biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật

chứng, kết luận định giá, giám định...sắp xếp các tài liệu trong hồ sơ một cách khoa học

để đối chiếu, so sánh để loại trừ những nội dung không hợp lý, chắt lọc các nội dung

hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình tiết liên quan đến vụ án.

Tại phiên toà, KSV chủ động được trong việc viện dẫn chứng cụ thể, chính xác.

Đối với những vụ án phức tạp, nhiều bị cáo thì KSV cần nghiên cứu một cách

khoa học để tổng hợp các chứng cứ (phân loại theo nhóm chứng cứ), xác định vai trò

của từng bị cáo trong vụ án để thuận lợi cho việc xét hỏi, luận tội và tranh luận tại

phiên tòa. KSV phải nhạy bén để phát hiện những mâu thuẫn trong các lời khai, chứng

cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo để có biện pháp khắc phục kịp thời.

71

Thứ ba, nâng cao kỹ năng trình bày cáo trạng của KSV tại phiên tòa: Khi đọc

cáo trạng, KSV phải đứng dậy, hướng về phía những người tham dự phiên tòa, khi

thấy bị cáo ngồi thì phải đề nghị Chủ tọa phiên tòa cho đứng dậy để nghe cáo trạng.

KSV phải thông qua nguyên văn cáo trạng, giọng đọc to, rõ ràng, mạch lạc, chính

xác, ngắt câu đúng lúc, đúng chỗ. Sau khi đọc cáo trạng, KSV có thể trình bày ý

kiến bổ sung để làm rõ thêm nhưng không được làm thay đổi nội dung cáo trạng đã

truy tố.

Thứ tư, nâng cao chất xây dựng đề cương xét hỏi và kỹ năng xét hỏi của KSV

tại phiên tòa: Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi đối

với bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ nội dung của vụ

án như: hành vi, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, phương tiện, thủ

đoạn phạm tội, vật chứng thu giữ; làm rõ ý thức chủ quan của bị cáo đối với một số

hành vi hay thủ đoạn phạm tội để qua đó định tội danh chính xác.

Ví dụ như để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo biết hành vi của

mình là lén lút hay không để phân biệt tội Trộm cắp tài sản với tội Công nhiên

chiếm đoạt tài sản; tính chất hành vi có dùng vũ lực hay đe đọa dùng vũ lực, dùng

ngay tức khắc hay sẽ dùng để phân biệt tội Cướp tài sản với tội Cưỡng đoạt tài sản.

Mục đích việc dùng vũ lực của bị cáo khi thực hiện hành vi trộm cắp, cướp giật bị

phát hiện là để chiếm giữ tài sản hay để trốn khỏi khi bị bắt giữ nhằm phân biệt tội

phạm có chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội Cướp tài sản, hay chỉ là tình tiết

định khung “hành hung để tẩu thoát”; dự kiến những tình huống có thể xảy ra tại

phiên tòa như khả năng phản cung của bị cáo, thái độ tâm lý, thay đổi lời khai của

những người tham gia tố tụng; dự kiến những tài liệu, chứng cứ đưa ra để đấu tranh

với bị cáo, trích đọc lời khai của bị cáo...Nội dung các câu hỏi phải ngắn gọn, rõ

ràng, dễ hiểu, không đặt các câu hỏi dụ cung, mớm cung.

Tại phiên tòa, KSV phải tập trung lắng nghe, theo dõi, đối chiếu với những

câu hỏi của thành viên HĐXX, những câu hỏi HĐXX đã hỏi thì KSV không phải

lặp lại. Khi phát sinh các tài liệu mới tại phiên tòa, KSV phải kiểm tra và xét hỏi về

nguồn gốc, nội dung để có kết luận về tính hợp pháp, có căn cứ của tài liệu đó; nếu

72

chưa đủ điều kiện kết luận mà nó có thể làm thay đổi sự thật khách quan của vụ án

thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để xác minh, làm rõ.

Thứ năm, nâng cao chất lượng xây dựng dự thảo luận tội của KSV: Luận tội

của KSV là quan điểm của VKS về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng đã

truy tố. Do đó, nội dung luận tội phải có tính thuyết phục cao, vừa có tình vừa có lý,

vừa mang tính giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Trước khi

tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo luận tội, nội dung bản luận tội phải bám sát

cáo trạng đã truy tố, nhưng không phải sao chép, lặp lại nội dung của cáo trạng. Dự

thảo luận tội phải căn cứ vào các chứng cứ, vật chứng, lời trình bày của bị cáo,

người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những

người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, qua kết quả xét hỏi nếu có những vấn đề

mới cần bổ sung thì Kiểm sát viên phải bổ sung bản luận tội cho phù hợp.

Khi phân tích, đánh giá chứng cứ đối với vụ án có bị cáo phạm nhiều tội thì

KSV phải phân tích từ bị cáo phạm tội có khung hình phạt nặng đến tội nhẹ hơn;

phải phân tích vai trò của từng bị cáo theo hướng bị cáo có vai trò chủ mưu cầm đầu

trước rồi đến vai trò các bị cáo khác theo hướng giảm dần về thái độ tích cực của bị

cáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm; trách nhiệm, hậu quả, nhân thân,

các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từng bị cáo; đồng thời,

xem xét đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự để cân nhắc lựa chọn điều,

khoản của BLHS để đề nghị Toà án áp dụng chính xác theo thứ tự: đề nghị hình

phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Thứ sáu, nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trước

khi tham dự phiên tòa, KSV phải dự kiến những vấn đề cần tranh luận như: đánh

giá chứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây

ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân bị cáo, nguyên nhân và điều

kiện phạm tội, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của bị cáo trong

đồng phạm...Chuẩn bị lý lẽ để bác bỏ những quan điểm không đúng của bị cáo,

người bào chữa trên cơ sở viện dẫn chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy

73

tố; đồng thời, cập nhật đầy đủ các văn bản pháp luật cần thiết có liên quan đến vụ án

để khi cần trích đọc hoặc viện dẫn chính xác.

Tại phiên tòa, KSV phải lắng nghe, tổng hợp các lời trình bày của bị cáo,

những người tham gia tố tụng khác để nắm được nội dung vấn đề, chủ động chọn

từng vấn đề để tranh luận. KSV phải nắm vững những quy định của pháp luật tố

tụng hình sự, bình tĩnh, linh hoạt trong xử lý tình huống, tôn trọng sự thật khách

quan của vụ án. Để đảm bảo tranh luận của KSV đạt chất lượng, VKSND huyện

Chơn Thành cần lựa chọn và tổ chức các phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm để nâng

cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nhất là đối với các vụ án

xâm phạm sở hữu.

Thứ bảy, nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm để kháng nghị bản án, quyết

định của Tòa án: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là quyền năng pháp lý quan

trọng của VKSND. KSV được phân công THQCT tại phiên tòa phải thực hiện tốt

việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, phải xem xét nội dung bản án về tội

danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.... Phát

hiện kịp thời những vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án, báo cáo lãnh đạo

xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị. Hình thức kháng nghị

phải thực hiện đúng mẫu Ngành kiểm sát quy định; nội dung kháng nghị phải phân

tích, làm rõ căn cứ kháng nghị như bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm

trọng thủ tục tố tụng; áp dụng không đúng điều khoản BLHS; áp dụng không đúng

tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết luận của bản án hoặc quyết

định sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; xử quá nặng hoặc

nhẹ, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm,

không phù hợp với chính sách hình sự.

- Tăng cường phối hợp giữa các bộ phận trong đơn vị, VKSND hai cấp trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi

THQCT bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, do đó đòi hỏi phải

có sự phối hợp chặt chẽ, toàn diện giữa các bộ phận nghiệp vụ như: THQCT trong

giải quyết tin báo, tố giác tội phạm với THQCT trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ

74

thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng. Đồng thời, đòi hỏi

phải có sự chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Viện trưởng VKS, sự phối hợp giữa

các Phó viện trưởng phụ trách trên cơ sở chỉ đạo chung của Viện trưởng.

Bên cạnh đó, VKSND cấp huyện và VKSND cấp tỉnh phải có sự phối hợp

trong hoạt động nghiệp vụ và quản lý, chỉ đạo, điều hành. Đặc biệt, trong công tác

kháng nghị phúc thẩm án hình sự, trước khi ban hành kháng nghị phúc thẩm thì

VKSND cấp huyện phải trao đổi để xin ý kiến của Phòng THQCT và kiểm sát xét

xử phúc thẩm hình sự (Phòng 7); đảm bảo các kháng nghị có chất lượng, được cấp

tỉnh bảo vệ và Tòa phúc thẩm chấp nhận.

Tiểu kết Chương 3

Qua thực tiễn công tác THQCT của VKSND huyện huyện Chơn Thành, tỉnh

Bình Phước đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có

những hạn chế, khuyết điểm nhất định như việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ

sung, Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy án để điều tra, xét xử lại với nhiều nguyên

nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Vì vậy, nhu

cầu đặt ra giải pháp trong thời gian tới là một yêu cầu cấp thiết, trong phạm vi của

luận văn tác giả đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng THQCT của VKS

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu

nói riêng tại huyện Chơn Thành mà trọng tâm là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp

luật có liên quan đến hoạt động THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; nâng cao vai

trò lãnh đạo của cấp ủy, giám sát của HĐND và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành

của lãnh đạo đơn vị; nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức, phẩm chất của các

KSV, trình độ nghiệp vụ mà quan trọng nhất là kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa;

tăng cường phối quan hệ phối hợp giữa nội bộ ngành và cơ sở vật chất, phương tiện,

điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ Kiểm sát viên.

75

KẾT LUẬN

Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ

thống cơ quan tư pháp, trong đó có VKSND. VKSND ra đời ngày 26/7/1960, qua

quá trình phấn đấu và trưởng thành, VKSND đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ

được giao, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền tự do dân chủ, quyền và

lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư

pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng như Hiến pháp

năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng

hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có VKSND. Hoạt động

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm

sở hữu nói riêng của VKSND nhằm mục đích chống bỏ lọt tội phạm và người phạm

tội, không làm oan người vô tội.

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Chơn

Thành, tỉnh Bình Phước liên tục diễn biến phức tạp, tăng nhanh về số vụ, số người

phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là các

vụ án liên quan đến xâm phạm sở hữu. Thực tiễn THQCT trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Chơn Thành trong thời gian qua

đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp

phần giữ vững an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội. Trong khoảng thời gian từ

năm 2016 đến nay không có trường hợp nào VKSND huyện Chơn Thành truy tố mà

Tòa án tuyên không phạm tội. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp tòa án trả điều tra bổ

sung, án hủy có trách nhiệm vụ của VKS, cho thấy chất lượng THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu đạt hiệu chưa quả cao, cần phải

nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng khâu công tác

này.

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đưa ra khái niệm quyền công tố,

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu; xác định đối

76

tượng, nội dung, phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

xâm phạm sở hữu; nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu. Đồng thời, qua thực tiễn THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, luận

văn phân tích những nội dung THQCT đúng và THQCT sai, xác định các nguyên

nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng.

Tác giả tin tưởng rằng, trong thời gian tới, công tác THQCT trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu tố nói riêng sẽ

đạt được những kết quả tốt hơn, đáp ứng với tiến trình cải cách tư pháp, góp phần

vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm./.

77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Thị Thu An (2016), Nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong giải quyết các vụ án hình sự ở Thành phố

Hải Phòng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội.

2. Trần Thị Quỳnh Anh (2019), Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên - Luận văn thạc sĩ luật học, Học

viện khoa học xã hội, Hà nội, tr25

3. Ban Cán sự Đảng – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008) Tổ chức bộ máy

và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư

pháp, Hà Nội.

4. Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. TS. Dương Thanh Biểu (2007) Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư

pháp, Hà Nội.

6. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lược

xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020, Hà Nội.

8. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

9. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục

thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về

chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

10. TS. Lê Cảm (2001), Những vấ đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn từ

gốc độ nhà nước pháp quyền), Tạp chí chuyên ngành Viện kiểm sát nhân dân, Hà

Nội.

78

11. Bùi Trí Dũng (2008), Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành

quyền công tố tại phiên tòa xét xử hình sự ở tỉnh An Giang, Luận văn thạc sỹ, Học

viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

12. Nguyễn Văn Điền (2017), Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm

phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội.

13. TS. Trần Văn Độ (2001) Một số vấn đề về quyền công tố, Tạp chí khoa học

pháp luật 3/2001, Hà Nội.

14. Lương Thúy Hà (2012), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của

Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta, Luận văn thạc

sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

15. Nguyễn Quốc Hân (2021), Vướng mắc khi thực hành quyền công tố trong

giải quyết nguồn tin về tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông,

Tạp chí Kiểm sát (số 4), tr.30-35.

16. Bùi Thúy Hằng (2016), Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành

quyền công tố trong các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu áp dụng nguyên tắc tranh

tụng ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm

KHXH Việt Nam.

17. Nguyễn Thị Mỹ Hiệp (2018), Đánh giá chứng cứ trong các vụ án về xâm

phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện

Hàn lâm KHXH Việt Nam.

18. Lê Thị Tuyết Hoa (2002) Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Viện

Nghiên cứu nhà nước và pháp luật.

19. Nguyễn Thị Khánh Hòa (2020), Thực hành quyền công tố trong giải quyết

vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành

vi chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc, Học viện

KHXH - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

79

20. Dương Thị Thu Hòa (2015), Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Luận văn thạc sĩ, Khoa

luật - Đại học quốc gia Hà Nội.

21. Lê Thanh Hưng (2015), Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm

sát nhân dân, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

22. Đồng tác giả Lê Thị Thùy Hương, Nguyễn Thu Quý (2021), Bài viết Kinh

nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài

sản, Tạp chí Kiểm sát (số 13), tr.3-8.

23. Lương Đức Huyên (2020), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn tỉnh Bắc

Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

24. Trần Thị Liên – Nguyễn Việt Khánh Hòa (2020), bất cập trong các quy định

về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự, Tạp chí nhà nước và pháp luật (số 6), tr25-29.

25. Lỗ Thị Loan (2016), Thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội.

26. Mai Thị Nam (2008), Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Luật

học, Học viện khoa học xã hội

27. NXB Lao động - Xã hội (2013) Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, Hà

Nội.

28. Trần Thị Minh Ngọc (2011), Kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự của

VKSND tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học quốc gia Hà nội, tr24.

29. Ngô Hồng Phúc (2003), Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa

hình sự, Tạp chí TAND, Hà Nội.

30. Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm

sát, Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt

động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay.

80

31. Nguyễn Hữu Phước (2016), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc

sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

32. Đinh Văn Quế (2004), Đặc điểm chung các tội xâm phạm sở hữu, Bình luận

khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

33. Phan Vạn Quốc (2016), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ,

Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội.

34. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 26/11/2003, Thư

viện pháp luật điện tử.

35. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 27/11/2015, Nhà

xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.

36. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban

hành ngày 15/4/1992, Thư viện pháp luật điện tử.

37. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban

hành ngày 28/11/2013, Thư viện pháp luật điện tử.

38. Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày

04/7/1981, Thư viện pháp luật điện tử.

39. Quốc hội (1992), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày

08/10/1992, Thư viện pháp luật điện tử.

40. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày

02/4/2002, Thư viện pháp luật điện tử.

41. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày

24/11/2014, Thư viện pháp luật điện tử.

42. Trần Văn Quý (2017), Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát

viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Luận án

tiến sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

81

43. Phan Thị Sa (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ,

Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

44. Trần Đại Thắng (2005), “Lịch sử hình thành và phát triển Viện công tố -

tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân, giai đoạn 1945 - 1955”, Kiểm sát.

45. TS. Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

46. TS. Nguyễn Thị Thúy, Vụ trưởng Vụ pháp chế và Quản lý khoa học Viện

kiểm sát nhân dân tối cao “Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015”, tài liệu tập huấn các bộ luật được Quốc hội khóa XIII thông qua, Viện kiểm

sát nhân dân tối cao năm 2016.

47. Lê Trung Tiến (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn

thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

48. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (1998),

Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 về

việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

BLHS 1985 đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999, Hà Nội.

49. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP-TANDTC

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy

định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà

Nội.

50. Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày

12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy

định của BLHS, Hà Nội.

51. Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (2001),

Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày

25/12/2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội

xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999, Hà Nội.

82

52. Tòa án nhân dân tối cao (2013), Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày

06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60

của BLHS về án treo, Hà Nội.

53. Tòa án nhân dân tối cao (2016), Công văn số 276/TANDTC-PC ngày

13/9/2016 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội

của BLHS năm 2015, Hà Nội.

54. Tòa án nhân dân tối cao (2017), Công văn số 136/TANDTC-PC ngày

30/3/2017 hướng dẫn công tác tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm theo yêu cầu cải

cách tư pháp, Hà Nội.

55. Nguyễn Khánh Toàn (2020), Thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ

án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc

sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

56. Trung tâm từ điển (2006), Từ điển luật học, Nxb Bách Khoa – Nxb Tư pháp.

57. Trung tâm từ điển (1998), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng.

58. Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1984), Giáo trình công tác kiểm sát

phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

59. Trường Cao đằng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập

1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

60. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007) Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

61. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

62. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội.

63. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm

sát (tập 4), Lưu hành nội bộ, Hà Nội.

64. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh Kiểm sát viên, Hà Nội.

65. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2014), Pháp lệnh Kiểm sát viên, Hà Nội.

83

66. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng

kết công tác kiểm sát năm 2016.

67. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng

kết công tác kiểm sát năm 2017.

68. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng

kết công tác kiểm sát năm 2018.

69. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng

kết công tác kiểm sát năm 2019.

70. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng

kết công tác kiểm sát năm 2020.

71. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2017) Các giải pháp nhằm thực

hiện hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực

hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự theo quy định mới của Luật Tổ chức

Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015, Chuyên đề khoa học, Khánh Hòa.

72. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2017) Những quy định mới của

pháp luật và những vấn đề cần lưu ý cần đảm bảo thực hiện tốt công tác thực hành

quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Chuyên đề khoa học, Khánh Hòa.

73. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Chuyên đề nâng cao chất lượng

tranh luận tại phiên toà xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên.

74. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2008), Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-

VPT1 ngày 19/06/2008 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.

75. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2016), Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày

06/04/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tiếp tục tăng cường

kháng nghị án hình sự.

76. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Quy chế thực hành quyền công tố và

kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo quyết định số 960/QĐ-

VKSNDTC ngày 17 tháng 9 năm 2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

84

77. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017), Quy chế công tác thực hành quyền

công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-

VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

78. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002) Những giải pháp nâng cao chất

lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Đề tài khoa học

cấp Bộ, Hà Nội.

79. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008) Viện kiểm sát nhân dân trong tiến

trình cải cách tư pháp, Hội thảo khoa học, Hà Nội.

80. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018), Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-

VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và

Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, thư

viện pháp luật điện tử.

81. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017), Quy tắc ứng xử của Kiểm sát viên

khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa, phiên họp

của Tòa án (ban hành kèm theo Quyết định số 46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 của

VKSND Tối Cao), thư viện pháp luật điện tử.

82. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014), Tranh tụng và những giải pháp nâng

cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu

cải cách tư pháp, Báo cáo chuyên đề.

83. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Đề án và Phụ lục đề án mô hình tố

tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội.

84. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2021), Báo cáo công tác năm 2020 và kết

quả nổi bật nhiệm kỳ 2016 - 2020, Hà Nội.

85. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội.

86. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình Luật hình sự (Phần các tội phạm), Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

87. Võ Khánh Vinh (2015), Giáo trình Xã hội học pháp luật những vấn đề cơ

bản, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

85

2.1 Tỷ lệ số vụ án XPSH đã xét xử sơ thẩm/số thụ lý

Số vụ/bị cáo đã xét xử Tỷ lệ % số

vụ XPSH Tổng số Trong đó đã xét vụ/bị

xử/thụ lý cáo đã Năm xét xử Số vụ/bị cáo Số vụ/bị Trộm Lừa đảo Lạm dụng Hủy hoại Cưỡng Cướp về các tội cáo về các Cướp cắp tài chiếm tín nhiệm hoặc cố ý đoạt tài giật tài XPSH đã tội XPSH tài sản sản đoạt tài chiếm đoạt làm hư hỏng sản sản xét xử thụ lý tài sản tài sản sản

2016 98/165 49/75 63/96 77,7% 4/12 1/3 2/2 36/52 2/2 3/3 1/1

2017 112/184 54/74 63/98 85,7% 1/1 2/4 41/59 6/6 2/2 2/2

2018 112/227 58/111 61/114 95,1% 6/9 1/5 5/7 39/83 1/1 5/5 1/1

2019 118/216 49/52 55/64 89,1% 2/3 33/35 5/5 4/4 5/5

2020 118/245 41/66 56/95 73,2% 5/6 2/3 27/50 1/1 3/3 3/3

Tổng 558/1037 251/378 298/467 18/31 2/8 11/16 176/279 11/15 17/17 12/12

Nguồn: VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

Bảng 2.2. Tỷ lệ số vụ án/bị cáo XPSH bị VKSND huyện Chơn Thành kháng nghị phúc thẩm

Năm Số kháng nghị về án XPSH/tổng Số vụ án XPSH TAND huyện Chơn Thành đã Tỷ lệ %

kháng nghị án hình sự xét xử sơ thẩm/tổng xét xử án hình sự

0/0 49/98 0 2016

0/0 54/112 0 2017

0/0 58/112 0 2018

2/3 49/118 4,08/2,54 2019

0 41/118 0 2020

2/3 251/558 0 Tổng

Nguồn: VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

87

Bảng 2.3. Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung các vụ án XPSH/số VKS truy tố

Số vụ án XPSH/Số vụ án Số vụ án XPSH Tòa án trả Số vụ án XPSH VKS Nguyên nhân trả Tỷ lệ (%) Năm hình sự trả ĐTBS ĐTBS có lỗi của VKS truy tố ĐTBS

7/11 6,35 63 2016 4

9/17 3,17 63 2017 2 Thu thập chứng cứ

2/6 3,28 chưa đầy đủ chiếm 61 2018 2

tỷ lệ cao 3/7 3,64 55 2019 2

3/7 1,78 56 2020 1

24/48 298 Tổng 11

Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

88

Bảng 2.4. Tỷ lệ số vụ án XPSH bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án

Số vụ bị Tòa án cấp Số vụ án án XPSH Tòa án huyện Năm Tỷ lệ (%) Ghi chú phúc thẩm hủy án Chơn Thành đã xét xử sơ thẩm

2016 0 0 49

2017 0 0 54

2018 0 0 58

2019 0 0 49

Vụ án trộm 2020 01 2,44 41 cắp tài sản

Tổng 01 251

Nguồn: TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

89

Bảng 2.5. Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND tỉnh Bình Phước kháng nghị

Số vụ bị VKSND tỉnh Bình Số vụ án XPSH Tòa án huyện Tỷ lệ (%) Ghi chú Năm Phước kháng nghị Chơn Thành đã xét xử sơ thẩm

2016 0 0 49

2017 0 0 54

2018 0 0 58

2019 0 0 49

2020 0 0 41

Tổng 0 251

Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

90