VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ NỞ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI – 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ NỞ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VÕ THỊ KIM OANH
HÀ NỘI – 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình
Phước” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Võ Thị Kim Oanh. Các số liệu, kết quả trong luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Các giải
pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu
thực tiễn.
Tác giả
Đỗ Thị Nở
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và qua thực tiễn công tác,
được sự hướng dẫn, giảng dạy của thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện
của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận
văn thạc sỹ luật học. Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Các Thầy Cô Học viện, các giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
những tri thức, kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian học tập.
Cám ơn Thư viện Học viện đã giúp đỡ trong quá trình tra cứu các tài liệu
nghiên cứu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành đã cung cấp số liệu thực
tiễn trong giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều
trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này. Đặc biệt, tôi xin dành sự
kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS. Võ Thị Kim Oanh, người đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Nở
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU .......................................................................................................................... 10
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
xâm phạm sở hữu ...................................................................................................... 10
1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án xâm phạm sở hữu ............................................................................................ 23
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC ........................... 32
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm .............................................................................. 32
2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm
phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước ............................................. 46
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH
PHƯỚC .................................................................................................................... 63
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu ............................................................................... 63
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu ......................................................................... 66
3.3 . Các giải pháp khác ............................................................................................ 70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 78
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra
HĐXX : Hội đồng xét xử
TAND : Tòa án nhân dân
THQCT : Thực hành quyền công tố
TNHS : Trách nhiệm hình sự
VKS : Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
XPSH : Xâm phạm sở hữu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang bảng
2.1 Tỷ lệ số vụ án XPSH đã xét xử sơ thẩm/số thụ lý
Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND huyện Chơn Thành 2.2 kháng nghị phúc thẩm
Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung các vụ án 2.3 XPSH/số VKS truy tố
2.4 Tỷ lệ số vụ án XPSH bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án
Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND Tỉnh Bình Phước 2.5 kháng nghị
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chơn Thành là một huyện phía Tây Nam của tỉnh Bình Phước, là nơi có
tuyến đường Quốc lộ 13 và 14 đi qua, nối dài với tuyến đường Hồ Chí Minh; là
đường huyết mạch nối liền Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và các tỉnh biên
giới miền Đông Nam Bộ. Ngoài hai trục đường chính, huyện Chơn Thành còn có
nhiều đường liên xã, kết nối thành một mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế, giao lưu văn hóa trong và ngoài huyện. Huyện Chơn Thành là một
trong những huyện đi đầu trong phát triển công nghiệp của tỉnh, kinh tế của huyện
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút đầu tư phát triển
mạnh về công nghiệp, dịch vụ. Công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm trong
những năm qua đã có những bước phát triển lớn, góp phần quan trọng giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Tuy nhiên, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp, tăng
nhanh về số vụ và số đối tượng phạm tội với tính chất, phương thức, thủ đoạn tinh
vi, xảo quyệt, hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến
tình hình chính trị, an ninh trật tự ở địa phương, mà còn trực tiếp xâm phạm đến sức
khỏe, tính mạng, tài sản của người dân.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là hai chức năng hiến định của
VKSND, là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà
nước ta. Trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, Ngành kiểm sát nhân dân đã
góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp luật;
đấu tranh phòng, chống tội phạm; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
của địa phương, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền dân
chủ của công dân.
Một trong những nội dung quan trọng được thể hiện ở nhiều nghị quyết của
Đảng là nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó
có VKSND; hoạt động THQCT và kiểm sát xét xử của VKSND nhằm mục đích
chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
1
Thực tiễn những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước liên tục diễn biến phức tạp, tăng nhanh về số vụ, số người
phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là các
vụ án liên quan đến xâm phạm sở hữu. Trải qua 18 năm kể từ khi thành lập cho đến
nay, VKSND huyện Chơn Thành đã đạt nhiều thành tích đáng khích lệ trong công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo hoạt động thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự nói chung, xét xử các vụ án xâm phạm sở
hữu nói riêng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, so với yêu cầu của Hiến pháp năm
2013, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 thì việc phòng, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm còn nhiều hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Một
trong những nguyên nhân của hạn chế nêu trên là do chính sách hình sự, quy định
của pháp luật về tố tụng hình sự có nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ, chưa kịp thời
sửa đổi, bổ sung; KSV khi THQCT trong giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm sở
hữu chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ, từng vấn đề liên quan đến vụ án, chưa nắm vững các
dấu hiệu pháp lý đặc trưng của từng tội xâm phạm sở hữu, những vấn đề cần làm rõ
trong vụ án xâm phạm sở hữu, xác định tội danh, tính chất, mức độ phạm tội, mức
độ thiệt hại, các tình tiết khác liên quan đến vụ án; việc chuẩn bị nội dung đề cương
xét hỏi không tập trung làm rõ các vấn đề liên quan cần chứng minh trong vụ án; dự
thảo luận tội còn sơ sài; hoạt động tranh tụng của KSV với Luật sư, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác còn nhiều mặt hạn chế nên vẫn còn tình trạng
án bị trả điều tra bổ sung, án hủy có trách nhiệm của VKS.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, phức tạp của công cuộc đấu tranh chống
và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
nước, tổ chức và công dân, với trách nhiệm là một cán bộ trong ngành, học viên
nhận thấy việc chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước”
làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự là cần thiết về lý
2
luận cũng như thực tiễn, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp, công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở
hữu là một đề tài rộng, nhận diện các đặc điểm đặc trưng của tội xâm phạm sở hữu
là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong thời gian qua,
có nhiều nhà khoa học pháp lý và người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu
hoặc đề cập đến đề tài quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, có thể
nêu một số công trình tiêu biểu đó là:
- Luận án tiến sĩ Luật học, “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết
Hoa, (2005) [18]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quyền công tố của một số
nước trên thế giới và trong TTHS ở Việt Nam, nêu lên thực trạng thực hành quyền
công tố trong TTHS ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
hoạt động công tố ở trước Tòa án.
- Luận văn thạc sỹ Luật hình sự, “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta” của
Lương Thúy Hà (2012) [14]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về thực hành
quyền công tố của VKSND, pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND cấp
huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)”, của Dương Thị Thu Hòa
(2015) ) [20]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề chung về thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra, thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
3
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Chức năng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)” của Lê
Thanh Hưng (2015) [21]. Đã đề cập một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố
trong TTHS. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố ở địa bản tỉnh Đăk Nông
và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố trong các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu áp dụng nguyên tắc
tranh tụng ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Thúy Hằng (2016) [16]. Đề cập đến cơ sở
lý luận, thực trạng vấn đề năng lực tranh tụng của KSV thực hành quyền công tố
trong vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tranh tụng
của KSV thực hành quyền công tố trong vụ án hình sự.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định”, của Phan Vạn
Quốc (2016) ) [33]. Đã phân tích rõ thêm lý luận chung về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra, quy định của pháp luật và thực trạng thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra, đề ra giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, của
Nguyễn Hữu Phước (2016) [31]. Đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về quyền
công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,
đánh giá thực trạng vấn đề này tại địa phương huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và
đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nội dung này tại địa
phương.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm
phạm sở hữu theo tố tụng hình sự Việt Nam”, của Nguyễn Văn Điền (2017) ) [12].
Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, nội dung
và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và những giải pháp nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu.
4
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, của Phan
Thị Sa (2018) [43]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực trạng pháp luật về thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và đề xuất một số giải pháp tăng
cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận Tân Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh”, của
Lê Trung Tiến (2018) [47]. Đã phân tích rõ thêm một số vấn đề lý luận về thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, quy định của
pháp luật và thực trạng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự; đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Đánh giá chứng cứ trong các vụ án về xâm
phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh”, của Nguyễn Thị Mỹ Hiệp (2018) ) [17].
Đã phân tích đánh giá rõ thêm những vấn đề lý luận về đánh giá chứng cứ; quy định
của pháp luật về đánh giá chứng cứ và thực tiễn đánh giá chứng cứ trong xét xử sơ
thẩm trong các vụ án về xâm phạm sở hữu.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ án
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Khánh
Hòa (2020) [19].
- Luận văn thạc sĩ luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn tỉnh Bắc
Ninh”, của Lương Đức Huyên (2020) [23].
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ
án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, của Nguyễn
Khánh Toàn (2020) [55].
5
Các đề tài khoa học cấp nhà nước có công trình "Cải cách hệ thống tư pháp
Việt Nam"; đề tài khoa học cấp bộ: "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
và hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự"; đề tài
khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện
quyền công tố ở Việt Nam hiện nay"; đề tài khoa học cấp bộ: "Viện kiểm sát nhân
dân trong tiến trình cải cách tư pháp".
Một số giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Giáo
trình luật TTHS Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, NXB. Đại học quốc gia, Hà
Nội; Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân
dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động, VKSND tối cao chủ biên, NXB. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2015; Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi
mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, TS. Lê Hữu Thể, TS. Đỗ Văn
Đương, ThS. Nguyễn Thị Thủy (đồng chủ biên), NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2013; Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp, VKSND tối cao chủ
biên, lưu hành nội bộ, 2012; v.v.
Bên cạnh đó, có những bài viết liên quan đến THQCT trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm VAHS được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:“Về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử” của tác giả Lý Văn Chính, tạp chí Tòa án nhân dân,
số 12/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay”của tác giả Đỗ Văn Đương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 7/2006; “Bàn
về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí
Tòa án nhân dân, số 17/2007; “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành
nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Nguyễn
Đức Mai, tạp chí Luật học, số 07/2008; “Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong
pháp luật TTHS Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả Lê Cảm, Tạp
chí Kiểm sát, số 11/2011; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng luận tội,
tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác
giả Nguyễn Xuân Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2012; “Một số vấn đề về hoàn
thiện quy định của BLTTHS về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần Văn Độ,
6
Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012; “Đổi mới thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm theo
hướng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng” của tác giả Vũ Gia Lâm, Tạp chí Kiểm sát,
số 21/2013; “Nâng cao chất lượng xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2014; “Vướng mắc khi thực hành quyền công
tố trong giải quyết nguồn tin về tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn
thông” của tác giả Nguyễn Quốc Hân, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2021; “Kinh nghiệm
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
của đồng tác giả Lê Thị Thùy Hương, Nguyễn Thu Quý, Tạp chí Kiểm sát số
13/2021, v.v...
Trên cơ sở kết quả khảo sát cho thấy, các công trình nghiên cứu trên đã làm
rõ một số vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các vấn đề lý luận, thực tiễn
cũng như định hướng, giải pháp giải quyết vấn đề. Việc nghiên cứu về THQCT của
VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm đối
với các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa mang tính hệ thống, chưa được
nghiên cứu một cách toàn diện. Thực hiện nghiên cứu về công tác thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước là rất cần thiết, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp để tiếp
tục tăng cường hoạt động này nhằm đáp ứng được yêu cầu của địa phương và tiến
trình cải cách tư pháp hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về
thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu;
trên cơ sở nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, những nội dung cơ bản của
hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm
sở hữu từ thực tiễn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, làm rõ những ưu, khuyết
điểm, tìm ra nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp của nước ta hiện nay.
7
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu Luật Tổ chức VKSND, Bộ luật tố tụng hình sự nhằm là rõ cơ
sở lý luận về quyền và chức năng công tố.
+ Nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi THQCT tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
+ Đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm
phạm sở hữu nói riêng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và thực trạng về công tác thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của
VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu theo
quy định của BLTTHS về vấn đề này; thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình
Phước trong thời gian 05 năm, từ năm 2016 – 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sơ vận dụng lý luận chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; tư tưởng, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai
đoạn hiện nay.
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, tác giả luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên
8
cứu như: Phương pháp phân tích – tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề tài góp
phần làm sáng tỏ thêm quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án xâm phạm sở hữu.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu cho việc
nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm các quy định của pháp luật về chức năng thực
hành quyền công tố của VKSND; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho đội
ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu và thực tiễn
thi hành tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng chất lượng thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh
Bình Phước.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
1.1.1. Khái niệm công tố
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố là quyền của Nhà nước vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà
nước hay của xã hội) đối với người phạm tội, đã được biết đến từ thời xa xưa của xã
hội loài người, khi nhà nước xuất hiện thì quyền công tố cũng xuất hiện. Lịch sử tư
pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện
chế định quyền công tố gắn với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Trong từng
thời kỳ nhất định, mỗi quốc gia có bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau gắn
liền với các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, con người, văn hóa. Do
đó, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, song song với việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố
cũng ngày càng thể hiện rõ nét. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền
công tố, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: quyền công tố là một khái niệm pháp
lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà
nước và pháp luật [47, tr.86].
Trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau và chưa có cách hiểu thống
nhất về khái niệm quyền công tố. Theo dòng lịch sử pháp lý Việt Nam, khoa học
luật pháp lý nói chung, cũng như khoa học hình sự nói riêng, chế định “quyền công
tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, trước Hiến pháp năm 1959 đã tồn tại
quyền công tố, từ năm 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này.
Quyền công tố ở nước ta được đề cập trong Hiến pháp năm 1980, chức
năng THQCT của VKS được quy định tại Điều 138 Hiến pháp 1992, Điều 137 Hiến
pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 107 Hiến pháp 2013 đã khẳng định
tại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, THQCT trong chức năng của VKSND.
10
Để hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội dung nó gì
là, hiện nay vẫn chưa có quan điểm, nhận thức thống nhất chung. Theo từ điển Luật
học thể hiện “công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội” [56, tr.188]; trong khi từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do
GS. Hoàng Phê chủ biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ
phạm pháp trước Tòa án” (57, tr.204]; lại có quan điểm cho rằng “công tố là hoạt
động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các
lợi ích của Nhà nước mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”.
Hiện nay Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào giải thích chính thức nội dung
quyền công tố, có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi,
chủ thể tham gia thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là
những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Tác giả đồng tình với một số
quan điểm có sự khác nhau nhưng cơ bản tập trung vào các nhóm sau:
Thứ nhất, quyền công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ
là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong
giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, tức là kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì
KSV THQCT để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [79, tr.85-86]. Quan điểm này là phổ
biến và cũng là quan điểm cơ bản của các nhà khoa học pháp lý Xô Viết, đã đồng
nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử hình
sự tại phiên tòa, phạm vi quyền công tố bị thu hẹp, chưa thấy hết vai trò, vị trí của
VKS khi thực hành quyền công tố, chức năng truy tố và buộc tội của VKS tại phiên
tòa xét xử vụ án hình sự chỉ là một trong các quyền hạn của VKS khi thực hành
quyền công tố.
Thứ hai, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy tố
người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử [30], thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa.
Nội dung của quyền công tố là đưa ra quan điểm, lời buộc tội những cá nhân cụ thể
với các tội danh cụ thể trong bản cáo trạng đó tại phiên tòa sơ thẩm. Theo quan
điểm này thấy rằng việc THQCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho hoạt động của
VKS. Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền
11
công tố, về lý luận cũng như trong thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Tòa án
chỉ là một trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của VKS.
Thứ ba, “Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKSND nói riêng và
các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung sử dụng để truy cứu TNHS và áp dụng các
chế tài hình sự để trừng trị các pháp nhân, người có hành vi vi phạm pháp luật
hình sự” [45, tr.26].
Quan điểm này chưa chính xác bởi đã đồng nhất khái niệm quyền công tố
với nguyên tắc tố tụng hình sự, khi người tội phạm xâm phạm đến lợi ích chung của
xã hội hoặc lợi ích riêng của một cá nhân, người phạm tội phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự và bị xử lý bằng các chế tài hình sự. Quan điểm này đã dẫn đến sự
nhằm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự: buộc tội, bào chữa và xét
xử.
Thứ tư, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc
trái với các quy định của pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, bảo vệ trật tự của pháp luật [58, tr.85-86]. Theo quan điểm này, quyền công
tố ban đầu được thể hiện trong lĩnh vực hình sự. Cùng với sự phát triển của xã hội
và các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế,
lao động. Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp
pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm kiểm sát đối với các các cơ
quan tiến hành tố tụng. Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình
sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật,
hành vi phạm tội đều bị phát hiện điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất [58, tr.88].
Đặc trưng của tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc: quyền quyết
định và quyền tự định đoạt là của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn
tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Trong khi đặc trưng của tố tụng
hình sự, phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người
tham gia tố tụng. Quan điểm trên đã đồng nhất quyền công tố trong lĩnh vực hình sự
12
với những nhiệm vụ, quyền hạn khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án
hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
Các quan điểm trên đều có hạn chế nhất định đó là không phân định rõ ràng
khái niệm, bản chất, nội dung và phạm vi quyền công tố; xem quyền công tố là một
hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình
sự, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của
VKSND quyền lực công; đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của VKS, mở rộng quyền công tố trong tố tụng hình sự sang các
lĩnh vực tư pháp khác như hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động;
quá thu hẹp quyền công tố, xem quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm
tội ra trước TAND và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó
trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể “Quyền công tố
chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực tư pháp hình sự, không thể
tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức
vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [45, tr
37].
Trong tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng cơ bản đó là, chức năng
buộc tội (điều tra xác minh hành vi phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội, giữ vai trò là quan trọng trong tố tụng hình sự, thu hút hoạt động
của tất cả các chủ thể tham gia); chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử.
Như vậy có thể hiểu, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện
việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân dân quyền lực công thực hiện việc
truy tố ra trước Tòa án đối với người phạm tội. Quyền này là quyền của Nhà nước,
Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam đó là Viện kiểm sát). Cơ
quan đó phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác
định người phạm tội và tội phạm. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra
trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. [5, tr.9].
13
Một vấn đề quan trọng cần làm rõ khi nói về quyền công tố đó là đối tượng,
phạm vi và nội dung quyền công tố. Các nhà nghiên cứu đều có lý luận riêng, đưa
ra những luận điểm về đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố để chứng
minh cho luận điểm của mình. Theo quan điểm nghiên cứu của tôi, đối tượng, nội
dung và phạm vi của quyền công tố được hiểu như sau:
- Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động vào
nhằm mục đích cụ thể nào đó, có thể là nhằm mục đích buộc tội của người phạm tội
để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, bảo vệ các quyền,
lợi ích chính đáng của các cơ quan, tổ chức chính trị, cá nhân... Theo quan điểm
quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, Nhà nước đứng ra thay mặt cho xã hội
thực hiện việc buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người
đã thực hiện hành vi phạm tội, do đó đối tượng của quyền công tố là tội phạm và
người phạm tội [45, tr.40].
- Nội dung của quyền công tố: là sự buộc tội của Nhà nước (thông qua cơ
quan VKSND) đối với bất kỳ người nào đã thực hiện hành vi tội phạm. Để phát
hiện tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, các cơ quan tố tụng áp dụng
tổng hợp các quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm cho việc mọi hành vi
phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo đúng quy định của pháp
luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Theo
quan điểm này tôi cho rằng đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung thực
hành quyền công tố.
- Phạm vi của quyền công tố: Với quan niệm quyền công tố là quyền nhân
danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội,
phạm vi của quyền này chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự [45, tr 46], từ khi có
hành vi phạm tội xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thực hiện các quyền năng
pháp lý khác nhau để phát hiện tội phạm và hành vi phạm tội, tìm ra các chứng cứ
buộc tội để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó, kết thúc khi bản án đã
có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.
14
1.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố, Nhà nước ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố
để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Khi các cơ quan tiến hành
tố tụng thực hiện quyền năng pháp lý của mình được Bộ luật tố tụng hình sự giao để
thực hiện quyền công tố thì xuất hiện khái niệm thực hành quyền công tố, vì khi có
hành vi phạm tội xảy ra, làm phát sinh mối quan hệ giữa Nhà nước với người thực
hiện hành vi phạm tội. Trách nhiệm của Nhà nước là truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người thực hiện hành vi phạm tội thông qua một cơ quan thực hiện đó là cơ
quan thực hành quyền công tố.
Theo từ điển tiếng Việt ghi “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý
thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” [56, tr.973].
Khái niệm thực hành quyền công tố hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác
nhau, tuy nhiên, tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Thực hành quyền công tố là
việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhân danh Nhà nước để thực hiện
việc truy tố tra trước Tòa án đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra,
truy tố và xét xử [5, tr.11]. Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm
2013; Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, 2003 và 2015; các Luật tổ chức VKSND
năm 1960, 2002 và 2014 đều quy định VKSND là cơ quan duy nhất được Nhà nước
giao nhiệm vụ THQCT. Nội dung thực hiện quyền này được thể hiện cụ thể tại các
Điều 13, Điều 17, Điều 18 và Điều 19 Luật tổ chức VKSND năm 2002; khoản 1
Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 “Thực hành quyền công tố là hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của
Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử vụ án hình sự”. Trên thực tế, không phải bất kỳ vụ án nào khi xảy ra cũng
được các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện ra và xử lý kịp thời. Đó là mối quan hệ
giữa khả năng và việc thực hiện hóa khả năng, Nhà nước trao quyền và thực hiện
quyền lực đó thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
15
Khi nói về chức năng THQCT cần làm rõ đối tượng, nội dung, chủ thể và
phạm vi THQCT: Đối tượng của THQCT là tội phạm và người phạm tội; chủ thể
THQCT chính là VKSND.
Phạm vi thực hành quyền công tố: cho đến giai đoạn hiện nay có nhiều ý
kiến khác nhau và chưa có sự thống nhất về khái niệm THQCT, tôi đồng ý với quan
điểm cho rằng: phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có dấu hiệu tội
phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án
được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Nội dung thực hành quyền công tố: THQCT của VKS là việc sử dụng các
quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành
vi phạm phạm tội, không để bỏ lọt người phạm tội và tội phạm, không làm oan
người vô tội. Theo đó, VKSND danh Nhà nước THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm là thực hiện các quyền năng pháp lý nhằm bảo đảm việc xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
1.1.2.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Xét xử là hoạt động quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và toàn bộ quá
trình tố tụng hình sự nói chung, nhằm thực hiện các biện pháp cần thiết do pháp luật
quy định để kiểm tra tính hợp pháp, có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà Cơ
quan điều tra, VKS đã thực hiện trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm
loại trừ những thiếu sót do sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong giai
đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét
xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án.
Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm
quyền tiến hành xem xét giải quyết vụ án, ra bản án, trả tự do hoặc các quyết định
khác theo quy định của pháp luật [60] . Xét xử sơ thẩm được xác định là giai đoạn
kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án
được thu thập trong quá trình điều tra được xem xét một cách công khai, khách
16
quan tại phiên tòa và được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn nhau.
Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, nghĩa vụ của
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công
khai, đầy đủ nhất; đòi hỏi phải tập trung trí tuệ, xử lý tình huống một cách mau lẹ,
các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác về pháp luật mà phải có sức thuyết
phục.
Trên cơ sở quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử theo
quy định của pháp luật thì thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát tổng hợp
các quyền hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để truy tố trách nhiệm
hình sự, buộc tội, đề nghị áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong giai đoạn
xét xử [63, tr.28].
Thông qua công tác xét xử cần xem xét đối tượng của phiên tòa xét xử sơ
thẩm và phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Phiên tòa hình sự sơ thẩm có thể
được thực hiện khi VKS có quyết định truy tố, bản cáo trạng và các điều kiện cần
thiết khác theo quy định của pháp luật để tiến hành mở phiên tòa. Đối tượng của
phiên tòa xét xử sơ thẩm là bản cáo trạng của VKS đối với bị cáo đã thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật hình sự (hành vi tội phạm). Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền,
trách nhiệm xem xét những nội dung trong bản cáo trạng và những vấn đề liên
quan, đưa ra căn cứ đúng pháp luật, thể hiện quyết định của mình trong bản án.
Phạm vi xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi VKS chuyển hồ sơ cùng bản cáo trạng đến
Tòa án và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định. Trong khi đó, đối tượng của
phiên tòa hình sự phúc thẩm chính là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị về tính có căn cứ, tính hợp pháp và mức hình
phạt của nó.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn
truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai giai đoạn cơ bản đó là giai đoạn chuẩn bị xét
xử và xét xử tại phiên tòa với những hoạt động tố tụng hình sự khác nhau. Mỗi giai
đoạn tố tụng có tính độc lập riêng, đặc trưng về chủ thể, hành vi, hình thức, thời
17
hạn, nguyên tắc, văn bản tố tụng. Các giai đoạn tố tụng này có mối quan hệ với
nhau, tác động lẫn nhau; giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng
sau, ngược lại giai đoạn tố tụng sau bổ sung, kiểm tra giai đoạn tố tụng trước tạo
thành tiến trình tố tụng thống nhất. Dù ở giai đoạn nào đều phải tuân thủ nhiều
nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc độc lập xét xử. Việc xem xét đánh giá các tài
liệu, chứng cứ trong giai đoạn này phải hết sức khách quan, xem xét toàn diện,
không được lệ thuộc vào kết quả của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ
án đến Tòa án có thẩm quyền xét xử theo luật định. Chuẩn bị xét xử được coi là
bước đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, từ khi VKS chuyển hồ sơ đến Tòa án nhận
đến khi mở phiên tòa. Giai đoạn này Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa
nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ liên quan, xét có đủ căn cứ
để đưa vụ án ra xét xử hay không, hay trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc
tạm đình chỉ vụ án.
Biểu hiện đặc trưng của giai đoạn xét xử sơ thẩm là tại phiên tòa sơ thẩm, vụ
án hình sự chính thức được giải quyết công khai với sự tham gia của nhiều chủ thể
khác nhau. Kết quả của phiên tòa khẳng định bị cáo có hay không có tội, nếu có thì
tội gì, có bị áp dụng mức hình phạt không, mức hình phạt được áp dụng, trách
nhiệm dân sự, giải quyết vật chứng và những vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập,
trong đó chuẩn bị xét xử là tiền đề quan trọng, cần thiết cho việc mở phiên tòa và
tiến hành phiên tòa; phiên tòa sơ thẩm là nơi thể hiện rõ nét nội dung của các
nguyên tắc tố tụng hình sự, mối quan hệ tác động qua lại giữa các chức năng cơ bản
nhất của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội, chức năng xét xử,
trong đó chức năng xét xử đóng vai trò quyết định.
Như vậy, khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố để buộc tội người đã thực hiện hành vi phạm tội bị truy tố tại phiên
tòa ở cấp xét xử thứ nhất, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng cùng hồ
18
sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra quyết định, bản án có hiệu lực
pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị.
Khái niệm THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố để buộc tội người đã thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu bị
truy tố tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản
cáo trạng cùng hồ sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra quyết định,
bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị
1.1.2.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở
hữu.
Quan hệ sở hữu mà một trong những quan hệ xã hội giữa người với với
trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội. Quyền sở hữu xuất
hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật thông qua các hoạt động kinh tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân
sự năm 2005 thì quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Các quyền này luôn được pháp luật tôn trọng và
bảo vệ.
“Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ
bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” [61, tr.5]. Các tội này được quy định
tại Chương XIV của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, gồm 13 tội được quy định từ
Điều 168 đến Điều 180, đó là các tội: Tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài
sản (Điều 171), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản
(Điều 173), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản (Điều 175), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176), tội sử dụng trái
phép tài sản (Điều 177), tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178), tội
19
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp (Điều 179), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).
Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, căn cứ vào tính chất của mục đích
phạm tội đã chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm: thứ nhất là nhóm các tội
có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 168 đến Điều 177), trong đó cần phân
biệt các tội có mục đích chiếm đoạt (Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 171, Điều
172, Điều 173, Điều 174 và Điều 175) và các tội không có mục đích chiếm đoạt
(Điều 176, Điều 177) và thứ hai là nhóm các tội không có mục đích tư lợi (gồm 03
tội Điều 178, Điều 179 và Điều 180).
Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, trước
hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý đặc trưng của nhóm tội này (căn cứ vào
bốn yếu tố cấu thành tội phạm) như sau:
- Về khách thể của tội phạm: Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội
phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [60, tr.78].
Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ấy được gọi khách thể chung được quy
định tại Điều 8 của BLHS, khách thể loại được quy định tại các chương phần các tội
phạm cụ thể trong đó có quan hệ sở hữu được quy định tại Chương XVI. Theo quy
định tại Điều 158 của BLDS thì quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt tài sản. Đối tượng tác động thuộc khách thể của các tội
xâm phạm sở hữu là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác (không phải là
tài sản của người phạm tội) nhưng không phải cứ là tài sản thì là đối tượng tác động
của tội xâm phạm sở hữu. Mà tài sản đó bị hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu tác
động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu được luật
hình sự bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu
là những hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản đó, trong sự
chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người quản lý tài sản. Về
nguyên tắc, các tài sản này phải là những tài sản hợp pháp của chủ sở hữu, bao
gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản [Điều
105 Bộ luật dân sự].
20
- Về mặt khách quan của tội phạm: Các tội xâm phạm về sở hữu có sự khác
nhau ở hình thức thể hiện hành vi, có thể thực hiện ở nhiều dạng khác nhau, các
hành vi đó đều có cùng tính chất là gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, xâm phạm
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản, làm cho chủ tài sản mất khả
năng thực hiện quyền sở hữu của mình. Các hình thức thể hiện chủ yếu của tội xâm
phạm sở hữu đó là: hành vi chiếm đoạt; chiếm giữ trái phép; sử dụng trái phép; hủy
hoại, làm hư hỏng, mất mát, làm lãng phí tài sản.
Hậu quả của hành vi nói trên là những thiệt hại gây ra về quan hệ sở hữu,
thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất (tài sản bị mất). Đối với các tội: Cướp tài sản,
Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại bao gồm cả thiệt hại
về vật chất và thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần).
- Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu là người
có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định, cụ thể: Người từ đủ 16
tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà
Bộ luật hình sự có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu
trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
quy định tại một trong các Điều 168, 170, 171, 173, 178 Bộ luật hình sự.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện các tội xâm phạm sở hữu
chủ yếu là lỗi cố ý, người thực hiện hành vi muốn chiếm đoạt tài sản của người
khác, biết tài sản muốn chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn
muốn chiếm đoạt, biến tài sản đó thành tài sản của mình. Bên cạnh đó, vẫn có
trường hợp phạm tội với với lỗi vô ý.
Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với các vụ án xâm phạm sở
hữu tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần nắm vững những dấu hiệu pháp lý đặc trưng,
đặc điểm riêng biệt để phân biệt các tội phạm thuộc nhóm xâm phạm sở hữu trong
quá trình xét hỏi, tranh luận để tránh được sự nhầm lẫn giữa các tội danh. Để làm
được điều đó, quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên cần làm rõ các biểu hiện của hành vi
chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội
21
gây ra, định giá tài sản, thiệt hại về tài sản, việc bồi thường thiệt hại, có tính chất
chuyên nghiệp hay không,...
Biểu hiện của mục đích chiếm đoạt: Mục đích chiếm đoạt là yếu tố bắt buộc
trong cấu thành các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt. Tùy từng tội cụ
thể, mục đích chiếm đoạt khác nhau có biểu hiện khác nhau, có thể xuất hiện trước,
trong hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Đối với các tội có cấu thành hình
thức thì mục đích chiếm đoạt thường xuất hiện trước hoặc trong khi thực hiện hành
vi phạm tội. Đặc biệt, mục đích chiếm đoạt phải gắn liền với các hành vi dùng thủ
đoạn gian dối hoặc bỏ trốn thì người chiếm đoạt tài sản sẽ trở thành người phạm tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp mục đích chiếm đoạt có trước hoặc vào
thời điểm nhận tài sản qua hợp đồng, còn mục đích xuất hiện sau khi nhận tài sản
thì người chiếm đoạt phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Biểu hiện của hành vi chiếm đoạt: Hành vi làm cho người có quyền chiếm
hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của
mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện quyền sở hữu tài sản đó thì được
coi là hành vi chiếm đoạt. Về bản chất, quá trình này không làm cho người có
quyền sở hữu mất tài sản (về vật chất) mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện
các quyền cụ thể của quyền sở hữu (về pháp lý). Để xác định hành vi chiếm đoạt có
trái pháp luật hay không, cần phải xác định việc chiếm hữu đó có thuộc các trường
hợp chiếm hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự hay không.
Việc xác định hành vi có tính chất chiếm đoạt đối với các tội có dấu hiệu
chiếm đoạt thuộc hành vi khách quan của các tội xâm phạm quyền sở hữu một cách
chính xác, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn
thành. Tùy vào từng tội xâm phạm quyền sở hữu cụ thể mà thời điểm hoàn thành
của tội phạm là khác nhau. Ngoài ra, khi xem xét thời điểm hoàn thành của tội
phạm cần có sự phân biệt giữa thời điểm tội phạm hoàn thành với thời điểm tội
phạm kết thúc.
Việc nhận thức đúng các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm
sở hữu, cách phân loại giúp cho việc xác định đúng tội danh, tránh được sự nhầm
22
lẫn giữa các tội danh. Đặc biệt đối với Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi, tranh
luận để chứng minh tội phạm tại phiên tòa được chính xác, bảo đảm xử lý đúng
pháp luật, đúng người, đúng tội.
1.2. Phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
1.2.1. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án xâm phạm sở hữu
Mục đích của tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu mọi tội phạm xảy ra đều phải
được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định pháp luật. Về mặt nguyên tắc, quyền
công tố phải được thực hiện khi có tội phạm xảy ra để chứng minh tội phạm, truy tố
người phạm tội ra tòa án để xét xử. THQCT là một trong những quy định pháp lý để
thực hiện quyền công tố, nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ về tội phạm như: tiếp
nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật
chứng; lấy lời khai người bị tạm giữ, người làm chứng, người liên quan; khởi tố vụ
án, bị can; ban hành cáo trạng, các hoạt động buộc tội tại phiên tòa. Đây là một
trong những nội dung thực hành quyền công tố, nhưng không phải tất cả các vụ án
đều được đưa ra xét xử trước Tòa án, nên phạm vi THQCT có thể bị triệt tiêu ở giai
đoạn tố tụng sớm hơn khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can. Điều này
cho thấy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì việc THQCT không còn.
Như vậy, phạm vi THQCT bắt đầu từ khi giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
hoặc kiến nghị khởi tố cho đến khi kết thúc vụ án bằng bản án có hiệu lực pháp luật
hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.
Phạm vi của THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu là
bắt đầu khi VKS chuyển hồ sơ, bản cáo trạng sang Tòa án và kết thúc khi Tòa án ra bản
án, quyết định có hiệu lực không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án xâm phạm sở hữu
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là biểu hiện tập trung, rõ nét nhất
của quyền công tố, kể cả đối với các vụ án xâm phạm sở hữu. Tại phiên tòa, KSV
23
THQCT là đại diện VKSND thực hiện nhiệm vụ thay mặt quyền lực công (nhà
nước) chính thức công bố công khai sự buộc tội của nhà nước đối với bị cáo, đồng
thời bảo vệ sự buộc tội đó trước HĐXX và những người tham gia tố tụng tại phiên
tòa. Hoạt động này chỉ được tiến hành bởi VKSND, là cơ quan duy nhất đại diện
Nhà nước. Nhưng VKSND là tổ chức nên việc thông qua nhiệm vụ thực hiện buộc
tội bị cáo tại phiên tòa không thể tất cả người của VKSND hoặc ai cũng được mà
phải do VKSND quyết định cử (phân công) người đại diện cho tổ chức mình thực
hiện nhiệm vụ ấy, đó chính là Kiểm sát viên. Để thực hiện chức năng THQCT trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm, Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS quy định cho VKSND
một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó có những quyền chỉ có
VKS mới thực hiện được, đó là công bố sự buộc tội bị cáo trước tòa bằng bản cáo
trạng và bảo vệ cáo trạng bằng luận tội, do đó phải có KSV tham gia phiên tòa với
vai trò là bên buộc tội.
Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS thì KSV THQCT tại
phiên tòa bằng các hoạt động: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ
tục rút rọn, các quyết định khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án; Xét hỏi để
làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải
quyết đúng đắn vụ án; Thực hiện việc luận tội; Tranh luận với bị cáo, bị hại, nhân
chứng, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
- Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút rọn, các quyết
định khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án;
Điều 306 BLTTHS quy định: “Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên
công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không
được làm xấu đi tình trạng của bị cáo” [35, tr 265].
Theo quy định tại Điều 23 Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của
Viện trưởng VKSND tối cao (gọi tắt là Quy chế 505) thì Kiểm sát viên phải đọc,
công bố nguyên văn bản cáo trạng. Nguyên văn không có nghĩa là đọc toàn bộ dấu
chấm, phẩy, nơi nhận của văn bản mà nguyên văn là nguyên văn nội dung. Nếu cáo
24
trạng nhiều trang, KSV cần phải nghiên cứu, phải đọc trước. Tại phiên tòa, khi công
bố, KSV phải đứng thẳng, có khoảng nhìn lên, quan sát thái độ bị cáo, người tham
dự phiên tòa, không được “chỉ nhìn vào văn bản”, giọng đọc cần rõ ràng, mạch lạc,
không ngọng, lắp, vấp và phải có điểm nhấn tại các phần như kết luận, quyết định;
có ngắt câu, có thể bố trí lại dấu chấm, phẩy mà không làm mất đi hoặc sai lệch nội
dung; đối với những từ ngữ la tinh, nước ngoài, chữ viết tắt cần phiên âm ra tiếng
việt khi đọc, ví dụ: chất heroin = chất hê-rô-in; Methamfetamine = mê-tham-phê-ta-
min; Công ty THHH = Công ty trách nhiệm hữu hạn …
Đối với vụ án có nhiều Kiểm sát viên THQCT tại phiên tòa thì cần có sự
phân công cụ thể KSV công bố Bản cáo trạng, nên tự giới thiệu họ tên trước khi đọc
và nói đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc khi đã công bố xong Cáo trạng.
Sau khi công bố bản cáo trạng, KSV có thể trình bày ý kiến bổ sung nhưng chỉ để
làm rõ, bổ sung thêm nội dung của bản cáo trạng mà không làm thay đổi nội dung
bản cáo trạng, không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Thực tiễn thấy rằng
KSV thường phát biểu về các tình tiết, nội dung có lợi cho người bị buộc tội (bị
cáo) như bị cáo đã bồi thường, đã hợp tác với cơ quan điều tra tố giác đồng phạm,
người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do chuyển biến chính sách pháp
luật, nên hành vi của bị cáo phạm vào Điều luật nhẹ hơn…
- Xét hỏi để làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác có ý
nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án;
Khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, Kiểm
sát viên kiểm chứng, chứng minh sự buộc tội của VKS bằng việc xét hỏi bị cáo, bị
hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định;
xem xét, đối chiếu tài liệu của các cơ quan chuyên môn, xem xét vật chứng...để bảo
đảm rằng sự buộc tội là có căn cứ, các chứng cứ được thu thập ở các giai đoạn trước
đó là hợp pháp, khách quan và có liên quan đến vụ án nên cần phải được kiểm
chứng công khai để chứng minh tại Tòa án là đúng với nội dung bản cáo trạng đã
truy tố; đảm bảo các hành vi phạm tội phải được phát hiện xử lý, không bỏ lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
25
Xét hỏi của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là việc KSV trực tiếp
xét hỏi bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, xem xét tại
chỗ, nhận xét và hỏi thêm những vấn đề có liên quan để xem xét, đánh giá chứng
cứ; các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm xác định
sự thật khách quan của vụ án. Việc xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện theo các
Điều 307, 308, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 317, 318 BLTTHS năm
2015.
Phạm vi xét hỏi của KSV đối với những người nêu trên bao gồm mọi khía
cạnh liên quan đến vụ án, đó là: Những chứng cứ, tình tiết xác định có tội và vô tội,
những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân bị
cáo, nguyên nhân và điều kiện phạm tội... đặc biệt, KSV cần chú ý hỏi để làm rõ
những dấu hiệu pháp lý đặc trưng để phân biệt các tội danh thuộc nhóm xâm phạm
sở hữu ví dụ như cần làm rõ dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực thì trong điều kiện hoàn
cảnh đó có diễn ra ngay tức khắc không, có làm bị hại tê liệt ý chí kháng cự không
để phân định giữa tội cướp tài sản hay cưỡng đoạt tài sản hoặc để làm rõ thủ đoạn
gian dối của bị cáo có trước hay sau khi nhận tài sản để phân định giữa tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc ngay sau khi trộm
tài sản mà bị phát hiện thì người phạm tội đã có hành vi chống trả người bắt giữ, khi
đó cần làm rõ mục đích chống trả làm nhằm tẩu thoát hay nhằm chiếm đoạt tài sản
để phân định có việc chuyển hóa tội danh từ trộm cắp tài sản thành tội cướp hay
không … Kết quả xét hỏi là cơ sở để HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự xác định đủ căn cứ để kết tội bị cáo hay không. Nếu có thì
bị cáo phạm tội gì, theo quy định tại khoản, điều nào của Bộ luật hình sự, hình phạt
nào áp dụng đối với bị cáo, có thể áp dụng biện pháp tư pháp cũng như buộc bị cáo
và người có liên quan bồi thường cho bị hại hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan.
Sau khi xét hỏi, nếu việc buộc tội có căn cứ thì Kiểm sát viên bảo vệ cáo
trạng bằng luận tội; nếu việc buộc tội không chính xác tội danh thì tùy trường hợp
mà thay đổi tội danh bằng hoặc nhẹ hơn hoặc đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để
26
điều tra bổ sung về tội danh nặng hơn cáo trạng truy tố; còn nếu xét thấy việc buộc
tội là không có căn cứ thì Kiểm sát viên có quyền rút quyết định truy tố.
- Thực hiện việc luận tội;
Luận tội là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VSKND khi THQCT
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm do KSV trực tiếp thực hiện ngay sau khi kết thúc
phần xét hỏi, mở đầu phần tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Vậy, “Luận tội” là gì, theo tác giả “Luận” có nghĩa “bàn luận”, “bình luận” trao đổi,
phân tích và nhận định về tình hình, vấn đề nào đó, dựa vào lý lẽ, ý nghĩa mà suy ra.
Còn “tội” trong quy định “luận tội” của BLTTHS có nghĩa là tội trạng của bị cáo,
người phạm tội. Do đó, “Luận tội” là “bàn luận về hành vi phạm tội của bị cáo tại
phiên tòa”, để từ đó KSV căn cứ đề nghị mức án cho phù hợp, giúp HĐXX có căn
cứ ra bản án, quyết định đúng quy định của pháp luật.
Luận tội luôn là một vấn đề được quan tâm không chỉ đối với cán bộ, KSV
Ngành Kiểm sát mà còn đối với cả các cơ quan tư pháp, thậm trí là với cả các cơ
quan truyền thông và dư luận xã hội. Bởi nội dung luận tội luôn thể hiện xúc tích
nhất những đánh giá, nhận định, quan điểm xử lý đối với vụ án của VKS. Nếu luận
tội có chất lượng không những thể hiện được trình độ nghiệp vụ của cá nhân KSV
mà còn thể hiện được vai trò, vị thế của Ngành Kiểm sát trong công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm. Vì vậy, để có được một luận tội có chất lượng thì KSV cần
phải có kỹ năng để xây dựng một bản Dự thảo luận tội thật toàn diện. Xây dựng Dự
thảo luận tội là một trong những hoạt động thể hiện thao tác nghiệp vụ mà KSV
phải làm để chuẩn bị cho việc THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Dự thảo luận tội được KSV thực hiện trong giai đoạn truy tố và có thể được chỉnh
sửa, bổ sung tùy theo diễn biến tại phiên tòa, đến trước khi thực hiện việc luận tội
tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, Luận tội phải phân tích đánh giá các tài liệu, vật chứng được
thu thập, xác minh trong quá trình điều tra vụ án đúng trình tự, thủ tục tố tụng,
khách quan và liên quan đến vụ án để khẳng định các tài liệu, vật chứng đó là chứng
cứ và có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội. Việc phân tích, đánh giá các
27
chứng cứ phải toàn diện, đầy đủ để xác định bị cáo có tội hay không có tội, phân
tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân
thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nguyên
nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và các yếu tố khác có ý nghĩa cho việc
giải quyết đúng đắn vụ án; có thể nói luận tội là biện pháp bảo vệ cáo trạng VKS đã
truy tố nên KSV phải phân tích, đánh giá chứng cứ, viện dẫn các chứng cứ đã được
kiểm tra công khai tại phiên tòa, đảm bảo sự buộc tội của VKS (bản cáo trạng) là có
căn cứ.
Luận tội của VKS là cơ sở tranh luận giữa VKS với bị cáo, người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố
tụng khác, đồng thời là căn cứ để các bên đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về
toàn bộ nội dung vụ án. Đây là giai đoạn đấu lý quan trọng nhất, giai đoạn làm việc
cực lực của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải nên kiểm sát viên phải tập trung, nhạy
bén. Trên cơ sở luận tội, HĐXX sẽ xem xét, quyết định để đưa ra phán quyết đối
với toàn bộ vụ án và người phạm tội.
- Tranh luận với bị cáo, bị hại, nhân chứng, người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác.
Đối đáp, tranh luận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của KSV khi
THQCT tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Để thực hiện tốt việc đối đáp, tranh luận tại
phiên tòa, KSV phải nhiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tìm ra những vấn đề còn mâu thuẫn,
những chứng cứ còn yếu, đặc biệt phải xem xét đến các chứng cứ buộc tội, gỡ tội
một cách đầy đủ, đảm bảo tính khách quan. Bên cạnh đó, KSV còn cần phải xây
dựng kế hoạch xét hỏi gắn liền với kế hoạch tranh luận, dự kiến các tình huống có
thể xảy ra để chuẩn bị các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật
còn hiệu lực phục vụ tốt cho dự thảo nội dung tranh luận.
Tại phiên tòa, KSV phải tích cực tham gia xét hỏi để đấu tranh làm rõ
những chứng cứ, tình tiết chưa rõ nhưng cũng phải tập trung cao độ để theo dõi, ghi
chép đầy đủ các câu hỏi của Hội đồng xét xử, người bào chữa, các câu trả lời của bị
cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để phán đoán hướng bào chữa; từ
28
đó bổ sung vào dự thảo những ý kiến đối đáp, tranh luận. Nội dung đối đáp, tranh
luận của KSV tại phiên tòa phụ thuộc vào nội dung lời bào chữa của người bào
chữa, của bị cáo, bị hại… Khi đối đáp, tranh luận, KSV phải vận dụng, tổng hợp
những hiểu biết, kiến thức của mình về Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và
các văn bản pháp luật liên quan như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND
tối cao, Thông tư, Nghị định của Chính phủ, Liên ngành Trung ương … để xác định
chính xác tội danh, điều, khoản áp dụng hình phạt, trách nhiệm dân sự,… Trên cơ
sở các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã
được xét hỏi công khai tại phiên tòa, KSV phải đối đáp, tranh luận với người bào
chữa, bị cáo, bị hại những người tham gia tố tụng khác nhằm chứng minh luận điểm
của VKS là có căn cứ, đúng quy định để bác bỏ những luận điểm không đúng,
không đầy đủ, không trung thực của bị cáo, người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác ...
- Kháng nghị phúc thẩm:
Sau khi việc tranh luận kết thúc, bị cáo nói lời sau cùng Hội đồng xét xử sẽ
tiến hành nghị án để tuyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo. Tuy nhiên, việc xét xử
của Hội đồng xét xử không phải lúc nào cũng đúng, khó tránh khỏi những thiếu sót,
sai lầm không khắc phục được, gây nên tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Để
tránh những thiếu sót, sai lầm ấy thì cần thiết phải đảm bảo quyền “chống án” của
“bên buộc tội” và “bên gỡ tội” nên việc ra đời chế định kháng nghị phúc thẩm là
cần thiết. Vì vậy, Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014, điểm c khoản 1 Điều
266 BLTTHS năm 2015 quy định khi THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,
VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong
trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội”.
Theo tác giả Trần Thị Minh Ngọc: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền
năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện
thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Toà án
cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Thông qua việc kháng nghị phúc
29
thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời nhằm khắc phục
các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà
án chưa có hiệu lực pháp luật” [28, tr24].
Khi thực hiện chức năng THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,
VKS kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan,
sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.
Theo tác giả Trần Thị Quỳnh Anh: khái niệm “oan” có thể được hiểu là
“Trường hợp không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, do bị
vu cáo, dựng vụ án giả hoặc hành vi do người khác thực hiện, nhưng một người vẫn
bị điều tra, truy tố, xét xử và kết tội”. Khái niệm về “sai” có thể được hiểu là trường
hợp các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình
sự một cách không khách quan, không đầy đủ, trái với những quy định của pháp
luật. Việc để xảy ra sai trong xét xử vụ án hình sự với các biểu hiện như việc áp
dụng pháp luật hình thức, pháp luật nội dung không đúng, không đầy đủ, không
khách quan, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với một người phạm tội chưa chính xác [2, tr25].
Bỏ lọt tội phạm, người phạm tội: là trường hợp VKS truy tố người có hành
vi phạm tội nhưng vì lý do nào đó, Tòa án lại cho rằng không có sự việc phạm tội
hoặc người bị truy tố không phạm tội (bỏ lọt) và không bị một chế tài nào trừng
phạt mà vẫn “nhởn nhơ” ngoài vòng pháp luật.
Toàn bộ nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm
sở hữu chính là việc Kiểm sát viên, đại diện cho VKSND thực hiện tổng hợp các
quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thực hiện buộc
tội người phạm tội xâm phạm sở hữu tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất.
30
Tiểu kết Chương 1
Quá trình phát triển và hoàn thiện chế định quyền công tố gắn liền với bản
chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, gắn
với điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người của mỗi quốc
gia, bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau. Do đó, quyền công tố, THQCT
cũng có sự khác biệt nhất định.
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS
đối với người phạm tội, quyền này được Nhà nước giao cho cơ quan VKS để phát
hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. THQCT là chức năng của
VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với
người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ được thu thập, VKS xác định tội phạm và người
phạm tội, quyết định truy tố người phạm tội ra trước Toà án và bảo vệ quyết định
truy tố tội đó trước phiên toà.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, có ý
nghĩa rất quan trọng, quyết định thành quả các hoạt động tố tụng trước đó nên khi
THQCT này, VKS phải sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố để buộc tội người phạm tội tại phiên tòa ở cấp xét xử thứ nhất. Quá
trình này, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố
(theo thủ tục rút gọn) cùng hồ sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra
quyết định, bản án hoặc quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
cáo kháng nghị. Để thực hiện tốt công tác THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án xâm phạm sở hữu cần phải xác định rõ: Tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy
hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu được nhà nước
thừa nhận. Nhận dạng đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu thông qua việc nghiên
cứu cấu thành tội phạm của nhóm tội này, điểm đặc trưng riêng biệt của tội này với
tội khác để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố.
31
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
công cuộc cải cách về xã hội, kinh tế, chính trị đã đạt đến những bước phát triển
quan trọng, vừa là cơ hội - tiền đề, vừa là thách thức lớn đòi hỏi phải có những điều
chỉnh mang tính đột phá. So với kinh tế, xã hội thì xây dựng nhà nước pháp quyền -
chính trị có phần chậm hơn, trong đó cách tư pháp chậm hơn so với cải cách hành
chính. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm, tăng cường khả năng chống oan sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo
đảm các quyền tự do dân chủ của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy
định. Việc cải cách tư pháp trong đó có tố tụng hình sự phải bao gồm cả thẩm
quyền, nhiệm vụ của các chủ thể tố tụng, trình tự, thủ tục, thời hạn cũng như mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói
chung, tranh tụng trong xét xử nói riêng đã được đề ra trong nhiều Nghị quyết của
Đảng về cải cách tư pháp, trong đó Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đặt
ra yêu cầu phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các chủ thể
tham gia tố tụng tại phiên tòa để đưa ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức
thuyết phục. Việc đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng
tại các phiên tòa, đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh theo tinh thần
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn và trách nhiệm của các
32
chủ thể tham gia tố tụng. Đặc biệt, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 xác định
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, đáp ứng ngày càng cao trong
công cuộc đổi mới nguyên tắc của tố tụng hình sự. Trên cơ sở thi hành Luật tổ chức
VKSND và kết quả tổng kết thực tiễn thi hành luật, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 đã bổ sung “Nguyên tắc trong xét xử được bảo đảm” nhằm đảm bảo cho
những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình,
bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát
viên khi THQCT tại phiên tòa nói chung và phiên toàn sơ thẩm nói riêng.
Kế thừa các quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 có
những sửa đổi, bổ sung các quy định về xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, đã
nhập Phần thứ ba (xét xử sơ thẩm) và Phần thứ tư (xét xử phúc thẩm) thành Phần
thứ tư (xét xử vụ án hình sự), gồm 03 chương: Chương XX. Những quy định chung;
Chương XXI. Xét xử sơ thẩm; Chương XXII. Xét xử phúc thẩm. Qua đó phản ánh
chính xác hai cấp xét xử, tạo cơ sở để loại bỏ những quy định trùng lắp, không nhất
thiết phải lặp đi, lặp lại ở cả sơ thẩm và phúc thẩm, nhằm đảm bảo tính khoa học
trong việc phân chia các giai đoạn tố tụng, phù hợp với lý luận và thực tiễn áp dụng.
Theo khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được bảo đảm” [37], cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, BLTTHS
năm 2015 đã nhập “thủ tục xét hỏi tại phiên tòa” tại Chương XX với “tranh luận tại
phiên tòa” tại Chương XXI của BLTTHS năm 2003 thành “Thủ tục tranh tụng tại
phiên tòa” (Mục V Chương XXI Xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2015) để bảo
đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn thể hiện ngay
trong phần xét hỏi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, tố tụng hình sự Việt
Nam đã chính thức ghi nhận về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại BLTTHS, cụ thể là tại khoản 1 Điều 266
BLTTHS năm 2015. Có thể nói, đây là bước tiến mới, quan trọng trong công tác lập
pháp của nước ta, góp phần khẳng định vai trò của chức năng công tố và vị trí của
ngành kiểm sát.
33
Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của
BLTTHS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung, tranh luận trong xét xử nói
riêng, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, cụ thể:
- Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nội dung THQCT có nhiều sửa đổi, bổ
sung nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, quy định rõ trách nhiệm
của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều
279), theo đó Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người
tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa,
nhằm đảm bảo các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được đưa đến phiên tòa để xét xử phải
đầy đủ và hợp pháp, phiên tòa có đầy đủ các chủ thể tham gia tố tụng.
- BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp Viện kiểm sát phát
hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị
Tòa án trả hồ sơ” (khoản 2 Điều 280); sửa đổi quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ
sung: “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần
và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ bổ sung một lần”, “Có căn cứ khởi tố bị can
về một hay nhiều tội phạm khác”, “Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác
liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can”. Theo đó,
trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa yêu cầu và vẫn giữ
nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
để giải quyết vụ án hoặc tiến hành xét xử vụ án; trường hợp kết quả điều tra bổ sung
dẫn đến phải thay đổi quyết định truy tố thì VKS ban hành bản cáo trạng mới thay
thế bản cáo trạng trước đó. Với những sửa đổi, bổ sung của BLTTHS đã đáp ứng sự
linh hoạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật và bảo đảm yêu cầu tranh tụng trong tố
tụng hình sự.
- Đồng thời, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung điều luật quy định cụ thể
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, VKS
có nhiệm vụ, quyền hạn ( khoản 1 Điều 266):
34
“a) Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,
quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;
b) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
c) Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết
luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ
lọt tội phạm, người phạm tội;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này” [35].
BLTTHS năm 2015 đã bổ sung điều luật mới về nhiệm vụ và quyền hạn
của Kiểm sát viên khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, giúp
cho KSV nhận thức rõ nhiệm vụ và quyền hạn khi THQCT tại phiên tòa, để nâng
cao nhận thức trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.
- Công bố cáo trạng hoặc công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,
quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa:
Cáo trạng là văn bản pháp lý do VKS lập ra để khẳng định việc truy tố bị
can ra trước Tòa án để xét xử. Nội dung Cáo trạng, trên cơ sở kết quả điều tra và
kiểm sát điều tra, VKS xác định một hay nhiều người thực hiện hành vi phạm tội
cụ thể, từ đó truy tố ra trước Toà án để xét xử về một hay nhiều tội danh theo
điều khoản hình phạt cụ thể của BLHS. Cùng với cáo trạng, hồ sơ vụ án được
chuyển sang Tòa án đây là hoạt động đầu tiên của việc THQCT tại phiên tòa nhằm
công khai hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi truy tố, tại phiên toà Kiểm sát viên
công bố cáo trạng, xét hỏi và luận tội để bảo vệ bản cáo trạng đã truy tố. “Trước
khi tiến hành xét hỏi, KSV công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu
có). Ý kiến bổ sung không làm xấu đi trình trạng của bị cáo” (Điều 306), BLTTHS
năm 2015 có quy định mới KSV trình bày ý kiến bổ sung vào cáo trạng không được
làm xấu đi tình trạng của bị cáo, nhằm bảo đảm quyền của bị cáo (người bị buộc
tội).
35
Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh tụng nếu xét thấy có tình tiết mới có lợi
cho bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố, thì KSV trình bày lý do quyết định rút
một phần hay toàn bộ quyết định truy tố và phải chịu trách nhiệm về việc rút quyết
định, sau phiên tòa KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo.
- Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
Tiếp tục quá trình điều tra, tại phiên tòa công khai với sự có mặt của các
chủ thể liên quan đến vụ án chính, để bảo vệ cáo trạng của VKS, KSV chủ động xét
hỏi, thẩm vấn, đưa ra những chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp để chứng
minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết từng sự việc của vụ án nên việc xét
hỏi, việc tham gia xét hỏi của KSV tại phiên tòa là bắt buộc. Trình tự xét hỏi tại
phiên tòa là một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của mô hình thẩm vấn của tố tụng
hình sự Việt Nam, thể hiện tại Mục V “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” BLTTHS
năm 2015. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc xét hỏi và quyết định việc xét hỏi; tùy
thuộc vào từng vụ án cụ thể chủ tọa phiên tòa quyết định việc hỏi ai trước, hỏi ai
sau để việc xét hỏi có hiệu quả nhất. Trách nhiệm xét hỏi thuộc về HĐXX mà thực
chất là chủ tọa phiên tòa, trình tự thủ tục hỏi tại phiên tòa là chủ tòa phiên tòa hỏi
trước, sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc xét hỏi. Trước khi tham
gia phiên tòa, KSV phải chuẩn bị, dự thảo đề cương xét hỏi, dự kiến những nội
dung cần làm sáng tỏ, các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa. Tại phiên tòa,
KSV ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của HĐXX, người bào chữa, người tham gia
tố tụng khác, ý kiến trả lời của từng người được hỏi; khi KSV xét hỏi không hỏi lặp
lại những câu hỏi đã được hỏi trước đó, chủ động hỏi những vấn đề chưa được làm
rõ để làm sáng tỏ. Phạm vi xét hỏi của KSV bao gồm mọi khía cạnh liên quan đến
vụ án, đó là: Những chứng cứ, tình tiết xác định có tội và vô tội nhằm xác định sự
thật khách quan của vụ án, vai trò của từng bị cáo, những tình tiết tăng nặng và
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân bị cáo, nguyên nhân và điều
kiện phạm tội... trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp.
36
Khi có những tài liệu, chứng cứ, đồ vật mới phát sinh tại phiên tòa, KSV
cần kiểm tra, xét hỏi về nguồn gốc của những chứng cứ, đồ vật, tài liệu mới, xem
xét tính hợp pháp và có căn cứ nhằm xác định các chứng cứ, đồ vật, tài liệu mới có
làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án hay không.
Điểm mới của BLTTHS liên quan đến vấn đề xét hỏi là những người tham
gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình
tiết mới để làm sáng tỏ, bị cáo này có quyền đặt câu hỏi với bị cáo khác, bị hại,
đương sự, người làm chứng, người đại diện của họ về những vấn đề liên quan đến
vụ án nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý (Điều 307, Điều 309, Điều 310, Điều 311).
Để xác định, đối chiếu lời khai của bị cáo là có căn cứ hay không, HĐXX có thể
thực hiện việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, xem, nghe nội dung được ghi âm
hoặc ghi hình có âm thanh. Đồng thời có thể hỏi để nghe lời trình bày của đại diện
các cơ quan, tổ chức, người định giá tài sản, người giám định, yêu cầu Điều tra
viên, KSV, người tham gia tố tụng nêu quan điểm của mình để làm rõ những quyết
định hành vi tố tụng trong giai đoạn xem xét; xử lý thông tin tố giác tội phạm, điều
tra, truy tố, xét xử.
Trở lại việc xét hỏi (Điều 323) là việc HĐXX hỏi để làm rõ những vấn đề
chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ. Những vấn đề đã được xét hỏi, đã được làm
rõ thì HĐXX không hỏi lại. Sau khi HĐXX xong, KSV phải tiếp tục tranh luận theo
quy định, những vấn đề chưa được tranh luận hoặc đã tranh luận một phần thì KSV
tranh luận bổ sung, không lặp lại những nội dung đã tranh luận trước đó. Khi trong
lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với
vụ án thì HĐXX phải quyết định trở lại việc hỏi và yêu cầu bị cáo không được trình
bày những điểm không liên quan đến vụ án.
Tuy nhiên, Điều 307 BLTTHS năm 2015 quy định thẩm phán chủ tọa phiên
tòa là người điều hành xét hỏi và hỏi trước, hỏi chính; đến quyết định để hội thẩm
rồi mới đến KSV - người bảo vệ quan điểm truy tố, người tham gia tố tụng khác xét
hỏi. Quy định về thứ tự xét hỏi này là bất cập, nếu Thẩm phán có tinh thần đấu
tranh phòng đấu tội phạm thì vô hình trung đã dẫn đến việc thẩm phán làm thay
37
việc của KSV nhưng nếu thẩm phán có vấn đề không trong sáng thì “sẽ vẽ đường
cho hưu chạy” gây khó khăn cho việc KSV chứng minh hành vi phạm tội của bị
cáo, không đảm bảo tính vô tư của người “làm trọng tài, phân xử”, không thể hiện
đúng tinh thần của hoạt động tranh tụng. Bản chất của tranh tụng là việc tranh luận
giữa các bên có lập trường tương phản nhau, yêu cầu Thẩm phán chủ tọa làm trọng
tài phân xử. Thẩm phán là người điều hành xét hỏi là đúng, nhưng nếu thẩm phán là
người hỏi trước, hỏi chính thì vô hình trung đã làm thay nhiệm vụ của KSV hoặc
không vô tư trong việc làm rõ chứng cứ buộc tội tại phiên tòa và làm mất đi vị trí là
người trọng tài trung lập.
Mặt khác, sau khi truy tố thì VKS chuyển cáo trạng cùng hồ sơ vụ án đến
tòa án, trong đó có cả những tài liệu, đồ vật có thể đi kèm vụ án. Nếu tại phiên tòa,
bị cáo, bị hại hoặc những người tham gia tố tụng không nhớ những nội dung trước
đây đã khai hoặc mâu thuẫn hoặc bị cáo phản cung thì theo quy định Điều 308
BLHS cần phải công bố tài liệu, đồ vật để xem xét tại phiên tòa. Tuy nhiên, nếu hội
đồng xét xử phối hợp công bố tài liệu theo yêu cầu của KSV thì không vấn đề
nhưng nếu cho rằng trách nhiệm chứng minh, buộc tội của VKS thì lúc đó sẽ rất
khó khăn cho việc phạm tội.
- Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, kết
luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án
tại phiên tòa.
+ Luận tội và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa:
Luận tội là lời trình bày của KSV phân tích tội trạng, đề nghị kết tội bị cáo
khi việc xét hỏi kết thúc, mở đầu cho giai đoạn tranh luận. Luận tội là sự buộc tội
trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với bị cáo. Theo quy định của Luật
Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 42, 266, 320, 321 của BLTTHS năm 2015 và
Quy chế 505 thì luận tội là quyền hạn nhưng cũng là nhiệm vụ của KSV thuộc trình
tự tố tụng để bắt đầu hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa. Luận tội có ý
nghĩa pháp lý và chính trị rất lớn; luận tội của KSV thường được sự những người
tham dự phiên toà và công chúng quan tâm, đặc biệt chú ý theo dõi. Xét về tính chất
38
pháp lý, luận tội của KSV chính là công cụ để VKS THQCT Nhà nước tại phiên
toà. Để bản luận tội có chất lượng tốt, trước khi tham gia phiên toà, KSV cần phải
nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để chuẩn bị dự thảo luận tội. Khi xây dựng dự thảo luận
tội KSV phải đảm bảo tính có căn cứ, viện dẫn được chứng cứ chứng minh, đề xuất
đường lối, quan điểm giải quyết vụ án phải chính xác, khách quan. Khi xây dựng dự
thảo luận tội, KSV phải bám sát quy trình, theo đúng hướng dẫn tại Quy chế 505:
Dự thảo luận tội phải theo mẫu hướng dẫn của VKSND tối cao (Mẫu số 13), đối với
các vụ án trọng điểm, phức tạp, xét xử lưu động thì phải báo cáo Lãnh đạo VKS
duyệt và cho ý kiến về dự thảo luận tội…
Theo quy định tại Điều 321 BLTTHS năm 2015, luận tội phải căn cứ vào
những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa nên tại phiên tòa,
KSV cần tập trung chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích
cực, chủ động tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác. Trên có cơ đó, KSV tiến hành sửa
chữa, bổ sung cập nhật vào nội dung của dự thảo luận tội cho chính xác, đầy đủ
trước khi trình bày luận tội.
Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ
những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra đối với
người bị hại và an ninh, chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Khi phân tích, đánh
giá các nội dung trên, cần đúng mức, không phóng đại. Đánh giá vấn đề gì, cần phải
có chứng cứ chứng minh chính xác, đầy đủ. Ngoài ra, luận tội còn phải phân tích,
đánh giá các nội dung khác gồm nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội
danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện
pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa
đối với vụ án. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì khoản 4
Điều 320 BLTTHS quy định: “bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung
ý kiến sau khi KSV trình bày luận tội” [35] .
39
Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, KSV khẳng
định nội dung truy tố của cáo trạng là đúng hay không đúng, cần phải thay đổi, bổ
sung, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn hay không; kết
luận và đề nghị xử lý về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự
trong vụ án. Trên cơ sở đó, KSV phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề
nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết tội về
tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung; biện pháp tư pháp,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Luận tội còn phải chỉ rõ ra, phân
tích kỹ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và vi phạm pháp luật để kiến
nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật cụ thể nhằm góp
phần vào công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật.
+ Tranh luận:
Mỗi mô hình tố tụng phụ thuộc vào truyền thống của mỗi quốc gia, có nhiều
quan điểm về tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa. Tác giả đồng tình với quan điểm:
Tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời, sự bàn cải giữa
KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ
sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, giúp
HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [5, tr.258]. BLTTHS đã
có nhiều quy định về sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc đưa
ra các chứng cứ, trách nhiệm tranh luận và đối đáp dân chủ. Hội đồng xét xử không
phải là một bên trong tranh tụng nhưng có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực
hiện các quyền và nghĩa vụ tranh tụng. Điều 218 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị
cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý
kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập
luận của mình đối với từng ý kiến...” [34]. BLTTHS năm 2015 đã có sự thay đổi
mới đáng kể về tranh tụng nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư
pháp, bảo đảm phiên tòa hình sự được xét xử công khai, khách quan, bình đẳng.
Theo quy định Điều 322 BLTTHS năm 2015: “Bị cáo, người bào chữa, người tham
gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của
40
mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác
định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả
do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự,
xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình
tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án” [35]. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố
tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ,
tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa,
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Khi đối đáp, tranh luận Kiểm sát viên
phải vận dụng tổng hợp những hiểu biết, kiến thức pháp luật của mình về Bộ luật
hình sự, tố tụng hình sự, Luật, các văn bản pháp luật khác (Nghị quyết của Hội
đồng thẩm phán Tòa án tối cao, Thông tư, Nghị định của Chính phủ, Liên ngành
Trung ương …) có liên quan đến việc xác định tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm
sở hữu, điều khoản áp dụng hình phạt, trách nhiệm dân sự … trên cơ sở các chứng
cứ, tài liệu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dân sự đã được
thẩm tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải đối đáp, tranh luận với
bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để chứng minh luận
điểm của đại diện VKS tại phiên tòa là đúng, có căn cứ và luận điểm của bị cáo,
người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác là không đúng, không đầy
đủ, không trung thực...Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận giữa bên buộc tội
và bên gỡ tội, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại
hoặc đại diện hợp pháp của họ, những người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình
bày hết ý kiến của mình. Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt, không cho
trình bày những ý kiến không liên quan đến vụ án hoặc những ý kiến lặp lại. Chủ
tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa,
người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh
luận. Như vậy, khi THQCT tại phiên tòa, KSV bắt buộc phải tranh luận, dự thảo đề
cương tranh luận phải được chuẩn bị trước, dự kiến những vấn đề cần tranh luận; tại
41
phiên tòa KSV phải ghi chép đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, đưa
ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến bị cáo, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. KSV tổng hợp các ý kiến của
người bào chữa (nhiều người bào chữa) cho bị cáo hoặc những người tham gia tố
tụng khác có cùng nội dung để đối đáp chung đối với các ý kiến đó. Khi tranh luận,
KSV phải bình tĩnh, thận trọng, khách quan, tôn trọng ý kiến của những người tham
gia tố tụng, cần căn cứ vào lý luận của cấu thành tội phạm, phân tích, đánh giá bốn
yếu tố cấu thành tội phạm, lý luận về chứng cứ để lập luận một cách lôgic theo từng
vấn đề. KSV cần dựa vào các chứng cứ của vụ án, các quy định trong BLHS,
BLTTHS, các văn bản dưới luật, các quy định chuyên ngành, các quy tắc trong cuộc
sống để tranh luận, đối đáp, lập luận chặt chẽ khẳng định quan điểm đúng đắn của
mình, kiên quyết bác bỏ ý kiến sai trái hoặc không đúng của người bào chữa, bị cáo, bị
hại hoặc những người tham gia tố tụng khác. Thực tế THQCT tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự cho thấy, người bào chữa, bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự thường tập trung tranh luận vào những vấn đề sau:
Một là, bị cáo không nhận tội, người bào chữa cho rằng bị cáo không phạm
tội theo cáo trạng mà VKS đã truy tố, kết luận trong luận tội của KSV.
Hai là, bị cáo, người bào chữa thừa nhận bị cáo phạm tội nhưng với tội khác,
nhẹ hơn so với tội danh mà VKS truy tố, kết luận nên đề nghị thay đổi tội danh;
Ba là, thừa nhận bị cáo phạm tội theo đúng tội danh mà VKS đã truy tố
nhưng phạm vào khoản khác, nhẹ hơn so với khoản VKS đã truy tố.
Bốn là, thừa nhận bị cáo phạm tội theo đúng tội danh, điều khoản của VKS
đã truy tố nhưng quá trình điều tra, truy tố, xét xử có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tạm hoãn phiên tòa, trả hồ sơ yêu cầu điều tra
bổ sung.
Năm là, không đồng ý với các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, đề nghị loại bỏ tình tiết tăng nặng, hoặc tăng thêm tình tiết giảm nhẹ.
Sáu là, không đồng ý với loại và mức hình phạt mà KSV đề nghị vì cho rằng
như vậy là nặng, không tương xứng và đề nghị mức hoặc loại hình phạt nhẹ hơn.
42
Bảy là, không đồng ý với mức bồi thường thiệt hại hoặc biện pháp xử lý vật
chứng do KSV đề nghị.
+ Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên
tòa (Điều 319):
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn
bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Trường hợp có căn cứ xác định
để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội khác nhẹ
hơn; kết luận về một khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn trong cùng một điều luật
làm thay đổi quyết định truy tố, đường lối xử lý đã được lãnh đạo cho ý kiến thì
KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Khi KSV rút một
phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử
vụ án.
Kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn;
Qua kết quả xét hỏi, cho dù kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa có thể
làm thay đổi nhận thức về hành vi phạm tội so với thời điểm truy tố theo khoản
hoặc tội nặng hơn cáo trạng đã truy tố thì KSV cũng không được kết luận theo
khoản khác nặng hơn khoản đã truy tố, không được kết luận theo tội khác nặng hơn
tội đã truy tố. Điều này mâu thuẫn với quy trình tố tụng ở giai đoạn điều tra và giới
hạn xét xử của Tòa án. Bởi theo khoản 3 Điều 8, khoản 4 Điều 9 Thông tư liên tịch
số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về quan hệ phối hợp giữa
Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự thì quá trình điều tra phát hiện bị can phạm vào khoản nặng hơn
khoản đã khởi tố thì cũng không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án, không phải
thay đổi quyết định khởi tố bị can [80]. Còn theo khoản 2, 3 Điều 298 BLTTHS
năm 2015, Ở giai đoạn xét xử, tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với
khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật (kể cả khoản khác nặng hơn
khoản đã truy tố), thậm chí có thể xét xử theo tội nặng hơn tội mà VKS đã truy tố
(sau khi đã trả hồ sơ để VKS truy tố lại nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy
tố). Điều này vô hình trung đã làm mất đi tính khách quan trong hoạt động chứng
43
minh của VKS, khiến cho hoạt động THQCT của VKS bị phụ thuộc vào kết quả
điều tra của CQĐT và hoạt động xét xử của tòa án. Cụ thể, khoản 1 Điều 266
BLTTHS năm 2015 không quy định về thẩm quyền của KSV khi luận tội tại phiên
tòa có thể kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố
trong cùng một điều luật. Còn điểm c khoản 1 Điều 266 BLTTHS năm 2015 lại quy
định VKS có quyền “kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn”, nhưng khoản 3 Điều
321 BLTTHS nãm 2015 (luận tội của KSV) và khoản 1 Điều 325 BLTTHS năm
2015 (xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa)
lại chỉ quy định KSV chỉ có thể kết luận về tội nhẹ hơn mà không quy định thẩm
quyền của KSV có thể kết luận về tội khác bằng với tội đã truy tố. Trong khi đó,
khoản 3 Điều 25 Quy chế 505 lại cho phép KSV có thể kết luận về khoản khác nhẹ
hơn hoặc nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật. Điều này
tạo nên sự không thống nhất trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về THQCT của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. điều này gây khó
khăn cho KSV khi tranh luận, bởi vì những gì không được nêu trong bản luận tội thì
không thuộc phạm vi tranh luận.
Rút quyết định truy tố
Sau khi xét hỏi (Điều 319), khi luận tội, phát biểu quan điểm giải quyết vụ
án hoặc sau khi tranh luận (Điều 320, 322, 325), Kiểm sát viên nhận thấy có căn cứ
thuộc quy định Điều 285 BLTTHS thì KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết
định truy tố và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu KSV rút một
phần quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Nếu KSV rút
toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án Hội đồng xét xử yêu cầu những
người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút đó. Khi nghị án, nếu Hội đồng
xét xử cho rằng việc rút quyết định truy tố đúng đắn thì ra bản án tuyên bị cáo vô
tội; nếu thấy bị cáo có tội và rút quyết định truy tố không đúng, thì ra quyết định
tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị lên Viện trưởng VKSND cùng cấp hoặc Viện
trưởng VKSND cấp trên trực tiếp. Điểm bất cập là, khi KSV rút quyết định truy tố,
nhưng Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án hoặc kiến nghị lên VKSND cấp
44
trên, điều này không phù hợp. Bởi lẽ nếu KSV đã rút quyết định truy tố (rút toàn bộ
cáo trạng) thì đương nhiên sẽ không có lời luận tội, cũng không có việc đối đáp
tranh luận giữa các bên nhưng Tòa án vẫn tiếp tục xét xử, vẫn ra bản án thì trái với
chức năng xét xử của Tòa án, qua đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị buộc
tội. Đáng lẽ, khi KSV rút quyết định truy tố phần nào, HĐXX chỉ được xét xử phần
còn lại, và nếu KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì vụ án phải được tuyên bố bị
cáo vô tội, không phải HĐXX lựa chọn là tiếp tục xét xử. Như vậy, thẩm quyền của
Tòa án trong vấn đề rút quyết định truy tố đã mâu thuẫn với chức năng xét xử. Vì
giới hạn xét xử và quyền công tố của Kiểm sát viên đặt ra yêu cầu nếu không có
buộc tội thì không phát sinh việc xét xử.
+ Về giới hạn xét xử của tòa án
Quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 cho phép tòa
án xét xử theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố trong cùng hoặc
khác điều luật. Điều này thể hiện tính độc lập trong hoạt động xét xử của tòa án,
nhưng mặt khác lại ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động THQCT của VKS tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bởi nếu tòa án cho rằng bị cáo phạm tội
nặng hơn cáo trạng đã truy tố nên đã tra trả hồ sơ để truy tố lại theo tội nặng hơn
nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm ban đầu, tức không truy tố theo tội nặng
hơn. Mà cáo trạng truy tố (buộc tội) thì mới có việc xét xử, không truy tố (buộc tội)
thì không có xét xử nhưng điều luật này cho phép tòa án xét xử khi không có buộc
tội của VKS là không đúng về chức năng tố tụng tư pháp. Trong trường hợp này,
tòa án kiêm luôn cả chức năng buộc tội dẫn đến việc xét xử không còn đảm bảo sự
vô tư, khách quan. Thậm chí còn vi phạm cả quyền bào chữa của bị buộc tội. bởi tại
phiên tòa sơ thẩm, KSV THQCT cũng không được kết luận về tội danh theo hướng
bất lợi cho bị cáo và ngay cả giai đoạn điều tra, nếu người bị buộc tội (bị can) phạm
vào tội nặng hơn còn phải thực hiện việc thay đổi quyết định khởi tố nhưng đối với
việc tòa án xét xử thì chỉ cần thông báo trả hồ sơ là có thể xử bị cáo theo tội danh
nặng hơn là chưa phù hợp.
+ Kháng nghị phúc thẩm
45
Kế thừa các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước đây, BLTTHS
năm 2015 đã quy định tiến bộ hơn về Kháng nghị phúc thẩm, trong đó có sự phân
định về kháng nghị phúc thẩm khi nào thuộc chức năng thực hành quyền công tố,
khi nào thuộc chức năng kiểm sát xét xử. Cụ thể điểm c khoản 1 Điều 266 BLTHS
năm 2015 quy định khi THQCT mà phát hiện bản án sơ thẩm có oan, sai, bỏ lọt tội
phạm, người phạm tội thì VKS sẽ kháng nghị phúc thẩm.
Trên thường tiễn việc kháng nghị phúc thẩm đối với các trường hợp oan, bỏ
lọt người, lọt tội là ít, vì phần lớn các cáo trạng truy tố của VKS phần lớn là đúng
quy định và được Hội đồng xét xử chấp nhận tuyên các bị cáo có tội. Điều đó,
không có nghĩa rằng trên thực tế không phát sinh kháng nghị phúc thẩm đối với bản
án sơ thẩm có dạng vi phạm này. Dạng vi phạm còn lại “sai” thường được VKS
kháng nghị phúc thẩm hơn, thường rơi vào dạng kháng nghị phúc thẩm đối với
trường hợp mức án mà hội đồng xét xử quá nhẹ, không tương xứng với tính chất,
mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Nhìn chung những quy định của BLTTHS năm 2015 về THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm không những khắc phục được hạn chế, thiếu sót của BLTTHS
năm 2003, BLTTHS năm 2015 còn đã có bổ sung nhiều quy định đảm bảo cho
nguyên tắc tranh tụng được thực hiện, nâng cao vai trò trách nhiệm của KSV khi
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là một bên đảm bảo tranh tụng nhưng cũng
có những quy định còn bất cập, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động THQCT
của VKS tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án xâm phạm sở hữu tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
2.2.1. Khái quát về tình hình xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu tại
huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Tỉnh Bình Phước là một trong các tỉnh nằm trong vùng minh tế trọng điểm
phía Nam và Chơn Thành là huyện kinh tế trọng điểm của tỉnh Bình Phước với
nhiều khu công nghiệp ngày càng phát triển nên có một vị trí địa chiến lược quan
trọng. Trong những năm quan, với sự chú trọng đầu tư của tỉnh Bình Phước, kinh tế
46
- xã hội ở huyện Chơn Thành phát triển nhanh. Đi đôi với sự phát triển kinh tế thì
hình vi phạm pháp luật và tội phạm ở huyện Chơn Thành cũng gia tăng, diễn biến
phức tạp, khó lường, tính chất, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội ngày càng tinh
vi, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra ngày càng nặng nề, trong đó có cả
các tội xâm phạm quyền sở hữu. Các cơ quan tiến hành tố tụng tại huyện Chơn
Thành đã có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật song
song với việc điều tra, khám phá án. Số lượng án hình sự nói chung, án liên quan
đến tội xâm phạm sở hữu nói riêng hàng năm tăng ít về số vụ nhưng tăng nhiều về
số người phạm tội với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với xã hội ngày càng cao.
Cụ thể số liệu xét xử trong 05 năm (2016 - 2020) như sau:
Qua thống kê số liệu (Bảng 2.1), có thể thấy từ năm 2016 đến năm 2020 số
lượng án xét xử liên quan đến các vụ án phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện
Chơn Thành tăng, giảm không ổn định, số lượng án và số bị cáo tăng dần từ năm
2016 đến năm 2018, sau đó giảm dần từ năm 2018 đến 2020, thấp hơn cả năm 2016.
Tổng số các vụ án hình sự Tòa án xét xử 558 vụ/1.037 bị cáo thì có đến 251vụ/378
bị can XPSH (chiếm tỷ lệ 44,98% vụ/36,45% bị cáo). Trong tổng số vụ án XPSH
được xét xử thì chủ yếu vẫn là nhóm tội có tính chiếm đoạt với 06 tội (chiếm
95,22%) gồm số vụ án trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ 70,12% (176 vụ/251 vụ), tiếp
đến là vụ án Cướp tài sản chiếm tỷ lệ 7,17% (18 vụ/251 vụ), vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản chiếm tỷ lệ 6,77% (17 vụ/251 vụ); vụ án lừa đảo chiếm
đoạt tài sản chiếm tỷ lệ 5,98% (15 vụ/251 vụ), , vụ án cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ
4,38% (11 vụ/251 vụ), vụ cưỡng đoạt tài sản 0,80%; còn lại nhóm tội không có tính
chiếm đoạt, với 1 tội vụ án hủy hoại tài sản (12 vụ/251 vụ) chiếm tỷ lệ 4,78%.
Trong các tội có tính chiếm đoạt thì số vụ/bị cáo chiếm tỷ lệ cao nhất là tội trộm cắp
tài sản, chiếm hơn 70% (02 vụ/251 vụ) [66], [67], [68], [69], [70].
Tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Chơn Thành ngày càng phát triển với tốc
độ cao, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm ngày càng
tăng về số lượng với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Các yếu tố
47
tiêu cực là nguyên nhân và điều kiện của tình hình các vụ án XPSH trên địa bàn
huyện Chơn Thành giai đoạn 2016- 2020 có thể khái quát như sau:
Về nguyên nhân khách quan: Môi trường gia đình, nhà trường và môi trường
xã hội trên địa bàn huyện Chơn Thành vẫn còn chứa đựng những yếu tố không lành
mạnh trong việc hình thành nhận thức, tình cảm đối với pháp luật, đạo đức truyền
thống đã có những tác động trong việc hình thành ý thức thiếu tôn trọng những giá
trị vật chất, quyền sở hữu tài sản của con người; sự di dân từ các vùng nông thôn về
các khu công nghiệp nên tập trung nhiều thành phần; công tác quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực còn nhiều kẽ hở, hệ thống pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện;
nhiều tệ nạn nghiện game, hút chích, nhiều thành phần ăn chơi, đua đòi nhưng lười
lao động, thích hưởng thụ công sức của người khác; người bị hại nhẹ da, cả tin, sự
sơ hở của người quản lý tài sản; sự phát triển của công nghệ thông tin, các trang
mạng xã hội ...cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến phạm tội.
Về nguyên nhân chủ quan: Đa phần người phạm tội xâm phạm sở hữu có
trình độ thấp, có độ tuổi từ 18 đến 30; ý thức chấp hành pháp luật thấp, nhận thức
không đúng trong ý thức tôn trọng quyền sở hữu của con người, kết hợp với những
nhu cầu, sở thích không lành mạnh của người phạm tội đã dẫn đến hình thành động
cơ thực hiện hành vi phạm tội; có lối sống thích hưởng thụ nhưng lười lao động, hút
chích, nghiện game; một số tội phạm có sử dụng hung khí để gây án, có bàn bạc kế
hoạch gây án cụ thể, thực hiện hành vi phạm tội manh động; thực hiện hành vi
phạm tội xuyên tỉnh trong phạm vi cả nước.
Về điều kiện phạm tội: Người quản lý tài sản chưa có nhận thức đúng về việc
quản lý, bảo vệ tài sản, thiếu thận trọng trong cuộc sống, phô trương tài sản, mất
cảnh giác, nhẹ dạ cả tin,...đã tạo điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện
hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và sự manh động của đối tượng phạm
tội.
Trước diễn biến về tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, cấp ủy Đảng đã
chỉ đạo quyết liệt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; phối hợp với
chính quyền luôn xác định đây là công tác trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên,
48
nhằm góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. VKSND huyện
Chơn Thành đã có nhiều cố gắng, nỗ lực phấn đấu và đạt những kết quả đáng khích
lệ khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung và vụ án
xâm phạm sở hữu nói riêng. VKSND đã phối hợp với TAND huyện Chơn Thành
mở các phiên tòa rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp để nâng cao quyền
hạn, trách nhiệm, kỹ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký. Tại
phiên tòa, Kiểm sát viên đã chủ động, tích cực tham gia việc xét hỏi, tranh luận với
người bào chữa, bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự...và
những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật của vụ án. Tuy nhiên, khi
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu có những hạn chế,
khuyết điểm, sai sót như: truy tố bị can thiếu chứng cứ quan trọng, thu thập tài liệu
chưa đầy đủ, xây dựng hồ sơ có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ...dẫn đến
TAND huyện Chơn Thành phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc TAND tỉnh Bình
Phước tuyên hủy án để điều tra, xét xử lại vụ án.
2.2.2. Kết quả thực hành quyền công tố và nguyên nhân
2.2.2.1. Thực tiễn công bố cáo trạng hoặc công bố quyết định truy tố theo
thủ tục rút gọn tại phiên tòa sơ thẩm
Cáo trạng là văn bản pháp lý của VKS, với nội dung là những căn cứ cụ thể
dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các tình tiết của vụ án để từ đó truy tố bị can
ra trước tòa án. VKSND huyện Chơn Thành nói chung và từng Kiểm sát viên nói
riêng luôn chú trọng trong việc xây dựng cáo trạng để cáo trạng đảm bảo về nội
dung và hình thức,. Kiểm sát viên xây dựng dự thảo cáo trạng xong, được chuyển
cho lãnh đạo phụ trách bộ phận hình sự duyệt, sau đó chuyển đến Viện trưởng xem
xét. Như vậy, cáo trạng trước khi được ban hành chính thức được thông qua, nhận
xét, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện, đảm bảo đúng mẫu số
144/HS ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của
VKSND tối cao. Hàng năm, VKSND Chơn Thành tham gia các cuộc thi để nâng
cao chất lượng công tác kiểm sát, trong đó có thi viết cáo trạng, luận tội; đơn vị
thường xuyên họp để đánh giá chất lượng bản cáo trạng của Kiểm sát viên. Trong
49
quá trình xét xử, Kiểm sát viên đọc nguyên văn cáo trạng chính xác, rõ ràng, ngắt
câu, ngắt ý đúng chỗ, đúng lúc, âm lượng vừa đủ nghe tạo được sự trang nghiêm,
giúp cho những người tham dự phiên tòa nghe dễ hiểu, nắm bắt nhanh chóng được
nội dung vụ án. Điều này đã tạo được vị thế của người Kiểm sát viên tại phiên tòa,
giúp Kiểm sát viên tự tin hơn trong xét hỏi, tranh luận và đối đáp để chứng minh
hành vi phạm tội của bị cáo.
Kết quả công bố cáo trạng và bảo vệ cáo trạng đều đạt chất lượng, làm rõ
được các vấn đề tại phiên tòa để việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ năm 2016 - 2020 VKSND huyện Chơn Thành đã truy tố 298 vụ/467 bị cáo,
TAND huyện Chơn Thành đã xét xử 251 vụ/378 bị cáo, tương ứng VKSND huyện
Chơn Thành đã ban hành 298 bản cáo trạng. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung
là 24 vụ/48 bị cáo, VKS không chấp nhận thụ lý để điều tra bổ sung 13 vụ, giữ
nguyên cáo trạng đã truy tố, yêu cầu Tòa án tiếp nhận lại hồ sơ để xét xử theo quy
định của pháp luật đối với 11 vụ [66], [67], [68], [69], [70].
2.2.2.2. Thực tiễn hoạt động xét hỏi
Hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm trong thời gian
qua đã có những chuyển biến tích cực, từng Kiểm sát viên đã nhận thức đầy đủ hơn
về nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Trước khi THQCT tại phiên tòa, Kiểm sát viên
phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung vụ án, phải xây dựng đề cương xét hỏi
một cách chi tiết, câu hỏi phải ngắn gọn, đủ ý, dễ hiểu, rõ ràng nhằm làm sáng tỏ
các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo; dự kiến các vấn đề cần làm
sáng tỏ, đối chiếu với các lời khai đã có trong hồ sơ vụ án; dự kiến các tình huống
khác có thể phát sinh tại phiên tòa để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tại
phiên tòa, Kiểm sát viên tập trung theo dõi diễn biến phiên tòa, ghi chép đầy đủ nội
dung xét hỏi của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên,
người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến trả
lời của người được xét hỏi; Kiểm sát viên phải chủ động tham gia xét hỏi, không
hỏi lại những câu hỏi đã được hỏi để tránh sự chồng chéo không cần thiết. Khi xét
hỏi, Kiểm sát viên có thái độ bình tĩnh, không căn thẳng, đặt câu hỏi khách quan, rõ
50
ràng, dễ hiểu, tránh giải thích, kết luận ngay, linh hoạt khi đặt câu hỏi, tránh phụ
thuộc vào các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, nhạy bén, chủ động đưa ra những câu hỏi
phù hợp theo diễn biến tâm lý của bị cáo tại phiên tòa.
Kết quả THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu từ
năm 2016 - 2020, VKSND huyện Chơn Thành đã ra quyết định truy tố 298 vụ án
đối với 467 bị can. Tại phiên tòa, không có vụ án nào VKS không tham gia xét hỏi.
Khi xét hỏi, KSV luôn có thái độ nghiêm túc, lịch sự, xưng hô chuẩn mực, tuân thủ
đúng Quy tắc ứng xử của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt
động tư pháp tại phiên tòa, phiên họp của Tòa án ban hành kèm theo Quyết định số
46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 của VKSND tối cao; kiểm tra, xem xét lời khai
của bị cáo có phù hợp với vật chứng và các tình tiết khác của vụ án không, chủ
động xét hỏi về nguồn gốc chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ bản chất vụ án, làm
cơ sở để giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, việc xét hỏi tại phiên tòa vẫn do HĐXX mà chủ yếu là Thẩm
phán - Chủ tọa phiên tòa thực hiện nên Kiểm sát viên chưa phát huy được vai trò
tích cực trong việc xét hỏi để xác định tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm
tội. Đôi khi có những vụ án HĐXX hầu như đã hỏi cơ bản đầy đủ để xác định sự
thật khách quan của vụ án, Kiểm sát viên tham gia xét hỏi để bổ sung những câu hỏi
của HĐXX nhằm mục đích bảo vệ cáo trạng của mình là đúng và việc buộc tội bị
cáo có tội là có căn cứ.
2.2.2.3. Thực tiễn hoạt động tranh luận
Tranh luận được bắt đầu sau khi KSV luận tội đối với bị cáo, đưa ra quan
điểm về mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Trong
thời gian qua, Kiểm sát viên đã bám sát nội dung, yêu cầu của Quy chế thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự [77], chuẩn bị kỹ lưỡng luận tội,
căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; KSV không còn những luận
điểm quy chụp, suy diễn; bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiến của những
người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng đắn và bác bỏ những ý kiến, đề nghị
51
không có căn cứ pháp luật. Do đó, luận tội của KSV là phần được quan tâm theo dõi
đặc biệt của những người tham dự phiên tòa, nội dung luận tội phân tích sâu sắc,
khách quan, toàn diện, mang tích thuyết phục, bác bỏ những quan điểm sai trái của
bị cáo, người bào chữa trong quá trình xét hỏi; luận tội có tính giáo dục và tuyên
truyền pháp luật. Qua luận tội, KSV đã làm cho bị cáo, nhân dân hiểu biết thêm về
pháp luật, nhận thức sâu sắc hơn về sự công minh, nghiêm trị, khoan hồng của pháp
luật hình sự và chính sách của Nhà nước ta, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp
luật, nâng cao trách nhiệm trong phòng, chống tội phạm. Khi tranh luận, đối đáp,
KSV đã có thái độ bình tĩnh, linh hoạt, nói to, rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, đi thẳng
vào vấn đề, lập luận, phản bác quan điểm của người bào chữa, bị cáo có tính thuyết
phục hơn, có lý có tình trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan; thể hiện sự tôn
nghiêm qua tư thế, tác phong của người kiểm sát. Chất lượng tranh luận của KSV
tại phiên tòa từng bước được nâng lên, KSV đã tích cực, chủ động đối đáp với
những lập luận sắc bén để bác bỏ ý kiến và những đề nghị không đúng của bị cáo,
người bào chữa... nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của VKS.
Trong thực tiễn, luận tội của KSV tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện tóm tắt
được nội dung vụ án, phân tích đánh giá động cơ, nguyên nhân, điều kiện phạm tội,
vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giải quyết yêu cầu bồi thường và xử lý vật
chứng; KSV đã viện dẫn chứng cứ, khẳng định được tính có căn cứ của quyết định
truy tố, điều đó phản ánh chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của
KSV tại phiên tòa đã được nâng lên, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả
hoạt động công tác của VKSND huyện Chơn Thành trong những năm gần đây.
Đồng thời, khi THQCT tại phiên tòa, có nhiều trường hợp KSV được người tham
dự tại phiên tòa đánh giá cao về khả năng nhạy bén trong tranh luận, đối đáp, trong
xử lý tình huống mới phát sinh tại phiên tòa, đưa ra những lập luận sắc bén để
chứng minh bị cáo có tội và được HĐXX chấp nhận, dù cho bị cáo một mực không
nhận tội và kêu oan [66], [67], [68], [69], [70].
52
2.2.2.4. Thực tiễn hoạt động kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
Qua 05 năm (2016-2020) VKSND huyện Chơn Thành đã THQCT tại phiên
tòa sơ thẩm đối với 251 vụ/558 bị cáo về tội xâm phạm sở hữu (Bảng 2.1). Nhìn
chung các luận tội, phát biểu quan điểm giải quyết về vụ án luôn cơ bản phù hợp
với quan điểm của hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Tuy nhiên, cùng có vài
trường hợp còn có sự khác nhau về quan điểm giải quyết vụ án, nhất là về vấn đề
mức hình phạt được áp dụng với bị cáo, trách nhiệm dân sự. Nhưng sự chênh lệch
về mức án giữa đề nghị của KSV và HĐXX không lớn nên VKSND huyện chơn
thành ít ban hành kháng nghị phúc thẩm. Theo (Bảng 2.2), tổng số vụ án TAND
huyện Chơn thành đã xét xử trong 05 năm (2016-2020) là 558 vụ thì có 251 vụ án
xâm phạm sở hữu, chiếm 45% (251/558) tổng số án hình sự đã xét xử. Trong tổng
số vụ án hình sự đã xét xử thì VKSND huyện Chơn Thành chỉ kháng nghị phúc
thẩm 03/558 vụ (chỉ chiếm 0,54%), trong đó riêng án xâm phạm sở hữu đã chiếm
2/3 số lượng kháng nghị phúc thẩm, chiếm 0,36% (2/558) tổng số án hình sự và
0,80% (2/251) án xâm phạm sở hữu đã xét xử, và tất cả các kháng nghị phúc thẩm
này đều rơi vào thời điểm năm 2019 về tội danh về tội trộm cắp tài sản và cướp tài
sản, các năm còn lại đều không có kháng nghị phúc thẩm. Trong số các vụ án hình
sự mà TAND huyện Chơn Thành đã xét xử, bao gồm cả án xâm phạm sở hữu thì
trong 05 năm qua, VKSND cấp trên (tỉnh Bình Phước) cũng không kháng nghị phúc
thẩm vụ nào (Bảng 2.5). Quán triệt Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày
19/6/2008 và Chỉ thị số 08/2016/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng
VKSND tối cao về tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án hình sự: “Viện kiểm
sát các cấp thường xuyên quan tâm, coi trọng công tác kháng nghị phúc thẩm, coi
đây là một trong những công việc trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong kế hoạch, chương trình công tác năm
phải đề ra chỉ tiêu phát hiện những bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm về áp
dụng pháp luật, về thủ tục tố tụng để kháng nghị phúc thẩm, hàng năm được đánh
giá thi đua đối với đơn vị” [75, tr1-2]; các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác theo các Nghị
quyết số 37/2013/QH13 và Nghị quyết số 111/2015/QH13 của Quốc hội, Quyết
53
định số 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao; VKSND
huyện Chơn Thành xác định công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự là một nhiệm
vụ trọng tâm, xuyên suốt của công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Từ đó,
đơn vị đã đề ra các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện hàng năm.
Để công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự nói chung, đối với các vụ án
xâm phạm sở sở hữu nói riêng đạt hiệu quả, được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
chấp nhận; trước khi ban hành kháng nghị, lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành
trao đổi trước với Phòng THQCT và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự (gọi tắt
là Phòng 7) của VKSND tỉnh Bình Phước. Đồng thời, lãnh đạo VKSND huyện
Chơn Thành luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ bằng nhiều hình thức
cho KSV THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án
xâm phạm sở hữu nói riêng; lựa chọn và tổ chức các phiên toà rút kinh nghiệm theo
thần cải cách tư pháp có sự tham dự của nhiều KSV trong đơn vị; qua đó, đã phát
huy được trí tuệ tập thể trong giải quyết án, phát hiện được một số vi phạm trong
hoạt động xét xử của Tòa án, kiên quyết ban hành kháng nghị. Vì vậy, trong những
năm qua, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự tại VKSND huyện Chơn Thành đã
có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy số lượng
kháng nghị không nhiều nhưng các kháng nghị phúc thẩm luôn đảm bảo hình thức
đúng Mẫu số 15 ban hành kèm theo Quy chế 505; về nội dung kháng nghị đã chỉ ra
được vi phạm của bản án sơ thẩm, phân tích đánh giá được việc bản án áp dụng
mức hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị
cáo, việc phân tích lập luận chặt chẽ, viện dẫn đầy đủ căn cứ pháp luật nên chất
lượng kháng nghị được đảm bảo, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước chấp nhận đạt tỷ
lệ cao. Điển hình như: vụ án Nguyễn Trọng D trộm cắp tài sản:
Nguyễn Trọng D là người làm thuê cho anh Phạm Doãn K. Khoảng 20 giờ
ngày 17/6/2019, anh K và D bắt gà ở phía sau nhà anh K để hôm sau đi bán tại tỉnh
Bình Dương. Bắt gà được khoảng 15 phút thì D đi vệ sinh, khi đi vào nhà ngang
phòng khách thì phát hiện có 01 quần kaki màu xám của anh Khuyến để dưới nền
gạch, D cầm quần lên thấy trong ví da (bóp) có tiền. Quan sát không có ai, D lấy
54
30.900.000 đồng (gồm 60 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng/tờ, 09 tờ tiền mệnh giá
100.000 đồng/tờ) rồi để ví và quần lại như ban đầu. Sau đó D cất số tiền trong túi
quần rồi đi ra đường quốc lộ 14 đón xe khách đến thuê phòng trọ nghỉ tại khu vực
phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 18/6/2019, D
gặp bạn tên Đặng Thị Nam L (sinh năm 1983, nơi cư trú: xã Mỹ Lợi, huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định) tại khu vực quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây,
D đưa cho L mượn 55.000.000 đồng (trong đó, 30.900.000 đồng là tiền D lấy của
anh K và 24.100.000 đồng là tiền của riêng D). Sau khi đưa tiền, L đi về tỉnh Bình
Định, còn D sinh sống, làm thuê nhiều nơi tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình
Dương. Sau khi phát hiện mất tiền, anh K có liên lạc với D nhiều lần qua số điện
thoại di động 0347.554.759 và số 0968.964.568, D hứa sẽ trả số tiền đã trộm cho
anh K và cam kết cứ 10 ngày, D trả cho anh K 5.000.000 đồng và đến Công an
huyện Chơn Thành đầu thú, khai rõ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng của VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo
Nguyễn Trọng D theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề
nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50 và các điểm i, s khoản 1, 2 Điều
51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 01 năm tù nhưng cho hưởng án
treo. Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2019/HSST, ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân
dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s
khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, xử phạt Nguyễn Trọng D 01 năm tù.
Sau khi xét xử và nhận được bản án trên, Kiểm sát viên nhận thấy bị cáo D là
người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là lao
động chính trong gia đình và đang nuôi 2 con nhỏ nhưng TAND huyện Chơn Thành xử
phạt bị cáo D 01 năm tù là quá nghiêm khắc. Do đó, Kiểm sát viên đã kịp thời đề xuất
lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm
số 04/QĐ-VKS-HS, ngày 20/8/2019 kháng nghị một phần bản án nêu trên, đề nghị
TAND tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
và được TAND tỉnh Bình Phước chấp nhận giảm án cho bị cáo.
55
Để đạt được những kết quả tích cực như trên, trước tiên là sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương là động lực to lớn giúp KSV vững tin,
kiên quyết đấu tranh bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Bên cạnh đó, KSV có ý thức được trách
nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác THQCT, luôn có tinh thần trách
nhiệm trong công tác; nắm vững các quy định của pháp luật nhất là các cấu thành
tội phạm xâm phạm sở hữu để áp dụng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo; có
kỹ năng để THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: kỹ năng xét
hỏi, tranh luận, đối đáp, ghi chép, tổng hợp và văn hóa ứng xử; nắm vững nội dung,
các tình tiết, chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị cáo; mối liên hệ giữa các chứng cứ
với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; dự thảo được những
tình huống phát sinh trong quá trình tranh tụng và có hướng giải quyết phù hợp; có
niềm tin nội tâm, kiên quyết đấu tranh bảo vệ công lý và phải đặt mình trong hoàn
cảnh của người phạm tội để đưa ra hướng xử lý cũng như mức hình phạt phù hợp,
đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội.
2.2.3. Hạn chế, thiếu sót trong thực hành quyền công tố và nguyên nhân
2.2.3.1. Hạn chế, thiếu sót trong thực hành quyền công tố
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác THQCT trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án XPSH tại huyện Chơn Thành còn có một số thiếu sót, hạn chế, ảnh
hưởng đến chất lượng giải quyết án, dẫn đến án bị trả để điều tra bổ sung. cụ thể:
Thứ nhất, khả năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng phát hiện vấn đề vi phạm
trong vụ án của một số KSV được phân công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án xâm phạm sở hữu còn hạn chế, không phát hiện được những vi phạm về
tố tụng, thiếu chứng cứ quan trọng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Thứ hai, một số trường hợp KSV chưa có tính chủ động trong nghiên cứu,
đánh giá còn chưa khách quan, toàn diện và đầy đủ đối với các chứng cứ buộc tội và
chứng cứ gỡ tội của bị cáo, chưa phát hiện được các chứng cứ còn thiếu và những
mâu thuẫn của chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội để chủ động đề ra yêu cầu điều
tra bổ sung.
56
Thứ ba, chất lượng tranh tụng của KSV tại một số phiên tòa còn hạn chế,
những vụ án có tình tiết phức tạp, nhiều luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho các
bị cáo thì KSV còn ngại tranh luận, đối đáp trực tiếp những vấn đề mà luật sư, bị
cáo nêu ra; chỉ tập trung vào việc luận tội, mà không tập trung việc tranh luận. Nội
dung tranh luận, đối đáp của KSV còn chung chung, chưa cụ thể về từng vấn đề cần
tranh luận, thiếu dẫn chứng từ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thiếu dẫn chứng
pháp lý để chứng minh cho quan điểm buộc tội của mình.
Theo Bảng thống kê 2.3, trong 05 năm qua (2016-2020), tổng số án hình sự
về xâm phạm sở hữu mà VKSND huyện Chơn Thành đã truy tố là 298 vụ thì có 24
vụ phải trả điều tra bổ sung, chiếm 8,1% (24/298). Trong tổng số 24 vụ án xâm
phậm sở hữu phải trả điều tra bổ sung thì có đến 13 vụ, chiếm 54% (13/24) án đã trả
và chiếm 4,4% (13/298) tổng số án truy tố do VKS trả cho cơ quan điều tra; Tòa án
trả cho VKS để điều tra bổ sung là 11 vụ, chiếm 46% (11/24) án đã trả và chiếm
3,7% (11/298) tổng số án truy tố. các vụ án mà VKS trả cho cơ quan điều tra, tòa án
trả cho VKS đều xảy ra vào các năm (từ 2016 đến 2020), lý do trả là do thu thập
chứng cứ chưa đầy đủ.
Đồng thời, chất lượng điều tra, truy tố còn hạn chế, KSV có trình độ, năng
lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được phân công; chưa nắm vững các văn
bản pháp luật về hình sự, TTHS, văn bản pháp luật liên quan; thiếu kỹ năng, kinh
nghiệm kiểm tra, đối chiếu, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong việc nghiên cứu hồ sơ
để nhận diện, xác nhận vi phạm nên không thể phát hiện được vi phạm, chưa đánh
giá đúng mức độ vi phạm; đôi khi KSV còn có thái độ lúng túng, bảo vệ cáo trạng
đã truy tố không đạt chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng THQCT tại
phiên tòa. Tuy không để xảy ra tình trạng tòa tuyên không phạm tội, oan nhưng vấn
đề “sai” hoặc hủy án để điều tra, xét xử lại là vấn đề khó tránh khỏi. Cụ thể:
Chẳng hạn như vụ án trộm cắp tài sản: Vũ Xuân T và Nguyễn Đình T biết
Điểu C rủ Điểu N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 93C1-254.51 ra
chỗ Xuân T và Đình T chơi nên đã bàn bạc nhau lên kế hoạch lấy trộm xe mô tô của
Điểu N. Do tại căn nhà hoang thuộc ấp Chà Là, xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản,
57
tỉnh Bình Phước có đông người nên Đình T không thực hiện được hành vi trộm xe
của Điểu N. Sau đó Xuân T đã tạo điều kiện thuận lợi để Đình T lén lút lấy trộm xe
mô tô của Điểu N tại phòng trọ của anh Huỳnh Thanh H tại ấp 3A, xã Minh Hưng,
huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Giá trị xe bị mất là 14.000.000 đồng.
Cáo trạng số 126/Ctr-VKS-CT, ngày 26/11/2019 của VKSND huyện Chơn
Thành truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều
173 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều
173 BLHS. Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST, ngày 18/3/2020 của TAND
huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17,
38, 50, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ
Xuân T 04 năm tù; căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 50, Điều 17,
38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn
Đình T 01 năm tù. Ngày 19/3/2020 bị cáo Vũ Xuân T có đơn kháng cáo kêu oan.
Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2020/HS-PT, ngày 22/7/2020 của TAND
tỉnh Bình Phước căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b, c khoản 1 Điều 358
BLTTHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp nhận một phần kháng cáo của
bị cáo Vũ Xuân T, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 18/3/2020
của TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Chuyển hồ sơ cho VKSND huyện
Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để điều tra và xét xử lại theo thủ tục chung.
Cáo trạng số 130/Ctr-VKS-CT, ngày 19/11/2020 của VKSND huyện Chơn
Thành truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều
173 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều
173 BLHS. Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2020/HSST, ngày 24/12/2020 của
TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173,
điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 02 năm 06 tháng tù; căn cứ khoản 1
Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 50, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 11 tháng 29 ngày tù.
58
Đối với vụ án trên, quá trình kiểm sát điều tra cũng như THQCT tại phiên
tòa, KSV không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án từ giai đoạn ban đầu để kịp thời đề ra
yêu cầu điều tra, dẫn đến thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, có vi phạm
nghiêm trọng tố tụng thủ tục tố tụng; tại phiên tòa sơ thẩm KSV cũng chưa phát
hiện để khắc phục nên bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại. Số vụ án hình
sự nói chung và án xâm phạm sở hữu nói riêng mà TAND huyện Chơn Thành đã
xét xử, bị cấp phúc thẩm hủy án chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Theo Bảng 2.4 thì số vụ án
trong 05 năm, cấp phúc thẩm chỉ hủy có 01 vụ án, chiếm 0,04% (01/251) án xâm
phạm sở hữu và chỉ chiếm 0,01% (01/558) tổng số án hình sự đã xét xử. Tuy nhiên,
đây cũng là thiếu sót cần phải rút kinh nghiệm.
2.2.3.2. Nguyên nhân
* Nguyên nhân khách quan
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng chưa hoàn thiện,
có nhiều vướng mắc, khó hiểu, mâu thuẫn, chẳng hạn như Hiến pháp, Luật tổ chức
VKSND, BLTTHS quy định về chức năng của VKS là THQCT và kiểm sát các
hoạt động tư pháp nhưng chưa có điều luật nào giải thích hay quy định thống nhất
về khái niệm quyền công tố, THQCT cũng như nội dung, phạm vi, đặc điểm của
chúng, dẫn đến tình trạng có nhiều quan điểm khác nhau, gây khó khăn không chỉ
trong lý luận mà cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật; việc xét hỏi tại phiên tòa vẫn
do Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa điều khiển và HĐXX tiến hành thực hiện nên
KSV chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động khi THQCT. Trong thực tế, có
nhiều vụ án HĐXX đã hỏi đầy đủ, đã làm rõ các vấn đề khách quan khiến KSV có
tâm lý chủ quan, ỷ lại trong việc chứng minh tội phạm và bảo vệ quan điểm buộc tội
của mình.
- Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc đối với KSV còn hạn chế, khó khăn;
chế độ lương, thưởng thấp, chưa đảm bảo được cuộc sống nên KSV bị chi phối
trong công việc.
59
- Số lượng vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng
ngày càng tăng, trong khi biên chế KSV sơ cấp ít. Ngoài việc THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì KSV còn phải kiêm nhiệm thực hiện những
nhiệm vụ đối với việc giải quyết các loại án khác như hành chính, kinh doanh
thương mại, lao động, dân sự, hôn nhân và gia đình, áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tại Tòa án hoặc kiêm nhiệm về thi hành án dân sự, hình sự...v.v, dẫn đến KSV
bị quá tải trong công việc, nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng công tác.
- Một số luật sư bào chữa cho bị cáo chưa vận dụng tốt các quyền năng pháp
lý, lập luận chưa có cơ sở vững chắc, áp dụng pháp luật còn hạn chế, không tranh
luận các tình tiết liên quan đến vụ án sát với các tính tiết cần chứng minh gỡ tội,
buộc tội mà thường đưa ra ý kiến nêu các tình tiết giảm nhẹ cho bị can, bị cáo;
không tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, đề nghị mức hình phạt không phù
hợp với quy định của pháp luật. Nhận thức pháp luật của bị can, bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác còn hạn chế, chưa tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
bản thân.
* Nguyên nhân chủ quan
- Lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành đôi lúc chưa thật sự quan tâm, sâu
sát trong quản lý, chỉ đạo điều hành, sắp xếp, bố trí KSV thực hiện nhiệm vụ đúng
năng lực, sở trường; ít thời gian để trực tiếp tham dự, theo dõi các phiên tòa rút kinh
nghiệm để kịp thời họp đánh giá, rút kinh nghiệm trong đơn vị những thiếu sót của
KSV trong THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chung và vụ án
xâm phạm sở hữu nói riêng.
- Kiểm sát viên khi được phân công giải quyết vụ án xâm phạm sở hữu còn
có biểu hiện chủ quan, chưa nghiêm túc trong nghiên cứu hồ sơ, dẫn đến đánh giá
chứng cứ không đầy đủ; còn chưa nghiên cứu quy định của pháp luật khi thực hiện
thao tác nghiệp vụ dẫn đến việc thực hiện hiện vụ không có sự chủ động, tích cực
trong khi THQCT tại phiên tòa, việc tham gia xét hỏi, trình bày quan điểm, tranh
luận qua loa, sơ sài; có thái độ ngại tranh luận, lời lẽ tranh luận không ngắn gọn, sắc
bén, không đủ tính răn đe, giáo dục và thuyết phục.
60
- Ý thức trách nhiệm của một số của KSV chưa cao, chưa nhận thức đúng
đắn về vị trí, vai trò của Ngành nói chung; chức năng, nhiệm vụ của KSV khi
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng, dẫn đến chất lượng thực hiện
nhiệm vụ còn nhiều hạn chế.
- Kiểm sát viên được phân công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án xâm phạm sở hữu chưa thể hiện hết tinh thần trách nhiệm, không nghiên cứu hồ
sơ một cách toàn diện, để hồ sơ vi phạm thủ tục tố tụng, xác định các dấu hiệu đặc
trưng của loại tội phạm nhất là các tội xâm phạm sở hữu còn thiếu chính xác, đánh
giá chứng cứ chưa đầy đủ dẫn đến còn tình trạng án bị trả điều tra bổ sung chiếm tỷ
lệ cao và án bị hủy để điều tra, xét xử lại.
- Tại phiên tòa việc tham gia xét hỏi của một số KSV còn qua loa, đại khái,
thiếu nhạy bén, không sát với nội dung vụ án cần xét hỏi làm rõ. Kiểm sát viên
không chủ động xây dựng kế hoạch xét hỏi hoặc dự kiến những vấn đề sẽ phát sinh
tại phiên tòa; thiếu chủ động trong việc xét hỏi, không tập trung theo dõi diễn biến
tại phiên tòa nên hỏi lặp lại những câu hỏi của HĐXX, không phát hiện được những
câu hỏi của HĐXX mang tính gợi ý, móm cung để nhắc nhở và một số KSV chưa
giữ được thái độ bình tĩnh khi xét hỏi.
- Một số Kiểm sát viên khi luận tội tại phiên toàn còn lặp nội dung bản cáo
trạng; chưa phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ xác
định bị cáo có tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; động cơ,
mục đích, thủ đoạn phạm tội, mức độ hậu quả; nhân thân người phạm tội, xác định
nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự,...kỹ năng nghiệp vụ có phần hạn chế, tâm lý thiếu vững vàng, nên
chưa có khả năng dự báo về những vấn đề sẽ phải tranh luận để bảo vệ cáo trạng.
61
Tiểu kết Chương 2
Qua thực tiễn THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở
hữu từ năm 2016 đến năm 2020 tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho thấy
VKSND huyện Chơn Thành đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ, hoàn thành tốt chỉ tiêu của Ngành đề ra, góp phần hoàn thành thắng
lợi chỉ tiêu Quốc hội giao. Điều này cho thấy, chất lượng công tác THQCT trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu được nâng cao, hình ảnh người
KSV tại phiên tòa được xã hội ghi nhận, KSV đã bảo vệ được Cáo trạng truy tố.
Tuy nhiên, khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu vẫn
còn những hạn chế, thiết sót cần phải khắc phục như: vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng, thiếu chứng cứ buộc tội, bỏ lọt tội phạm, mức án tuyên không tương xứng
với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo...dẫn đến bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, án bị hủy để điều tra, xét xử lại.
Đồng thời qua thực tiễn công tác, tác giả đã phân tích các nội dung THQCT
đúng và THQCT sai; xác định nguyên nhân để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các
giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng khâu công tác này.
62
Chương 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN XÂM PHẠM
SỞ HỮU TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
3.1.1. Yêu cầu nâng cao vai trò của Viện kiểm sát
Trong những năm qua, cải cách tư pháp có vai trò hết sức quan trọng trong
việc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và hướng đến xây
dựng một nền tư pháp trong sạch, hội nhập quốc tế. Chủ trương của Đảng về yêu
cầu cải cách tư pháp đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải thật sự vững mạnh, trong
sạch, là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo
vệ quyền con người. Năm 2021, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại
hội XIII của Đảng và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Ngành Kiểm sát nhân dân đứng
trước nhiều thách thức, áp lực do phải thực hiện nhiều nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm tăng thêm theo các đạo luật mới về tư pháp, đặc biệt phải chịu nhiều chế tài,
trách nhiệm trong thực thi công vụ; số lượng các vụ, việc tăng, tính chất ngày càng
phức tạp, quy mô ngày càng lớn, nhất là đối với các vụ án xâm phạm sở hữu. Tuy
nhiên, công tác THQCT có nhiều chuyển biến tích cực, trách nhiệm công tố được
tăng cường ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm, nhằm đảm bảo cho
VKS thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân. Vai trò, trách nhiệm công tố của KSV tại các phiên tòa
hình sự được nâng lên, góp phần quan trọng, bảo đảm khách quan, dân chủ, bảo vệ
quyền con người, quyền và lợi ích của công dân.
VKSND phải thực hiện tốt nhiệm vụ THQCT, là một chủ trương nhất quán
của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập Ngành Kiểm sát nhân dân và được Đảng
ta đặc biệt nhấn mạnh trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trong các Nghị quyết
của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-
63
NQ/TW, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng và Văn kiện Đại hội lần thứ XIII
của Đảng đã khẳng định và đặt ra yêu cầu VKSND phải nâng cao hơn nữa chất
lượng THQCT và thực hiện có bước đột phá trong công tác này. Đặc biệt, Ban Chỉ
đạo Tư pháp Trung ương họp cho ý kiến về việc xây dựng đề án “Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm
2030, định hướng đến năm 2045”, đặt ra yêu cầu xây dựng nền tư pháp bảo đảm
tính chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm minh, công chính, phụng sự Tổ quốc
và phụng sự nhân dân. VKSND huyện Chơn Thành xác định tầm quan trọng của
công tác THQCT nói chung và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa nói riêng theo tinh
thần khoản 5 Điều 103 Hiến pháp sửa đổi năm 2013: "Nguyên tắc tranh tụng trong
xét xử được bảo đảm", đã triển khai quy định của Hiến pháp để KSV nhận thức đầy
đủ, đúng đắn quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, thống nhất
nhận thức pháp luật về mục đích, ý nghĩa, phạm vi, nội dung, phương pháp THQCT
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án xâm phạm sở
hữu, KSV thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo quy định một cách nghiêm túc để nguyên
tắc tranh tụng được bảo đảm bảo, pháp luật hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh.
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án
xâm phạm sở hữu nói riêng là giai đoạn quan trọng của quá trình tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc xét hỏi công khai, khách quan của những người
tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng khẳng định kết quả thực hiện của
các giai đoạn trước đó. KSV với tư cách là người bảo vệ cáo trạng, bảo vệ sự buộc
tội là có căn cứ, đúng pháp luật phải chứng minh trên cơ sở chứng cứ được thu thập
trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử, để buộc tội đúng người,
đúng tội; không thể buộc tội mà không có căn cứ, Tòa tuyên không phạm tội, trả
điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ, bỏ lọt người.
3.1.2. Yêu cầu nâng cao việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát từ thực tiễn áp dụng pháp luật và đấu tranh phòng, chống tội phạm
BLTTHS năm 2003 đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn
64
xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Những quy định của BLTTHS năm 2003 đã thể
hiện sự kế thừa và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn nước ta
trước đây, đồng thời thể chế hóa kịp thời chủ trương cải cách tư pháp đề ra trong
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Tuy nhiên, qua thực
tiễn, BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập cả về kỹ thuật xây
dựng, lý luận lẫn thực tiễn áp dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, đặc biệt THQCT
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu chống bỏ
lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
Tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013 là tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm quyền con người, quyền công dân, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa thành
những quy định, yêu cầu cụ thể đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó
quy định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, quy định rõ hơn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong công tác THQCT nói chung và
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
Để THQCT đạt kết quả cao, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói
chung cũng như vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, đáp ứng với đòi hỏi của cải cách
tư pháp trong thời gian tới, VKS cần phải thực hiện các yêu cầu như sau:
Thứ nhất, sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo sâu sát của cấp ủy Đảng và chính
quyền địa phương đối với KSV là điều kiện cần thiết để KSV tự tin thực hiện nhiệm
vụ được giao.
Thứ hai, Kiểm sát viên không chỉ là những cán bộ có lương tâm và trách
nhiệm cao, có khả năng phản ứng linh hoạt, quyết đoán và dám chịu trách nhiệm
trước những vấn đề phức tạp mới phát sinh tại phiên Tòa, mà còn là người có văn
hóa, có hình thức nhất định để tham gia phiên Tòa. Mỗi KSV cũng phải tự rèn luyện
mình về phẩm chất đạo đức, về năm đức tính của người cán bộ kiểm sát: “công
kinh, chính trực, khánh quan, thận trọng, khiêm tốn”, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lẽ
65
phải, bảo vệ công lý, đề nghị hướng xử lý, mức hình phạt phù hợp, không để bỏ lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội.
Thứ ba, KSV phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững các quy định của pháp luật, đặc biệt là các cấu
thành tội phạm, phân biệt các tội xâm phạm sở hữu để áp dụng đối với hành vi
phạm tội của từng bị cáo, chủ động dùng pháp luật để xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa. Sự am hiểu toàn diện các quy định của pháp luật sẽ giúp cho KSV có được tâm
lý tự tin để bảo vệ quan điểm buộc tội của VKS.
Thứ tư, Kiểm sát viên phải nắm vững nội dung vụ án, phân tích, đánh giá
khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị cáo, tính
chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; dự kiến các tình huống có thể
phát sinh trong quá trình tranh tụng, tránh bị động tại phiên tòa.
Thứ năm, Kiểm sát viên cần nghiên cứu nhiều lĩnh vực để am hiểu các mặt
của đời sống xã hội, tâm lý tội phạm, tổng hợp kinh nghiệm trong khi thi hành
nhiệm vụ để trao dồi kỹ năng xét hỏi, tranh luận, đối đáp, ghi chép, tổng hợp và quy
chế ứng xử trong khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được bảo đảm chất
lượng.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu
Giải pháp chính
BLTTHS năm 2015 được ban hành đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải
cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, tăng cường trách nhiệm của các cơ
quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp
phần quan trọng thực hiện mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,
dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,
phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Để nâng cao chất lượng THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng
trong tiến trình cải cách tư pháp, tác giả tán thành với ý kiến sửa đổi, hoàn thiện
66
BLTTHS và tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự theo hướng
như sau:
Một là, trong tố tụng hình sự cần đưa ra khái niệm thống nhất về “quyền
công tố” và “thực hành quyền công tố” để tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận thức về
vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKS.
Hai là, tranh tụng được quy định là một nguyên tắc trong xét xử được quy
định tại Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 26 BLTTHS năm 2015:“Nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Do đó cần thiết phải xây dựng các chế định
làm rõ nội dung, phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của VKS, Luật sư, Thẩm phán
trong phiên tòa hình sự; trình tự thu thập và cung cấp chứng cứ của luật sư; nâng
cao hơn nữa trách nhiệm KSV trong tranh tụng tại phiên tòa...nhằm đảm bảo cơ chế
để hoạt động tranh tụng thực sự dân chủ. Đồng thời, cần có những quy định cụ thể
và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của KSV và người bào chữa trong quá
trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của KSV và Luật sư.
Ba là, VKS là cơ quan duy nhất THQCT có trách nhiệm chứng minh sự thật
của vụ án tại phiên tòa, bảo đảm sự buộc tội là có căn cứ. Tuy nhiên, BLTTHS quy
định chủ tọa phiên tòa hỏi trước đã chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm của
VKS sang Tòa án, Điều 307 BLTTHS năm 2015 quy định:“Chủ tọa phiên tòa hỏi
trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi”. Như vậy,
BLTTHS chưa tạo điều kiện để KSV phát huy tính chủ động, tích cực và trách
nhiệm của bên buộc tội trong thực hiện chức năng tố tụng của mình. Để VKS thực
hiện tốt công tác THQCT cần sửa đổi quy định trên theo hướng phát huy tính chủ
động, tích cực của bên buộc tội, bên bào chữa trong hoạt động xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, tạo điều kiện để KSV kiểm tra công khai những chứng cứ đã thu thập
được trong giai đoạn điều tra, nên quy định KSV và người bào chữa xét hỏi là chủ
yếu, trong đó KSV phải là người xét hỏi đầu tiên, đến người bào chữa hỏi đối với bị
cáo, người làm chứng, người bị hại,...HĐXX lắng nghe, tổng hợp kết quả xét hỏi và
trả lời của các bên tham gia tố tụng, khi cần thiết HĐXX có thể yêu cầu KSV hoặc
67
người bào chữa hỏi thêm, trình bày thêm những vấn đề cần chứng minh trong vụ án.
HĐXX chỉ hỏi khi cần thiết, khi thấy có nội dung chưa được làm rõ.
Sửa đổi quy định khoản 2 Điều 307 BLTTHS cho phù hợp về việc chủ tọa
phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý
với quy định, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự thực hiện việc hỏi trước, chủ tọa phiên tòa hỏi; bổ sung vào khoản 2 Điều
322 BLTTHS về quy định căn cứ “đối đáp đến cùng” khi KSV phải đưa ra chứng
cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa,
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa... Do đó, các cơ quan tư pháp ở Trung
ương cần khẩn trương tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn các quy định của Bộ
luật hình sự, Bộ luật TTHS và các quy định còn có vướng mắc khác
Bốn là, cần sửa đổi các quy định liên quan đến THQCT trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS 2015 trên các nội dung:
- Sửa đổi quy định về việc VKS rút quyết định truy tố: Theo Điều 285 Bộ
luật TTHS hiện hành: " Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157
của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2
Điều 91 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở
phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án” [35]. Tôi đồng tình với một số tác giả
là quy định này chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính độc lập của VKS trong THQCT.
Bởi vì, khi VKS rút quyết định truy tố thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc chấm
dứt việc THQCT. Do đó, cần phải sửa đổi quy định này theo hướng khi VKS rút
quyết định truy tố thì đồng thời VKS có quyền đình chỉ vụ án. Tương tự như vậy, để
khẳng định rõ vai trò của VKS là cơ quan duy nhất THQCT thì cần sửa đổi một số
quy định tại Điều 248 của BLTTHS theo hướng: Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi,
KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, trong trường hợp rút toàn
bộ quyết định truy tố, vụ án phải được đình chỉ, nếu rút một phần quyết định truy tố
thì Tòa án chỉ xét xử phần còn lại.
- Về giới hạn xét xử của Tòa án: Không nên quy định Tòa án có thể xét xử bị
cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật, xử
68
khác với tội danh mà VKS đã truy tố theo quy tại Điều 298 BLTTHS năm 2015.
Việc quy định như vậy đã cho phép Tòa án buộc tội theo hướng nặng hơn VKS đã
truy tố, gây bất lợi cho bị cáo, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội. Mặt khác, mỗi
khoản quy định trong Bộ luật hình sự là một trường hợp phạm tội với những tình
tiết định khung khác nhau, với những nội dung cần chứng minh khác nhau, theo đó
các khoản quy định trong một điều luật thường quy định hình phạt theo hướng nặng
hơn, thậm chí khung hình phạt là tử hình đòi hỏi phải thực hiện quy định riêng về
quyền bào chữa, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị cáo.
Khi Tòa án xét xử về một tội mà VKS không buộc tội thì bản thân Tòa án đã làm cả
chức năng buộc tội, trái với chức năng của Tòa án là cơ quan xét xử, trọng tài phán
xử, lúc đó việc xét xử của Tòa án không còn đảm bảo tính vô tư, khách quan mà
luôn thiên định bị cáo có tội theo tội nặng hơn. và cũng trái với quan điểm của Đảng
về việc phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự.
Năm là, để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các
phiên tòa hình sự, theo tác giả cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau gồm
các giải pháp pháp lý, các giải pháp về tổ chức, các giải pháp về con người, các giải
pháp vật chất – kỹ thuật, có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng phù
hợp với hoạt động đặc thù của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…Các giải
pháp này liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề và điều kiện để
tiến hành các giải pháp kia và ngược lại đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, các giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện
hành liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa quan trọng,
góp phần thiết thực vào quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; giải quyết
các vấn đề vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án
hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng; cải cách hệ thống các cơ
quan tiến hành tố tụng các cấp, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong
công tác.
- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Ngành kiểm sát nhân
dân: Nhằm xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
69
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”, Đảng
và Nhà nước cần quy định chính sách tiền lương, đãi ngộ phù hợp cho cán bộ, KSV,
bảo đảm điều kiện để họ có thể nuôi sống bản thân, gia đình, an tâm công tác; trang
bị thêm phương tiện đi lại thực thi công vụ, trang bị thêm nhiều máy tính xách tay
để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ, các thiết bị
để phục vụ việc ghi âm, ghi hình... theo yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam.
3.3 . Các giải pháp khác
- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân
dân ở địa phương: Lãnh đạo VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cần
nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nói chung
và công tác của Ngành Kiểm sát nói riêng; tiếp tục chỉ đạo thực hiện các Chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng về công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Cấp
ủy Đảng cần chú trọng lãnh đạo về công tác cán bộ, lựa chọn những cán bộ có tâm
có tầm, bản lĩnh, tâm huyết để bố trí vào các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan tiến
hành tố tụng; quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn nhằm
đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế.
- Nâng cao năng lực, đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với
hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm: Lãnh đạo
VKSND huyện Chơn Thành cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả THQCT của
KSV trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở
hữu nói riêng theo đúng quy định pháp luật và Quy chế của Ngành Kiểm sát. Việc
kiểm tra, đánh giá phải làm thường xuyên, để kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai
phạm của KSV để nhắc nhở, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng giải công tác.
Đồng thời, VKSND cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Tòa án trong việc tổ chức
các phiên tòa rút kinh nghiệm liên quan đến các vụ án xâm phạm sở hữu nhất là
những vụ án có nhiều bị cáo, có tính chất phức tạp, bị cáo không nhận tội, có sự
tham gia của luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, giúp
KSV trao dồi kỹ năng, năng lực THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm
70
phạm sở hữu. Sau phiên tòa, lãnh đạo đơn vị phải kịp thời tổ chức họp rút kinh
nghiệm, đánh giá khách quan, toàn diện các hoạt động nghiệp vụ của KSV tại phiên
tòa như việc thẩm vấn, tranh tụng, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa...tập trung
làm rõ những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Đây là một hoạt động
quan trọng, là biện pháp tự đào tạo và đào tạo lại nghiệp vụ cho Kiểm sát viên.
- Nâng cao năng lực thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án xâm phạm sở hữu: Chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa phụ thuộc rất
nhiều vào các chứng cứ (nhất là vật chứng, kết quả định giá, giám định) thu thập
được ở giai đoạn điều tra, giúp cho KSV nắm chắc các tình tiết, nội dung của vụ án.
Để nắm bắt được thái độ tâm lý, KSV tiếp xúc trực tiếp với bị can ở giai đoạn điều
tra, giúp KSV có thể dự kiến những vấn đề sẽ phát sinh tại phiên tòa, dự thảo luận
tội, dự kiến nội dung đối đáp, tranh luận có chất lượng.
Thứ hai, nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án của KSV: Khi được phân
công THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu, Kiểm sát
viên VKSND huyện Chơn Thành phải tập trung nghiên cứu hồ sơ vụ án, trích cứu
hồ sơ, ghi chép cụ thể, tỉ mỉ những chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dân sự, xử lý vật chứng và sao chụp, photocoppy lại
những chứng cứ quan trọng như: biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật
chứng, kết luận định giá, giám định...sắp xếp các tài liệu trong hồ sơ một cách khoa học
để đối chiếu, so sánh để loại trừ những nội dung không hợp lý, chắt lọc các nội dung
hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình tiết liên quan đến vụ án.
Tại phiên toà, KSV chủ động được trong việc viện dẫn chứng cụ thể, chính xác.
Đối với những vụ án phức tạp, nhiều bị cáo thì KSV cần nghiên cứu một cách
khoa học để tổng hợp các chứng cứ (phân loại theo nhóm chứng cứ), xác định vai trò
của từng bị cáo trong vụ án để thuận lợi cho việc xét hỏi, luận tội và tranh luận tại
phiên tòa. KSV phải nhạy bén để phát hiện những mâu thuẫn trong các lời khai, chứng
cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo để có biện pháp khắc phục kịp thời.
71
Thứ ba, nâng cao kỹ năng trình bày cáo trạng của KSV tại phiên tòa: Khi đọc
cáo trạng, KSV phải đứng dậy, hướng về phía những người tham dự phiên tòa, khi
thấy bị cáo ngồi thì phải đề nghị Chủ tọa phiên tòa cho đứng dậy để nghe cáo trạng.
KSV phải thông qua nguyên văn cáo trạng, giọng đọc to, rõ ràng, mạch lạc, chính
xác, ngắt câu đúng lúc, đúng chỗ. Sau khi đọc cáo trạng, KSV có thể trình bày ý
kiến bổ sung để làm rõ thêm nhưng không được làm thay đổi nội dung cáo trạng đã
truy tố.
Thứ tư, nâng cao chất xây dựng đề cương xét hỏi và kỹ năng xét hỏi của KSV
tại phiên tòa: Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi đối
với bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ nội dung của vụ
án như: hành vi, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, phương tiện, thủ
đoạn phạm tội, vật chứng thu giữ; làm rõ ý thức chủ quan của bị cáo đối với một số
hành vi hay thủ đoạn phạm tội để qua đó định tội danh chính xác.
Ví dụ như để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo biết hành vi của
mình là lén lút hay không để phân biệt tội Trộm cắp tài sản với tội Công nhiên
chiếm đoạt tài sản; tính chất hành vi có dùng vũ lực hay đe đọa dùng vũ lực, dùng
ngay tức khắc hay sẽ dùng để phân biệt tội Cướp tài sản với tội Cưỡng đoạt tài sản.
Mục đích việc dùng vũ lực của bị cáo khi thực hiện hành vi trộm cắp, cướp giật bị
phát hiện là để chiếm giữ tài sản hay để trốn khỏi khi bị bắt giữ nhằm phân biệt tội
phạm có chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội Cướp tài sản, hay chỉ là tình tiết
định khung “hành hung để tẩu thoát”; dự kiến những tình huống có thể xảy ra tại
phiên tòa như khả năng phản cung của bị cáo, thái độ tâm lý, thay đổi lời khai của
những người tham gia tố tụng; dự kiến những tài liệu, chứng cứ đưa ra để đấu tranh
với bị cáo, trích đọc lời khai của bị cáo...Nội dung các câu hỏi phải ngắn gọn, rõ
ràng, dễ hiểu, không đặt các câu hỏi dụ cung, mớm cung.
Tại phiên tòa, KSV phải tập trung lắng nghe, theo dõi, đối chiếu với những
câu hỏi của thành viên HĐXX, những câu hỏi HĐXX đã hỏi thì KSV không phải
lặp lại. Khi phát sinh các tài liệu mới tại phiên tòa, KSV phải kiểm tra và xét hỏi về
nguồn gốc, nội dung để có kết luận về tính hợp pháp, có căn cứ của tài liệu đó; nếu
72
chưa đủ điều kiện kết luận mà nó có thể làm thay đổi sự thật khách quan của vụ án
thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để xác minh, làm rõ.
Thứ năm, nâng cao chất lượng xây dựng dự thảo luận tội của KSV: Luận tội
của KSV là quan điểm của VKS về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng đã
truy tố. Do đó, nội dung luận tội phải có tính thuyết phục cao, vừa có tình vừa có lý,
vừa mang tính giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Trước khi
tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo luận tội, nội dung bản luận tội phải bám sát
cáo trạng đã truy tố, nhưng không phải sao chép, lặp lại nội dung của cáo trạng. Dự
thảo luận tội phải căn cứ vào các chứng cứ, vật chứng, lời trình bày của bị cáo,
người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những
người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, qua kết quả xét hỏi nếu có những vấn đề
mới cần bổ sung thì Kiểm sát viên phải bổ sung bản luận tội cho phù hợp.
Khi phân tích, đánh giá chứng cứ đối với vụ án có bị cáo phạm nhiều tội thì
KSV phải phân tích từ bị cáo phạm tội có khung hình phạt nặng đến tội nhẹ hơn;
phải phân tích vai trò của từng bị cáo theo hướng bị cáo có vai trò chủ mưu cầm đầu
trước rồi đến vai trò các bị cáo khác theo hướng giảm dần về thái độ tích cực của bị
cáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm; trách nhiệm, hậu quả, nhân thân,
các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từng bị cáo; đồng thời,
xem xét đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự để cân nhắc lựa chọn điều,
khoản của BLHS để đề nghị Toà án áp dụng chính xác theo thứ tự: đề nghị hình
phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Thứ sáu, nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trước
khi tham dự phiên tòa, KSV phải dự kiến những vấn đề cần tranh luận như: đánh
giá chứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây
ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân bị cáo, nguyên nhân và điều
kiện phạm tội, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của bị cáo trong
đồng phạm...Chuẩn bị lý lẽ để bác bỏ những quan điểm không đúng của bị cáo,
người bào chữa trên cơ sở viện dẫn chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy
73
tố; đồng thời, cập nhật đầy đủ các văn bản pháp luật cần thiết có liên quan đến vụ án
để khi cần trích đọc hoặc viện dẫn chính xác.
Tại phiên tòa, KSV phải lắng nghe, tổng hợp các lời trình bày của bị cáo,
những người tham gia tố tụng khác để nắm được nội dung vấn đề, chủ động chọn
từng vấn đề để tranh luận. KSV phải nắm vững những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự, bình tĩnh, linh hoạt trong xử lý tình huống, tôn trọng sự thật khách
quan của vụ án. Để đảm bảo tranh luận của KSV đạt chất lượng, VKSND huyện
Chơn Thành cần lựa chọn và tổ chức các phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm để nâng
cao chất lượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nhất là đối với các vụ án
xâm phạm sở hữu.
Thứ bảy, nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm để kháng nghị bản án, quyết
định của Tòa án: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là quyền năng pháp lý quan
trọng của VKSND. KSV được phân công THQCT tại phiên tòa phải thực hiện tốt
việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, phải xem xét nội dung bản án về tội
danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.... Phát
hiện kịp thời những vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án, báo cáo lãnh đạo
xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị. Hình thức kháng nghị
phải thực hiện đúng mẫu Ngành kiểm sát quy định; nội dung kháng nghị phải phân
tích, làm rõ căn cứ kháng nghị như bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng; áp dụng không đúng điều khoản BLHS; áp dụng không đúng
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết luận của bản án hoặc quyết
định sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; xử quá nặng hoặc
nhẹ, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm,
không phù hợp với chính sách hình sự.
- Tăng cường phối hợp giữa các bộ phận trong đơn vị, VKSND hai cấp trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi
THQCT bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, do đó đòi hỏi phải
có sự phối hợp chặt chẽ, toàn diện giữa các bộ phận nghiệp vụ như: THQCT trong
giải quyết tin báo, tố giác tội phạm với THQCT trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ
74
thẩm vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng. Đồng thời, đòi hỏi
phải có sự chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Viện trưởng VKS, sự phối hợp giữa
các Phó viện trưởng phụ trách trên cơ sở chỉ đạo chung của Viện trưởng.
Bên cạnh đó, VKSND cấp huyện và VKSND cấp tỉnh phải có sự phối hợp
trong hoạt động nghiệp vụ và quản lý, chỉ đạo, điều hành. Đặc biệt, trong công tác
kháng nghị phúc thẩm án hình sự, trước khi ban hành kháng nghị phúc thẩm thì
VKSND cấp huyện phải trao đổi để xin ý kiến của Phòng THQCT và kiểm sát xét
xử phúc thẩm hình sự (Phòng 7); đảm bảo các kháng nghị có chất lượng, được cấp
tỉnh bảo vệ và Tòa phúc thẩm chấp nhận.
Tiểu kết Chương 3
Qua thực tiễn công tác THQCT của VKSND huyện huyện Chơn Thành, tỉnh
Bình Phước đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có
những hạn chế, khuyết điểm nhất định như việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy án để điều tra, xét xử lại với nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Vì vậy, nhu
cầu đặt ra giải pháp trong thời gian tới là một yêu cầu cấp thiết, trong phạm vi của
luận văn tác giả đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng THQCT của VKS
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu
nói riêng tại huyện Chơn Thành mà trọng tâm là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp
luật có liên quan đến hoạt động THQCT tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; nâng cao vai
trò lãnh đạo của cấp ủy, giám sát của HĐND và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành
của lãnh đạo đơn vị; nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức, phẩm chất của các
KSV, trình độ nghiệp vụ mà quan trọng nhất là kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa;
tăng cường phối quan hệ phối hợp giữa nội bộ ngành và cơ sở vật chất, phương tiện,
điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ Kiểm sát viên.
75
KẾT LUẬN
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống cơ quan tư pháp, trong đó có VKSND. VKSND ra đời ngày 26/7/1960, qua
quá trình phấn đấu và trưởng thành, VKSND đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
được giao, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền tự do dân chủ, quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng như Hiến pháp
năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng
hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có VKSND. Hoạt động
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm
sở hữu nói riêng của VKSND nhằm mục đích chống bỏ lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội.
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước liên tục diễn biến phức tạp, tăng nhanh về số vụ, số người
phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là các
vụ án liên quan đến xâm phạm sở hữu. Thực tiễn THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Chơn Thành trong thời gian qua
đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp
phần giữ vững an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội. Trong khoảng thời gian từ
năm 2016 đến nay không có trường hợp nào VKSND huyện Chơn Thành truy tố mà
Tòa án tuyên không phạm tội. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp tòa án trả điều tra bổ
sung, án hủy có trách nhiệm vụ của VKS, cho thấy chất lượng THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu đạt hiệu chưa quả cao, cần phải
nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng khâu công tác
này.
Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích và đưa ra khái niệm quyền công tố,
THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu; xác định đối
76
tượng, nội dung, phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
xâm phạm sở hữu; nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án xâm phạm sở hữu. Đồng thời, qua thực tiễn THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, luận
văn phân tích những nội dung THQCT đúng và THQCT sai, xác định các nguyên
nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng.
Tác giả tin tưởng rằng, trong thời gian tới, công tác THQCT trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu tố nói riêng sẽ
đạt được những kết quả tốt hơn, đáp ứng với tiến trình cải cách tư pháp, góp phần
vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm./.
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thị Thu An (2016), Nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong giải quyết các vụ án hình sự ở Thành phố
Hải Phòng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội.
2. Trần Thị Quỳnh Anh (2019), Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên - Luận văn thạc sĩ luật học, Học
viện khoa học xã hội, Hà nội, tr25
3. Ban Cán sự Đảng – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008) Tổ chức bộ máy
và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư
pháp, Hà Nội.
4. Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. TS. Dương Thanh Biểu (2007) Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
6. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020, Hà Nội.
8. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
9. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục
thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
10. TS. Lê Cảm (2001), Những vấ đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn từ
gốc độ nhà nước pháp quyền), Tạp chí chuyên ngành Viện kiểm sát nhân dân, Hà
Nội.
78
11. Bùi Trí Dũng (2008), Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành
quyền công tố tại phiên tòa xét xử hình sự ở tỉnh An Giang, Luận văn thạc sỹ, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
12. Nguyễn Văn Điền (2017), Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm
phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội.
13. TS. Trần Văn Độ (2001) Một số vấn đề về quyền công tố, Tạp chí khoa học
pháp luật 3/2001, Hà Nội.
14. Lương Thúy Hà (2012), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của
Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta, Luận văn thạc
sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
15. Nguyễn Quốc Hân (2021), Vướng mắc khi thực hành quyền công tố trong
giải quyết nguồn tin về tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông,
Tạp chí Kiểm sát (số 4), tr.30-35.
16. Bùi Thúy Hằng (2016), Năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên thực hành
quyền công tố trong các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu áp dụng nguyên tắc tranh
tụng ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam.
17. Nguyễn Thị Mỹ Hiệp (2018), Đánh giá chứng cứ trong các vụ án về xâm
phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện
Hàn lâm KHXH Việt Nam.
18. Lê Thị Tuyết Hoa (2002) Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Viện
Nghiên cứu nhà nước và pháp luật.
19. Nguyễn Thị Khánh Hòa (2020), Thực hành quyền công tố trong giải quyết
vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc, Học viện
KHXH - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
79
20. Dương Thị Thu Hòa (2015), Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Luận văn thạc sĩ, Khoa
luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
21. Lê Thanh Hưng (2015), Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm
sát nhân dân, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
22. Đồng tác giả Lê Thị Thùy Hương, Nguyễn Thu Quý (2021), Bài viết Kinh
nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, Tạp chí Kiểm sát (số 13), tr.3-8.
23. Lương Đức Huyên (2020), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện từ thực tiễn tỉnh Bắc
Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
24. Trần Thị Liên – Nguyễn Việt Khánh Hòa (2020), bất cập trong các quy định
về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, Tạp chí nhà nước và pháp luật (số 6), tr25-29.
25. Lỗ Thị Loan (2016), Thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội.
26. Mai Thị Nam (2008), Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Học viện khoa học xã hội
27. NXB Lao động - Xã hội (2013) Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, Hà
Nội.
28. Trần Thị Minh Ngọc (2011), Kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự của
VKSND tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học quốc gia Hà nội, tr24.
29. Ngô Hồng Phúc (2003), Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa
hình sự, Tạp chí TAND, Hà Nội.
30. Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm
sát, Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt
động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
80
31. Nguyễn Hữu Phước (2016), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc
sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
32. Đinh Văn Quế (2004), Đặc điểm chung các tội xâm phạm sở hữu, Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Phan Vạn Quốc (2016), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ,
Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
34. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 26/11/2003, Thư
viện pháp luật điện tử.
35. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 27/11/2015, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
36. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban
hành ngày 15/4/1992, Thư viện pháp luật điện tử.
37. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban
hành ngày 28/11/2013, Thư viện pháp luật điện tử.
38. Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày
04/7/1981, Thư viện pháp luật điện tử.
39. Quốc hội (1992), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày
08/10/1992, Thư viện pháp luật điện tử.
40. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày
02/4/2002, Thư viện pháp luật điện tử.
41. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ban hành ngày
24/11/2014, Thư viện pháp luật điện tử.
42. Trần Văn Quý (2017), Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Luận án
tiến sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
81
43. Phan Thị Sa (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ,
Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
44. Trần Đại Thắng (2005), “Lịch sử hình thành và phát triển Viện công tố -
tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân, giai đoạn 1945 - 1955”, Kiểm sát.
45. TS. Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
46. TS. Nguyễn Thị Thúy, Vụ trưởng Vụ pháp chế và Quản lý khoa học Viện
kiểm sát nhân dân tối cao “Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015”, tài liệu tập huấn các bộ luật được Quốc hội khóa XIII thông qua, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao năm 2016.
47. Lê Trung Tiến (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn
thạc sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
48. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (1998),
Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 về
việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS 1985 đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999, Hà Nội.
49. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP-TANDTC
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà
Nội.
50. Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày
12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định của BLHS, Hà Nội.
51. Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (2001),
Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày
25/12/2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội
xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999, Hà Nội.
82
52. Tòa án nhân dân tối cao (2013), Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày
06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60
của BLHS về án treo, Hà Nội.
53. Tòa án nhân dân tối cao (2016), Công văn số 276/TANDTC-PC ngày
13/9/2016 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội
của BLHS năm 2015, Hà Nội.
54. Tòa án nhân dân tối cao (2017), Công văn số 136/TANDTC-PC ngày
30/3/2017 hướng dẫn công tác tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm theo yêu cầu cải
cách tư pháp, Hà Nội.
55. Nguyễn Khánh Toàn (2020), Thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ
án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc
sĩ, Học viện KHXH – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
56. Trung tâm từ điển (2006), Từ điển luật học, Nxb Bách Khoa – Nxb Tư pháp.
57. Trung tâm từ điển (1998), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng.
58. Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1984), Giáo trình công tác kiểm sát
phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
59. Trường Cao đằng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập
1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
60. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007) Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
61. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
62. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
63. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm
sát (tập 4), Lưu hành nội bộ, Hà Nội.
64. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh Kiểm sát viên, Hà Nội.
65. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2014), Pháp lệnh Kiểm sát viên, Hà Nội.
83
66. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng
kết công tác kiểm sát năm 2016.
67. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng
kết công tác kiểm sát năm 2017.
68. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng
kết công tác kiểm sát năm 2018.
69. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng
kết công tác kiểm sát năm 2019.
70. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Báo cáo tổng
kết công tác kiểm sát năm 2020.
71. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2017) Các giải pháp nhằm thực
hiện hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự theo quy định mới của Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015, Chuyên đề khoa học, Khánh Hòa.
72. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2017) Những quy định mới của
pháp luật và những vấn đề cần lưu ý cần đảm bảo thực hiện tốt công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Chuyên đề khoa học, Khánh Hòa.
73. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Chuyên đề nâng cao chất lượng
tranh luận tại phiên toà xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên.
74. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2008), Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-
VPT1 ngày 19/06/2008 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.
75. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2016), Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày
06/04/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tiếp tục tăng cường
kháng nghị án hình sự.
76. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Quy chế thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo quyết định số 960/QĐ-
VKSNDTC ngày 17 tháng 9 năm 2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
84
77. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017), Quy chế công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-
VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
78. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002) Những giải pháp nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Đề tài khoa học
cấp Bộ, Hà Nội.
79. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008) Viện kiểm sát nhân dân trong tiến
trình cải cách tư pháp, Hội thảo khoa học, Hà Nội.
80. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018), Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-
VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, thư
viện pháp luật điện tử.
81. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2017), Quy tắc ứng xử của Kiểm sát viên
khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa, phiên họp
của Tòa án (ban hành kèm theo Quyết định số 46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 của
VKSND Tối Cao), thư viện pháp luật điện tử.
82. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014), Tranh tụng và những giải pháp nâng
cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, Báo cáo chuyên đề.
83. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Đề án và Phụ lục đề án mô hình tố
tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội.
84. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2021), Báo cáo công tác năm 2020 và kết
quả nổi bật nhiệm kỳ 2016 - 2020, Hà Nội.
85. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
86. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình Luật hình sự (Phần các tội phạm), Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
87. Võ Khánh Vinh (2015), Giáo trình Xã hội học pháp luật những vấn đề cơ
bản, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
85
2.1 Tỷ lệ số vụ án XPSH đã xét xử sơ thẩm/số thụ lý
Số vụ/bị cáo đã xét xử Tỷ lệ % số
vụ XPSH Tổng số Trong đó đã xét vụ/bị
xử/thụ lý cáo đã Năm xét xử Số vụ/bị cáo Số vụ/bị Trộm Lừa đảo Lạm dụng Hủy hoại Cưỡng Cướp về các tội cáo về các Cướp cắp tài chiếm tín nhiệm hoặc cố ý đoạt tài giật tài XPSH đã tội XPSH tài sản sản đoạt tài chiếm đoạt làm hư hỏng sản sản xét xử thụ lý tài sản tài sản sản
2016 98/165 49/75 63/96 77,7% 4/12 1/3 2/2 36/52 2/2 3/3 1/1
2017 112/184 54/74 63/98 85,7% 1/1 2/4 41/59 6/6 2/2 2/2
2018 112/227 58/111 61/114 95,1% 6/9 1/5 5/7 39/83 1/1 5/5 1/1
2019 118/216 49/52 55/64 89,1% 2/3 33/35 5/5 4/4 5/5
2020 118/245 41/66 56/95 73,2% 5/6 2/3 27/50 1/1 3/3 3/3
Tổng 558/1037 251/378 298/467 18/31 2/8 11/16 176/279 11/15 17/17 12/12
Nguồn: VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Bảng 2.2. Tỷ lệ số vụ án/bị cáo XPSH bị VKSND huyện Chơn Thành kháng nghị phúc thẩm
Năm Số kháng nghị về án XPSH/tổng Số vụ án XPSH TAND huyện Chơn Thành đã Tỷ lệ %
kháng nghị án hình sự xét xử sơ thẩm/tổng xét xử án hình sự
0/0 49/98 0 2016
0/0 54/112 0 2017
0/0 58/112 0 2018
2/3 49/118 4,08/2,54 2019
0 41/118 0 2020
2/3 251/558 0 Tổng
Nguồn: VKSND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
87
Bảng 2.3. Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung các vụ án XPSH/số VKS truy tố
Số vụ án XPSH/Số vụ án Số vụ án XPSH Tòa án trả Số vụ án XPSH VKS Nguyên nhân trả Tỷ lệ (%) Năm hình sự trả ĐTBS ĐTBS có lỗi của VKS truy tố ĐTBS
7/11 6,35 63 2016 4
9/17 3,17 63 2017 2 Thu thập chứng cứ
2/6 3,28 chưa đầy đủ chiếm 61 2018 2
tỷ lệ cao 3/7 3,64 55 2019 2
3/7 1,78 56 2020 1
24/48 298 Tổng 11
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
88
Bảng 2.4. Tỷ lệ số vụ án XPSH bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án
Số vụ bị Tòa án cấp Số vụ án án XPSH Tòa án huyện Năm Tỷ lệ (%) Ghi chú phúc thẩm hủy án Chơn Thành đã xét xử sơ thẩm
2016 0 0 49
2017 0 0 54
2018 0 0 58
2019 0 0 49
Vụ án trộm 2020 01 2,44 41 cắp tài sản
Tổng 01 251
Nguồn: TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
89
Bảng 2.5. Tỷ lệ số vụ án XPSH bị VKSND tỉnh Bình Phước kháng nghị
Số vụ bị VKSND tỉnh Bình Số vụ án XPSH Tòa án huyện Tỷ lệ (%) Ghi chú Năm Phước kháng nghị Chơn Thành đã xét xử sơ thẩm
2016 0 0 49
2017 0 0 54
2018 0 0 58
2019 0 0 49
2020 0 0 41
Tổng 0 251
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
90

