intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở Công ty XNK và kỹ thuật bao bì

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:69

137
lượt xem
27
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở công ty xnk và kỹ thuật bao bì', luận văn - báo cáo, kinh tế - thương mại phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở Công ty XNK và kỹ thuật bao bì

  1. TRƯỜNG……………………… KHOA…………………… Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở Công ty XNK và kỹ thuật bao bì
  2. Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở Công ty XNK và kỹ thuật bao bì Kết cấu của bài luận văn gồm 3 phần: Phần thứ nhất: Hoàn thiện hoạt động Nhập khẩu là yêu cầu bức thiết ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Phần thứ hai: Phân tích thực trạng hoạt động Nhập khẩu của Công ty Xuất nhập khẩu và Kỹ thuật Bao bì. Phần thứ ba: Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Nhập khẩu đối với Công ty Xuất nhập khẩu và Kỹ thuật Bao bì Phần thứ nhất : HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU LÀ YÊU CẦU BỨC THIẾT Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRỜNG. I. Lý luận chung về hoạt động nhập khẩu. 1. Khái niệm. Lịch sử phát triển nền kinh tế thế giới đã chỉ ra rằng không một quốc gia nào có thể duy trì đợc nền kinh tế tự túc khép kín. Bởi để duy trì nó thì phải bỏ ra rất nhiều nguồn lực song hiệu quả lại không cao. Trong khi đó yếu tố nguồn lực thì có hạn, đối lập hẳn với thực tế nhu cầu của con ngời là vô hạn và rất đa dạng. Lý thuyết về thơng mại quốc tế giúp chúng ta nhận thấy các quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thơng mại quốc tế và lợi ích rõ nhất mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đợc từ thơng mại quốc tế mà nó có thể bù đắp và bù đắp một cách hiệu quả những nhu cầu của con ngời ta về một loaị hàng hoá nào đó mà nội địa cha hoặc không có khả năng đáp ứng đợc. Với ý nghĩa ấy, Nhập khẩu đợc hiểu là hoạt động mua hàng hoá của các doanh nghiệp trong nớc từ nớc ngoài nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cũng nh sản xuất trong
  3. nớc và là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia. Nhập khẩu là một trong những hoạt động cốt lõi của thơng mại quốc tế 2. Vai trò nhập khẩu đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Ngày nay, dới tác động của xu thế tự do hoá thơng mại, hầu hết các quốc gia đều nỗ lực tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế, đều hớng các chính sách kinh tế, thơng mại của quốc gia mình theo khu ôn khổ các khối mậu dịch mà họ sẽ tham gia ở tầm khu vực nh: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ( NAFTA), ... ở cấp độ liên lúc địa nh ASEM, và cao hơn nữa là cấp độ toàn cầu nh tổ chức thơng mại thế giới WTO. Trong bối cảnh ấy hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế. Không phải là những hành vi buôn bán lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong nớc và bên ngoài nớc nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nớc, ổn định và từng bớc nâng cao đời sống của nhân dân. Nh vậy, hoạt động nhập khẩu tác động trực tiếp lẫn gián tiếp tới sản xuất và đời sống trong nớc, nó có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng nh gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nớc do tính chất phức tạp của nó khi có yếu tố quốc tế tham gia vào. Nhập khẩu với t cách là một trong hai hoạt động chủ yếu của thơng mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia cũng nh sự phát triển của thơng mại quốc tế. Trớc hết, nhập khẩu có vai trò to lớn trong việc bù đắp những thiếu hụt về cầu do sản xuất trong nớc cha đáp ứng đợc. Không những thế, nhập khẩu còn tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội, tạo nên sự phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lợng cho thị trờng. Điều đó có nghĩa là nhập khẩu góp phần tạo nên sự cân đối tích cực giữa cung và cầu trên thị trờng trong nớc. Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối ổn định. Thứ hai, nhập khẩu giúp quốc gia khai thác đợc lợi thế so sánh của mình, khai thác đợc tính lợi thế kinh tế nhờ quy mô khi tham gia vào thơng mại quốc tế. Không chỉ tạo thêm hàng tiêu dùng trong nớc, nhập khẩu còn tạo nên nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nớc, tạo ra chuyển giao công nghệ. Nhờ đó nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tiết kiệm đợc chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội, tiết kiệm đựơc chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá bỏ tình trạng độc quyền trong nớc.
  4. Thứ ba, với những sản phẩm nhập ngoại có tính cạnh tranh cao, nhập khẩu làm tăng sức cạnh tranh trên thị trờng, tạo ra năng lực mới trong sản xuất. Các doanh nghiệp nội địa phải chịu một sức cạnh tranh lớn, để tồn tại họ buộc phải năng động hơn, vơn lên chiến thắng trong cạnh tranh. Qua đó, hiệu quả sản xuất trong nớc đợc nâng cao, hàng hoá nội địa trở nên có tính cạnh tranh hơn, ngời lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm hơn góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội. Thứ t, kết hợp với xuất khẩu, nhập khẩu tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng trong nớc và nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế phát triển. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong bối cảnh quốc tế hoá diễn ra mạnh mẽ ngày nay. Nó mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nền kinh tế,.v.v. Đất nớc từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đã có thêm sức mạnh mới, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với nhiều nhợc điểm từng bớc đợc thay thế bằng tính năng động, tự chủ của cơ chế thị trờng. Ngoại thơng của Việt Nam không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi nội khối xã hội - chủ nghĩa qua các khoản viện trợ hoặc qua các nghị định th mà đợc mở rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế, thơng mại Việt Nam từng bớc đợc điều chỉnh cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới. Vai trò của nhập khẩu ngày trở nên rõ rệt: Không chỉ là nhân tố giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà còn là nhân tố làm thay đổi diện mạo của các doanh nghi ệp Việt Nam. Để tiếp tục phát huy vai trò của hoạt động nhập khẩu, Nhà nớc ta xác định: Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động kinh doanh nhập khẩu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cần chú ý tạo uy tín và quan hệ lâu dài với bạn hàng, coi trọng tính hiệu quả kinh tế trong nhập khẩu, biết kết hợp hài hoà giữa các mặt lợi ích. 3. Các hình thức nhập khẩu. Không phải ngẫu nhiên ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động thơng maị quốc tế mà là do kinh doanh quốc tế có sự phong phú đa dạng về các phơng thức hoạt động. Chính sự đa dạng này cho phép các doanh nghiệp tìm thấy đợc lợi ích thông qua việc lựa chọn phơng thức phù hợp với khả năng của mình nhất. Trớc sự thay đổi của môi trờng kinh doanh, đến nay có một số phơng thức nhập khẩu chủ yếu sau mà các doanh nghiệp thờng lựa chọn: a/ Nhập khẩu uỷ thác. Trong giao dịch quốc tế, không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia một cách trực tiếp do các yếu tố về nguồn nhân lực, trong khi đó họ lại mu ốn đợc giao
  5. dịch. Từ nhu cầu ấy làm hình thành nên phơng thức nhập khẩu uỷ thác. Đó là phơng thức mà doanh nghiệp này uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng giao dịch trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác sẽ tiến hành đàm phán với đối tác nớc ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. Đặc điểm: - Theo phơng thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (doanh nghiệp nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn nghạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trờng tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra làm đại diện cho bên uỷ thác giao dịch, ký kết hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng cũng nh thay mặt cho bên uỷ thác khiếu nại, bồi thờng với bên nớc ngoài khi có tổn thất. - Các doanh nghiệp đợc uỷ thác nhập khẩu chỉ đợc tính kim ngạch nhập khẩu chứ không đợc tính doanh số, doanh thu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải lập hai hợp đồng: 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá với ngời nớc ngoài. 2. Hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác. b/ Nhập khẩu tự doanh (Nhập khẩu trực tiếp). Đây là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp. Khi tiến hành nhập khẩu theo phơng thức này, doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu thị trờng trong và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí, đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi, đúng chính sách luật pháp quốc gia cũng nh quốc tế. Đặc điểm: - Do phải đứng ra tiến hành các khâu nên doanh nghiệp phải chịu mọi rủi ro, tổn thất cũng nh lợi nhuận thu đợc. Vì vậy, để có hiệu quả cao đòi hỏi doanh nghiệp phải thận trọng trong từng bớc từ việc nghiên cứu thị trờng cho đến khi bán hàng và thu tiền. - Ở phơng thức này, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng với đối tác nớc ngoài, còn các hợp đồng liên quan đến khâu tiêu thụ thì có thể lập sau. c/ Nhập khẩu liên doanh. Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trơng biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hớng có lợi cho các bên tham gia, lãi cùng hởng rủi ro cùng gánh chịu.
  6. Đặc điểm: - Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và tỷ lệ phân chia lãi lỗ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên. - Theo phơng thức này, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ đợc kim ngạch nhập khẩu, nhng khi đa hàng về tiêu thụ chỉ đợc tính doanh số bán hàng trên số hàng theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế trên doanh số đó. Doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu phải lập hai hợp đồng: 1. Một hợp đồng với đối tác nớc ngoài. 2. Một hợp đồng với đối tác liên doanh. Cách phân chia các hình thức nhập khẩu trên dựa vào chủ thể của hoạt động nhập khẩu. Nếu quan tâm đến hình thức thanh toán bằng tiền và mua thanh toán bằng hàng (còn gọi là mua bán đối lu) là một hình thức còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiêp Việt Nam, tìm hiểu kỹ phơng thức này có thể cho phép các doanh nghiệp có đợc một phơng thức nhập khẩu có hiệu quả. d/ Nhập khẩu hàng đổi hàng. Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lu, là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, phơng tiện thanh toán trong hợp đồng này không phải là tiền mà bằng hàng hoá. Mục đích nhập khẩu ở đây không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất khẩu đợc hàng và thu lợi từ hoạt động xuất khẩu nữa. Đặc điểm: - Phơng thức này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên tham gia hợp đồng, mặt khác có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động xuất và nhập khẩu. - Hàng hoá xuất và nhập cũng là bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu. - Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính cả kim nghạch nhập khẩu trực tiếp và kim nghạch xuất khẩu, doanh số tiêu thụ trên cả hai loại mặt hàng. - Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, các bên thờng sử dụng biện pháp sau: + Dùng th tín dụng đối ứng: Là một loại th tín dụng mà trong nội dung của nó có các điều khoản quy định chung. Th tín dụng chỉ có hiệu lực khi ngời mở một th tín dụng khác có kim ngạch tơng đơng. + Dùng ngời thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá. Ngời này sẽ chỉ giao chứng từ đó cho ngời nhận hàng khi ngời này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tơng đơng.
  7. e/ Nhập khẩu tái xuất. Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá song không phải để tiêu thụ ở nội địa mà để xuất sang nớc thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận. Những hàng nhập khẩu này không đợc qua chế biến ở nớc tái xuất. Nh vậy, phơng thức nhập khẩu này đợc thực hiện thông qua 3 nớc: nớc xuất khẩu, nớc nhập khẩu, nớc tái xuất. Đặc điểm: - Doanh nghiệp nhập khẩu ở nớc tái xuất phải tính toán chi phí, ghép mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập khẩu, bảo đảm sao cho có thể thu đợc số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động. - Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính kim ngạch cả xuất và nhập khẩu. Doanh số bán trên trị giá hàng xuất khẩu đối với các mặt hàng kinh doanh. - Doanh nghiệp tái xuất lập hai bản hợp đồng: 1. Hợp đồng xuất khẩu 2. Hợp đồng nhập khẩu và không chịu thuế xuất nhập khẩu đối với các mặt hàng kinh doanh. - Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thờng sử dụng th tín dụng giáp lng. - Hàng hoá không nhất thiết phải qua nớc tái xuất mà có thể nhập thẳng về nớc thứ ba (các hoạt động giao dịch thì vẫn liên quan đến nớc tái xuất). Doanh nghiệp tái xuất còn có thể có đợc những khoản lợi do đợc thanh toán tiền hàng song lại có thể trả chậm cho bên xuất khẩu. Với nhiều phơng thức nhập khẩu nh vậy, các doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành nghiên cứu kỹ lỡng môi trờng kinh doanh để từ đó ứng dụng các phơng thức này một cách linh hoạt với thị trờng này, với bạn hàng này, ta có thể dùng phơng thức này là có lợi hơn, song với thị trờng, với bạn hàng khác và vào một thời điểm khác thì phơng thức ấy cha chắc đã có lợi bằng các phơng thức khác. Không nên chỉ áp dụng một hay một vài phơng pháp cho mọi thị trờng, mọi đối tác. II. Nội dung của hoạt động nhập khẩu. 1. Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu. Thị trờng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của một doanh nghiệp, bởi thị trờng là tổng thể các mối quan hệ về lu thông hàng hoá và tiền tệ. Qua thị trờng, doanh nghiệp sẽ biết đợc lợng cung, lợng cầu từ đó có kế hoạch sản xuất kinh doanh cho
  8. thích hợp. Có nhiều doanh nghiệp nhờ năng động, nắm bắt phản ứng nhanh nhạy với thị trờng mà việc kinh doanh thành đạt, song không ít doanh nghiệp vì khả năng hiểu biết về thị trờng hạn chế mà dẫn đến phá sản. Chính vì vậy, để hoạt động kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng phải nắm vững các yếu tố của thị trờng, hiểu biết quy luật vận động của thị trờng, từ đó phản ứng kịp thời trớc những thay đổi của của thị trờng. Công việc nghiên cứu thị trờng của một doanh nghiệp nhập khẩu gồm có: + Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu. + Nghiên cứu thị trờng và các nhân tố ảnh hởng tới dung lợng thị trờng. + Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hoá và sự biến động của chúng. + Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu. + Xác định mức giá thấp nhập khẩu đối với thị ttrờng có quan hệ giao dịch. Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hởng của nhân tố tới giá cả, ta sẽ nắm đợc xu hớng biến động của chúng, từ đó xác định mức giá cho mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập khẩu đối với thị trờng mà ta sẽ giao dịch. Nếu mặt hàng này thuộc về đối tợng giao dịch phổ biến hoặc có những trung tâm giao dịch trên thế giới thì nhất định phải tham khảo giá thị trờng thế giới về mặt hàng đó. Và phải chú ý khi định giá cần tính đến yếu tố cớc phí vận tải và cũng có thể dựa vào chào hàng của hãng, dựa vào giá nhập khẩu của thời kỳ trớc, vào giá của lô hàng trớc, tính đến những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để tăng hay giảm giá thành nhập khẩu khi giao dịch. 2. Lựa chọn phơng thức giao dịch nhập khẩu. a/ Giao dịch thông thờng. Là phơng thức giao dịch đợc thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc, ngời bán và ngời mua trực tiếp quan hệ bằng cách gặp gỡ trực tiếp hoặc qua th từ để bàn bạc và thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch. Những nội dung của lần giao dịch này đợc thực hiện một cách tự nguyện, không có sự ràng buộc với lần giao dịch trớc, việc mua không nhất thiết phải gắn với việc bán. b/ Giao dịch qua trung gian. Trong hình thức giao dịch này có ngời thứ ba làm trung gian giữa ngời bán và ngời mua. Các trung gian phổ biến trên thị trờng là đại lý và môi giới. Đại lý là tự nhiên nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự uỷ thác. Quan hệ giữa ngời uỷ thác và đại lý là hợp đồng đại lý.
  9. Môi giới là thơng nhân trung gian giữa ngời mua và ngời bán nhận sự uỷ thác của họ. Những ngời môi giới khi thực hiện nghiệp vụ không đứng tên mình, không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm pháp nhân trớc ngời uỷ thác về việc khách hàng có thực hiện hợp đồng hay không. Quan hệ giữa ngời uỷ thác và ngời môi giới dựa trên sự uỷ thác từng lần chứ không dựa vào hợp đồng dài hạn, Sử dụng đại lý, ngời môi giới có nhiều thuận lợi hơn do họ có nhiều hiểu biết về thị trờng, luật pháp, tập quán của địa phơng, và ta cũng có tận dụng đợc những cơ sở vật chất của họ,... song nó có nhợc điểm là ta không có sự liên hệ trực tiếp với khách hàng, với thị trờng, và lợi nhuận bị chia sẻ. c/ Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá. Sở giao dịch hàng hoá là một thị trờng đặc biệt tại đó thông qua những ngời môi giới do sở giao dịch chỉ định, ngời ta mua bán các loại hàng hoá có khối lợng lớn, có tính chất đồng loạt, có phẩm chất có thể thay thế đợc nhau. Giá công bố ở sở giao dịch có thể là giá tham khảo trong việc xác định giá quốc tế. d/ Giao dịch tại hội trợ triển lãm. Hội trợ là thị trờng hoạt động định kỳ tổ chức vào một thời hạn nhất định, tại đó ngời bán trng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với ngời mua để ký kết hợp đồng. Triển lãm là việc trng bày giới thiệu thành tựu của một nền kinh tế hoặc tổ chức một nghành nào đó. Ngày nay, triển lãm không phải là nơi trng bày mà còn là nơi thơng nhân hoặc tổ chức kinh doanh tiếp xúc giao dịch ký kết hợp đồng mua bán cụ thể. 3. Ký kết hợp đồng nhập khẩu. Trong hoạt động xuất nhập khẩu sau khi chọn các bên tiến hành giao dịch đàm phán có kết quả phải đi đến ký kết hợp đồng kinh tế ngoại thơng. a/ Khái niệm về hợp đồng kinh tế ngoại thơng. Hợp đồng nói chung là sự thoả thuận giữa hai bên hay nhiều bên nhằm mục đích tạo lập, chuyển dịch, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ. Hợp đồng kinh tế ngoại thơng là sự thoả thuận của những đơng sự có quốc tịch khác nhau trong đó một bên là bên bán (xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển vào quyền sở hữu của bên mua (nhập khẩu) một khối lợng hàng hoá nhất định, bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng. Hợp đồng kinh tế ngoại thơng có những điểm khác so với hợp đồng kinh tế trong nớc, đó là: - Chủ thể của hợp đồng kinh tế ngoại thơng là các pháp nhân có quốc tịch khác nhau.
  10. - Hàng hoá đợc di chuyển từ nớc này sang nớc khác. - Đồng tiền dùng trong thanh toán ngoại thơng là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết hợp đồng. Trong tập quán thơng mại quốc tế phần lớn các hợp đồng đợc thành lập thành văn bản, đó là một chứng từ cần thiết của sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán. b/ Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng ngoại thơng. Về nội dung của hợp đồng theo nguyên tắc tự do ký hợp đồng hai bên đợc tuỳ ý quyết định những nghĩa vụ của họ sao cho phù hợp với quyền lợi của cả hai bên. Tuy nhiên, việc ký kết hợp đồng kinh tế ngoại thơng thờng khó khăn hơp hợp đồng trong nớc do các chủ thể hợp đồng thờng không có sự tơng đồng về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán,...Do vậy, để tránh sự tranh chấp có thể xảy ra, để đảm bảo sự thi hành hợp đồng đợc suôn sẻ, nội dung hợp đồng xuất nhập khẩu cần có một số điều căn bản, ngoài ra hai bên có thể ghi thêm các điều khoản khác mà họ thấy cần thiết. ã Một số điều khoản căn bản trong hợp đồng kinh tế ngoại thơng. - Điều khoản về đối tợng hợp đồng: + Điều khoản tên hàng: Cần ghi tên thông dụng, tên thơng mại và tên khoa học (nếu có). + Điều khoản chất lợng: Hợp đồng cần ghi rõ tiêu chuẩn quy định phẩm chất của hàng hoá. Có thể căn cứ vào mẫu hàng, vào các tài liệu kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hoá, hay căn cứ vào một tiêu chuẩn đợc tập quán thơng mại quốc tế công nhận. + Điều khoản số lợng: Hợp đồng phải ghi rõ đơn vị đo lờng đơc hai bên lựa chọn, quy định cụ thể số lợng hàng giao dịch. Nếu số lợng quy định phỏng chừng phải dự liệu một số có thể chấp nhận đợc. + Điều khoản trọng lợng của hàng hoá: Có thể tính theo trọng lợng cả bì hay không có bì. Ngời ta tính theo trọng lợng thơng mại tức là trọng lợng của hàng hoá có độ ẩm tiêu chuẩn. - Điều khoản về giá cả hàng hoá: Điều khoản về giá cả hàng hoá trong buôn bán ngoại thơng là điều kiện cơ bản, điều kiện giá cả bao gồm: Đồng tiền tính giá, mức giá, phơng pháp quy định và giảm giá. + Đồng tiền tính giá: Có thể dùng đồng tiền của nớc xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc của nớc thứ ba, nhng phải là đồng tiền ổn định và tự do chuyển đổi đợc. + Mức giá: Thờng là mức giá quốc tế.
  11. + Phơng pháp quy định giá: Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng, giá có thể đợc quy định theo các loại sau: * Giá cố định: Là loại giá đợc quy định lúc ký kết hợp đồng và không thay đổi trong cả quá trình hiệu lực. Giá cố định dùng trong các hợp đồng giao hàng ngay hay giao trong thời hạn ngắn, có khi giao hàng trong thời gian dài cũng dùng giá cố định và thờng có quy ớc trong hợp đồng giá cố định, không thay đổi. * Giá quy định sau: Là giá đợc quy định trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong hợp đồng xác định thời điểm định giá và nguyên tắc xác định mức giá để hai bên tính toán. Ví dụ: một tháng trớc khi giao hàng, ngời mua có thể đợc quyền lựa chọn thời điểm định giá trong quá trình thực hiện hợp đồng, có cam kết về nguồn tài liệu thông tin giá cả. * Giá có thể điều chỉnh lại: Giá đợc xác định trong hợp đồng lúc ký kết, nhng trong hợp đồng có quy ớc: Nếu lúc thực hiện hợp đồng giá thị trờng tăng hay giảm thì giá đã ghi trong hợp đồng sẽ thay đôỉ theo quy ớc tăng hay giảm. Thờng mức chênh lệch thấp nhất giữa giá hợp đồng so với giá thị trờng là 2- 5% thì không đợc tính lại. * Giá di động: Giá chỉ tính dứt khoát lúc thực hiện hợp đồng bằng điều chỉnh giá cả cơ sở đã ghi trong hợp đồng tính đến thay đổi về chi phí sản xuất trong quá trình chuẩn bị hàng. Giá sản xuất bao gồm giá nguyên vật liệu, tiền lơng. Thờng áp dụng cho hàng phải sản xuất dài hạn. + Giảm giá: Giá công bố và giá thật chênh lệch nhau vì ngời mua đợc giảm giá khi ký kết hợp đồng. Giảm giá có thể vì tiền đợc trả ngay, mua khối lợng lớn hay vì khách quen,...Các loại giảm giá: * Giảm giá đơn: Giảm giá so với thời giá thờng tới 20 - 30% có khi tới 30 - 40%. Giảm giá nh vậy thờng gặp ở các hợp đồng mua bán thiết bị, nhất là loại máy có tiêu chuẩn, giảm giá so với giá tham khảo về hàng nguyên liệu công nghiệp giảm trung bình 2- 5%. Mặt khác giảm giá đơn cũng thờng gặp khi trả tiền mặt vì thờng bán hàng theo tín dụng ngắn hạn, nhng ngời mua trả tiền mặt nên đợc giảm giá 2- 3% giá tham khảo nghĩa là tơng ứng với phần trăm vay lãi. * Giảm giá đoạt doanh số: Giảm giá cho ngời mua trái vụ để khuyến khích mua hàng lúc khó tiêu thụ. * Giảm giá kép: Giảm giá khi mua hàng với số lợng lớn với mức tăng dần theo số lợng mua. - Điều khoản giao hàng.
  12. Nội dung cơ bản là xác định thời hạn, thời điểm, phơng thức và việc thông báo giao hàng. + Trong hợp đồng cần ghi rõ thời hạn giao hàng: Giao hàng không đúng thời hạn quy định có thể gây thiệt hại lớn và chịu trách nhiệm, có thể phải trả tiền phạt. + Điểm giao hàng: Trên thực tế ngời nhập khẩu thờng chỉ định bến đi và bến đến cho hàng hoá. Nơi giao hàng có thể là đầu mối vận tải để mang tiếp hàng đi nơi khác hoặc là nơi họ đã nắm vững tập quán giao hàng, khả năng bốc dỡ, khả năng về kho tàng, trình độ trang thiết bị bảo quản hàng hoá,... + Phơng thức giao hàng: Về sơ bộ cuối cùng hay giao nhận về số lợng, chất lợng. + Thông báo giao hàng: Quy định số lần thông báo và nội dung thông báo khi ngời bán giao hàng xong. - Điều khoản về thanh toán trả tiền. + Đồng tiền thanh toán: Phải là đồng tiền ổn định, tự do chuyển đổi trên thị trờng tiền tệ quốc tế, có thể là đồng tiền của bên xuất hoặc bên nhập hoặc là của nớc thứ ba. Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với đồng tiền tính giá. Trong trờng hợp không trùng hợp thì trong hợp đồng quy định rõ tỷ giá chuyển đổi từ đơn vị tiền tính giá sang đơn vị tiền thanh toán đợc thực hiện theo tỷ giá hiện hành ở nớc tiến hành thanh toán. Khi chọn tỷ giá ngoại tệ, ngời ta không chỉ quan tâm đến lợi thế của tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ mà còn tính đến cả khả năng chuyển đổi của ngoại tệ. + Thời hạn thanh toán: Có thể trả ngay, trả trớc hay trả sau hoặc có thể kết hợp các loại hình đó với nhau trong một hợp đồng. + Phơng thức thanh toán: Có nhiều phơng thức trả tiền nhng chủ yếu trong thanh toán quốc tế dùng hai phơng thức sau: * Phơng thức nhờ thu: Là phơng thức thanh toán trong đó ngời bán hàng sau khi giao hàng hoá - dịch vụ uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của ngời mua hàng hoá - dịch vụ. * Phơng thức tín dụng chứng từ: Là sự thoả thuận mà một ngân hàng theo yêu cầu của bên mua sẽ trả tiền cho bên bán hoặc cho bất cứ ngời mua này theo lệnh của bên bán, khi bên bán xuất trình đầy đủ các loại chứng từ và thực hiện đầy đủ các yêu cầu đợc quy định trong một văn bản gọi là th tín dụng ( letter of credit).Có cá loại th tín dụng sau đây: # Th tín dụng huỷ ngang (revocable L/C): Là loại th tín dụng mà ngân hàng mở (tức ngân hàng phát hành th tín dụng) có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ vào bất cứ lúc nào mà không phải báo trớc cho ngời hởng (bên bán).
  13. # Th tín dụng không huỷ ngang: Là loại th tín dụng mà trong một thời hạn hiệu lực của nó, ngân hàng mở không có quyền huỷ bỏ hay sửa đổi nội dung th tín dụng nếu không có sự đồng ý của ngời hởng, ngay cả khi ngời yêu cầu mở th tín dụng (bên mua) ra lệnh huỷ bỏ hay sửa đổi th tín dụng đó. Nh vậy, th tín dụng không huỷ ngang là cam kết chắc chắn đối với ngời bán trong việc thanh toán tiền hàng. # Th tín dụng huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrvocable L/C): Là th tín dụng huỷ ngang nhng lại có thể đợc xác nhận bởi một ngân hàng nào đó theo yêu cầu của một ngân hàng mở. Xác nhận ở đây có nghĩa cam kết trực tiếp trả tiền cho ngời hởng. Thông thờng ngân hàng xác nhận là ngân hàng thông báo th tín dụng tại nớc ngời bán. Xét về mặt thực hiện, th tín dụng có thể là trả tiền ngay (At Sight), hoặc trả tiền sau (With deferrer Payment) hoặc có thể chuyển nhợng đợc (Transferable) cho ngời thứ ba. Phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ có nhiều u điểm hơn so với phơng thức nhờ thu. Đối với ngời bán, nó đảm bảo chắc chắn thu đợc tiền hàng. Đối với ngời mua, nó đảm bảo rằng việc trả tiền cho ngời bán chỉ đợc thực hiện khi ngời bán đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ và ngân hàng đã kiểm tra bộ chứng từ đó. c/ Phơng pháp ký hợp đồng. Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng. ở các nớc t bản, hợp đồng có thể đợc thành lập dới hình thức văn bản hoặc dới hình thức mi ệng, hoặc hình thức mặc nhiên. Ở các nớc xã hội chủ nghĩa, hợp đồng phải đợc ký kết dới hình thức văn bản. Hợp đồng dới hình thức văn bản có thể đợc thành lập dới nhiều cách nh: - Hợp đồng gồm một văn bản, trong đó ghi rõ nội dung buôn bán, mọi điều kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ ký của hai bên. - Hợp đồng gồm nhiều văn bản nh: điện báo, th từ giao dịch, chẳng hạn hợp đồng gồm hai văn bản nh đơn chào hàng cố định của ngời bán, chấp nhận của ngời mua và chấp nhận của ngời bán. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu của ta trong quan hệ với các nớc. Hình thức hợp đồng bằng văn bản là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của hai bên, nó xác định mọi quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và bên bán, tránh đợc những hiểu lầm do không thống nhất đợc quan niệm. Ngoài ra hình thức văn bản còn tạo thuận lợi cho thống kê, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hợp đồng. */ Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số đặc điểm sau:
  14. - Cần có sự thoả thuận thống nhất với tất cả mọi điều khoản cần thiết trớc khi ký kết. Một khi đã ký kết rồi thì việc thay đổi một số điều khoản nào đó rất khó khăn và bất lợi. - Văn bản hợp đồng thờng do một bên dự thảo. Trớc khi ký kết bên kia xem xét lại kĩ lỡng, cẩn thận, đối chiếu với những thoả thuận đã đạt đợc trong đàm phán, tránh việc đối phơng có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo những điểm cha thoả thuận và bỏ qua không ghi vào những điều đã thống nhất. - Hợp đồng cần đợc trình bày rõ ràng, sáng sủa, cách trình bày phải phản ánh nội dung đã thoả thuận, không để tình trạng mập mờ có thể suy luận ra nhiều cách. - Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh việc phải áp dụng tập quán để giải quyết những điểm hai bên không đề cập đến. - Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ những đặc tính của hàng hoá định mua bán, từ những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội của nớc ngời bán, ngời mua, từ đặc điểm và quan hệ giữa hai bên. - Trong hợp đồng không đợc có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành ở nớc ngời bán hoặc nớc ngời mua. - Ngời đứng ra ký kết hợp đồng phải là ngời có thẩm quyền ký kết. - Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên cùng thông thạo. */ Có nhiều cách ký kết hợp đồng đó là: - Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản). - Ngời mua xác nhận (bằng văn bản) là ngời mua đồng ý với các điều khoản của th chào hàng tự do. Nếu ngời mua viết đúng thủ tục cần thiết và gửi trong thời hạn quy định cho ngời bán. - Ngời bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của ngời mua. Trờng hợp này hợp đồng thể hiện bằng hai văn bản: đơn đặt hàng của ngời mua và văn bản xác nhận của ngời bán. - Trao đổi bằng th xác nhận đạt đợc thoả thuận giữa các bên (nêu rõ các thoả thuận đã thoả thuận). 4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Sau khi hợp đồng đã đợc ký kết nghĩa là quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đã đợc xác lập. Các bên cần phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Bên nhập khẩu cần phải xắp xếp các việc phải làm, ghi thành biểu bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịp thời ghi lại các
  15. diễn biến của các bớc thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng là rất phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi của quốc gia, uy tín của doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện cố gắng không để xảy ra những sai sót dẫn đến khiếu nại, đồng thời phải tính toán, tiết kiệm các khoản chi phí lu thông, và điều quan trọng là phải giám sát và yêu cầu đối tác thực hiện đúng các nghĩa vụ của họ trong hợp đồng. Nếu có những vấn đề phức tạp phát sing các bên phải kịp thời bàn bạc trao đổi, giải quyết kịp thời. Các bớc thực hiện hợp đồng gồm có: Xin giấy Mở th tín dụng Thuê phơng tiện Mua BH L/C ( nếu thanh chuyên chở phép NK hàng hoá toán bằng L/C) Khiếu nại và Làm thử tục Nhận hàng Làm thủ tục xử lý khiếu nại hả i thanh toán quan ( nế u c ó ) a/ Xin giấy phép nhập khẩu: Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nớc quản lý xuất nhập khẩu. Vì thế, sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu để thực hiện hợp đồng đó. Giấy phép do Bộ Thơng mại cấp. Thủ tục xin giấy phép nhập khẩu khác nhau đối với hàng hoá thuộc các nhóm hàng khác nhau. Để đợc cấp giấy phép nhập khẩu, doanh nghi ệp xuất nhập khẩu phải có điều kiện: - Thành luật theo đúng luật pháp và cam kết tuân thủ các quy định của luật pháp hiện hành.
  16. - Doanh nghiệp có mức vốn lu động tối thiểu tính bằng đồng Việt Nam tơng đơng với 200.000 USD tới thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu. - Hoạt động theo đúng ngành nghề đã đăng ký kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp. Doanh nghiệp đợc cấp giấy phép nhập khẩu phải có nghĩa vụ nộp lệ phí (một lần) bằng tiền Việt Nam. Mức lệ phí cũng nh việc nộp và sử dụng lệ phí do Bộ Tài chính và Bộ Thơng mại quy định. b/ Mở th tín dụng L/C. Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng phơng thức th tín dụng chứng từ thì bên mua phải mở L/C ở ngân hàng khi có thông báo từ bên bán. Thời gian mở L/C phụ thuộc vào thời hạn giao hàng. Để cho chặt chẽ, hợp đồng thờng quy định cụ thể ngày giao hàng, ngày mở L/C. Nếu nh hợp đồng không quy định cụ thể thì thông thờng thời gian này là khoảng 15 - 20 ngày trớc khi đến thời hạn giao hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản của hợp đồng. Đơn vị hợp đồng dựa vào cơ sở đó, làm đơn xin mở L/C theo mẫu của ngân hàng. c/ Thuê tàu chở hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê tàu theo hình thức nào đợc tiến hành dựa vào ba căn cứ: điều khoản của hợp đồng, đặc điểm của hàng hoá, điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập khẩu phải thuê tàu để chở hàng, nếu điều kiện cơ sở giao hàng là CIF thì bên nhập khẩu không phải thuê tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về ngời mua. Tuỳ theo đặc điểm hàng hoá kinh doanh, doanh nghiệp lựa chọn phơng thức thuê tàu cho phù hợp: thuê tàu chợ, tàu chuyến hay tàu bao. Nếu nhập khẩu thờng xuyên với khối lợng lớn thì nên thuê bao. Nếu nhập khẩu không thờng xuyên, nhng khối lợng lớn thì nên thuê tàu chuyến. Nếu nhập khẩu với khối lợng nhỏ thì thuê tàu chợ. d/ Mua bảo hiểm hàng hoá. Hàng hoá chuyên chở trên biển thờng gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm hàng hoá đờng biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thơng. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao hoặc là hợp đồng bảo hiểm chuyến. Khi mua bảo hiểm bao, doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ đầu năm, mỗi khi giao hàng xuống để vận chuyển chỉ cần gửi đến Công ty bảo hiểm một thông báo một văn bản gọi là: “Giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Khi mua bảo hiểm chuyến, doanh nghiệp gửi đến công ty bảo hiểm một băn bản gọi là: “Giấy yêu cầu bảo hiểm”. Trên cơ sở giấy yêu cầu này, doanh nghiệp và Công ty bảo hiểm đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm.
  17. Bên cạnh hình thức bảo hiểm, doanh nghiệp cần lựa chọn điều kiện bảo hiểm: Loại A hay B hay C. Để lựa chọn điều kiện bảo hiểm thích hợp cần căn cứ vào: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, thời tiết, khả năng vận chuyển bốc dỡ, đặc điểm quãng đờng,... e/ Làm thủ tục hải quan. Hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bớc chủ yếu sau: + Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo chi tiết về hàng hoá lên tờ khai hải quan một cách trung thực và chính xác. Tờ khai phải đợc xuất trình cùng một số chứng từ khác: Giấy phép nhập khẩu, hoá đơn, phiếu đóng gói, bản kê khai chi tiết, vận đơn,... + Xuất trình hàng hoá: Hải quan đợc phép kiểm tra hàng hoá nếu thấy cần thiết. Hàng hoá nhập khẩu phải đợc xắp xếp trật tự, thuận tiện cho việc kiểm tra. Chủ hàng chịu chi phí, nhân công về việc mở, đóng các kiện hàng. + Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiển tra các giấy tờ và hàng hoá, hải quan đa ra quyết định: cho hàng đợc phép qua biên giới (thông quan), hoặc cho hàng qua với một số điều kiện kèm theo hoặc hàng không đợc nhận,...Chủ hàng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hải quan. f/ Nhận hàng. Để nhận hàng hoá nhập khẩu từ nớc ngoài về, đơn vị nhập khẩu phải làm các công việc sau: - Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc giao hàng. - Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu từng quý, từng năm, cơ cấu hàng hoá, lịch tàu, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển, giao nhận. - Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng (vận đơn, lệnh giao hàng,...) nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải. - Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản (nếu cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong việc giao nhận. - Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu. - Thông báo cho đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng hoá. - Chuyển hàng hoá về kho của doanh nghiệp hoặc giao trực tiếp cho các đơn vị đặt hàng. - Kiểm tra hàng hoá: Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu phải đợc kiểm tra. Mỗi cơ quan tiến hành kiểm tra theo chức năng, quyền hạn của mình. Nếu phát hiện dấu hiệu không bình thờng thì mời bên giám định đến lập biên bản giám định. Cơ quan giao thông
  18. kiểm tra niêm phong, kẹp chì trớc khi dỡ hàng ra phơng tiện vận tải. Đơn vị nhập khẩu với t cách là một bên đứng tên trong vận đơn cũng phải kiểm tra hàng hoá và lập th dự kháng nếu thấy nghi ngờ hoặc thật sự hàng hoá có tổn thất, thiếu hụt hoặc không đúng nh hợp đồng. g/ Làm thủ tục thanh toán. Thanh toán là khâu quan trọng trong thơng mại quốc tế. Do đặc điểm buôn bán với nớc ngoài rất phức tạp nên thanh toán trong thơng mại quốc tế phải thận trọng, tránh để xảy ra tổn thất. Có nhiều phơng thức thanh toán nh: Th tín dụng (L/C), phơng thức nhờ thu, chuyển tiền,...Việc thực hiện theo phơng thức nào phải quy định cụ thể trong hợp đồng. Doanh nghiệp phải tiến hành thanh toán theo đúng điều kiện quy định của hợp đồng. h/ Khiếu nại và xử lý khiếu nại (nếu có). Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát, thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Đối tợng khiếu nại có thể là bên bán, ngời vận tải, Công ty bảo hiểm,... tuỳ theo tính chất của tổn thất. Bên nhập khẩu chỉ viết đơn khiếu nại và gửi cho bên bị khiếu nại trong điều kiện quy định. Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất nh: biên bản giám định, hoá đơn, vận đơn đờng biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại Công ty bảo hiểm),... Tuỳ theo nội dung khiếu nại mà ngời nhập khẩu và bên bị khiếu nại có các cách giải quyết khác nhau. Nếu không tự giải quyết đợc thì làm đơn kiện gửi trọng tài kinh tế hoặc toà án kinh tế trong hợp đồng. i/ Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu. Sau khi nhập hàng từ nớc ngoài về, doanh nghiệp giao hàng cho đơn vị đặt hàng hoặc tổ chức tiêu thụ tốt trên thị trờng nội địa. Doanh nghiệp nhập khẩu cần tiến hành tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, tạo điều kiện tái nhập c và quá trình nhập khẩu tiếp theo. Để tiêu thụ hàng hoá có kết quả cao, doanh nghiệp cần phải: - Nghiên cứu thị trờng trong nớc và tâm lý khách hàng trong việc mua hàng hoá, nhất là đối với hàng hóa doanh nghiệp cần kinh doanh. - Xác đinh các kênh phân phối hàng hoá và các hình thức bán. - Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng. - Xác định mức giá cụ thể trên cơ sở cung cầu thị trờng và chi phí của doanh nghiệp. - Tổ chức nghiệp vụ bán hàng cụ thể tại các cửa hàng.
  19. III. Các nhân tố tác động tới hoạt động nhập khẩu. Hoạt động nhập khẩu của một doanh nghiệp liên quan đến nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực trong thơng mại quốc tế. Do vậy, những thay đổi trong cơ chế, chính sách của các quốc gia có liên quan, của luật pháp quốc tế,... đều tác động lớn tới hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp. Để hoạt động nhập khẩu diễn ra một cách suôn sẻ, các doanh nghiệp buộc phải nghiên cứu các yếu tố thuộc về môi trờng kinh doanh. 1. Hệ thống luật pháp trong nớc và quốc tế. Kinh doanh quốc tế nói chung và kinh doanh trong lĩnh vực nhập khẩu nói riêng là một hoạt động đa dạng và phức tạp, nó chịu sự chi phối của nhiều nguồn luật: luật nớc nhập khẩu, luật nớc xuất khẩu, luật của nớc thứ ba, đồng thời còn chịu tác động của luật pháp - tập quán quốc tế. Hệ thống luật pháp này tạo hành lang bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia vào thơng mại quốc tế. Và để hoạt động một cách có hiệu quả, đơng nhiên các doanh nghiệp nhập khẩu cần nắm vững đợc hệ thống luật pháp, phong tục tập quán trong nớc cũng nh quốc tế và cả luật pháp của nớc có liên quan. 2. Sự thay đổi của thị trờng trong nớc và nớc ngoài. Chúng ta biết rằng cung cầu là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với các nhà kinh doanh. Sự thay đổi cung - cầu trên thị trờng ảnh hởng trực tiếp tới khối lợng kinh doanh của doanh nghiệp. Việc làm của các doanh nghiệp là xác định đợc lợng cung và cầu hiện tại, đồng thời cần phải dự báo đợc những xu hớng thay đổi của nó trong ngắn hạn cũng nh dài hạn. Với các doanh nghi ệp nhập khẩu, việc làm này không chỉ dừng lại ở thị trờng nội địa mà phải trên các thị trờng khác và cả thị trờng quốc tế. Đặc biệt với các doanh nghi ệp vừa nhập khẩu thành phẩm vừa nhập khẩu bán thành phẩm và nguyên liệu nh Công ty XNK và kỹ thuật bao bì thì hoạt động của họ còn phải chịu chi phối của nền sản xuất và từng thời kỳ phát triển của đất nớc. 3. Chính sách quản lý vĩ mô và quan hệ kinh tế quốc tế của Nhà nớc. Ngoài hệ thống luật pháp, tuỳ từng thời kỳ phát triển của đất nớc mà chính phủ ban hành các chính sách vĩ mô quản lí hoạt động nhập khẩu. Các chính sách mà các chính phủ thờng đa ra và tác động trực tiếp tới hoạt động nhập khẩu là việc dựng nên các hàng rào nhằm bảo hộ nền sản xuất còn yếu sức cạnh tranh trong nớc. Các công cụ mà thờng sử dụng là công cụ thuế quan và công cụ phi thuế quan (hạn nghạch, giấy phép nhập khẩu, biện pháp quản lí ngoại tệ và các tiêu chuẩn địa phơng). a/ Chính sách tỷ giá hối đoái.
  20. Tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn tới hoạt động nhập khẩu vì nó là cơ sở để so sánh giá cả của hàng hoá trong nớc với thế giới, đồng thời phục vụ cho sự vận động của tiền tệ và hàng hoá giữa các quốc gia, các doanh nghiệp nhập khẩu theo dõi và căn cứ vào tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và ngoại tệ để đẩy mạnh hay hạn chế hoạt động của mình. Khi đồng nội tệ bị mất giá thì hoạt động nhập khẩu là không có lợi và so với trớc doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá và ngợc lại khi đồng nội tệ tăng giá thì hoạt động nhập khẩu là có lợi và so với trớc doanh nghiệp phải trả ít tiền hơn cho một đơn vị hàng hoá. Sự điều tiết tỷ giá của Nhà nớc: cố định, thả nổi, hay thả nổi có quản lý vì thế có tác động rất mạnh tới hoạt động của doanh nghiệp. b/ Quan hệ kinh tế quốc tế. Các quan hệ này có tác động tơng hỗ tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Thông thờng một doanh nghiệp nhập khẩu sẽ thấy thuận lợi hơn trong suốt quá trình giao dịch nếu đối tác là một nớc láng giềng, trong cùng một khu vực hay cùng một khối. Họ cũng cảm thấy dễ chịu hơn khi các chính phủ dành cho nhau quy chế đặc biệt (quy chế tối huệ quốc, cho hởng hệ thống u đãi thuế quan,...) và đến lợt nó, nhập khẩu lại củng cố mối quan hệ ấy giữa các quốc gia. 4. Các nhân tố khác. a/ Cơ sở hạ tầng. Hoạt động nhập khẩu diễn ra có thuận lợi hay không phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ sở hạ tầng của một quốc gia. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có: Hệ thống giao thông vận tải, sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống tài chính ngân hàng. Một nớc có cơ sở hạ tầng phát triển là cơ sở để phát triển các hoạt động nhập khẩu bởi cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng là việc giảm thiểu các chi phí trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghi ệp nâng cao đợc hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. b/ Hoạt động xuất khẩu của quốc gia. Tuy là một mặt đối lập, song xuất khẩu lại có tác động to lớn và trực tiếp tới hoạt động nhập khẩu. Đó là cỗ máy chính tạo nguồn ngoại tệ an toàn phục vụ cho hoạt động nhập khẩu. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu nguồn nguyên liệu nhằm nâng cao chất lợng nguồn tài nguyên thiên nhiên khai thác của nội địa phục vụ cho các đơn vị sản xuất thì điều này càng có ý nghĩa hơn. Xuất khẩu đợc đồng nghĩa với việc thị trờng đợc mở rộng,
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2