Luận văn tốt nghiệp: Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:54

0
356
lượt xem
143
download

Luận văn tốt nghiệp: Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương" có cấu trúc gồm 3 phần trình bày tiềm năng du lịch, khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch; thực trạng tiềm năng du lịch và kết quả hoạt động du lịch ở Hải Dương trong những năm qua, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển di lịch Hải Dương. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương

  1. LUẬN VĂN: Tiềm năng du lịch và phương hướng , biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương
  2. Lời mở đầu Du lịch từ lâu vẫn được hiểu là nghỉ ngơi, tham quan giải trí. Nhưng trên thực tế, du lịch có một hình ảnh năng động hơn, hình ảnh một ngành kinh doanh mới, có hiệu quả và ngày càng phát triển trên mỗi quốc gia. Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của dịch vụ, tin học và nền kinh tế tri thức, thì du lịch ngày càng trở nên quan trọng và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Du lịch được coi là một ngành “ công nghiệp không khói”, “ xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vô hình” để thu về nguồn ngoại tệ. Hoạt động du lịch đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế và đang phát triển nhanh với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Hoà chung với sự phát triển của du lịch thế giới. Ngành Du lịch Việt Nam cũng đã có những bước chuyển biến rõ rệt nhờ vào chính sách “ mở cửa ” của Đảng và Nhà nước, ngành du lịch đã có sự tăng trưởng và phát triển đáng khích lệ góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Ngành du lịch Việt Nam trước những thách thức và cơ hội mới còn nhiều việc phải làm để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trên cơ sở giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước. Trong bối cảnh chung của du lịch cả nước, Du lịch Hải Dương cũng bắt đầu có những bước chuyển biến nhưng vẫn chưa thực sự phát triển với tiềm năng sẵn có của mình. Là một tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Hải Dương không có những tài nguyên, di sản Văn hoá ở tầm quốc tế như nhiều tỉnh khác. Ngành du lịch chưa th ực sự có những đ óng góp đáng klể vào thu nhập của người dân, nhưng như vậy không có nghĩa là Du lịch Hải Dương không thể phát triển. Nằm trong tam giác phát triển của phía Bắc là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh cùng với nhiều di tích và danh thắng cũng như các công trình văn hoá còn được lưu giữ . Hải Dương có nhiều thuận lợi để phát triển thương mại và du lịch Với mong muốn có cái nhìn toàn diện và hiểu rõ hơn về tiềm năng du lịch của Hải Dương, trong thời gian thực tập tại Sở Thương mại – Du lịch Hải Dương em đã chọn đề tài “ Tiềm năng du lịch và phương hướng , biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương ” làm chuyên đề tốt nghiệp đại học của mình. Kết cấu báo cáo chuyên đề, ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm 3 chương.
  3. Chương I: Tiềm năng du lịch. Khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch Chương II: Thực trạng tiềm năng du lịch và kết quả hoạt đ ộng du lịch ở Hải Dương trong những năm qua. Chương III: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch Hải Dương.
  4. chương I: tiềm năng du lịch. Khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch: I/ Khái niệm chung về du lịch và tiềm năng du lịch. 1. khái niệm chung về du lịch. 1.1 Khái niệm về du lịch. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, không chỉ ở nước ta mà cả nhiều nước trên thế giới cũng chưa thống nhất. Về khái niệm và nội dung đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch. Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO): "Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu lại không quá 12 tháng với mục đích kiếm tiền thường xuyên". Theo Michel Coltmant: " Du lịch là mối quan hệ tương tác giữa bốn nhóm nhân tố: khách du lịch, các tổ chức cung ứng du lịch, chính quyền nơi đến du lịch, dân cư tại nơi du lịch để thống nhất hoạt động du lịch nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của con người". Tuyên bố LaHay về du lịch viết: " Du lịch là hoạt động tất yếu của con người và của xã hội hiện đại. Bởi lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người, đồng thời là phương tiện giao lưu trong mối quan hệ giữa con người với con người". Qua các định nghĩa về du lịch nêu trên ta nhận thấy nổi lên một số điểm chủ yếu: - Hoạt động du lịch của con người ở ngoài nơi làm việc thường xuyên của họ. - Hoạt động vận chuyển hầu như trong tất cả mọi trường hợp đi du lịch đều có sự tham gia của một phương tiện giao thông nào đó. 1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao đông sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch tạo ra sức hấp dẫn du lịch.
  5. Về thực tế, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên các đối tượng văn hoá, lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng s ử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch. Những điều kiện hiện nay luôn tồn tại và gắn liền với môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa ph ương, mỗi quốc gia nhằm tạo nên điểm đ ặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này được phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài nguyên du lịch. Như vậy có thể nói rằng, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch, trên thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hậu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. - Mức độ khai thác của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào: + Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn. + Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, các nhu cầu của khách ngày càng lớn, đa dạng và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí. + Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các phương tiện để khai thác tiềm năng mọi cách để đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu thoả mãn của khách du lịch khi có nhu cầu khám phá những điều kỳ diệu của tài nguyên du lịch. Như vậy, giống như các tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, vì những thay đổi cơ cấu và nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mang tính chất kinh tế cũng như tính văn hoá - lịch sử. Nó là một phạm trù động, vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu, khi đánh giá tài nguyên và xác định định hướng khai thác chúng cần phải tính đến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế - kỹ thuật khai thác các tài nguyên du lịch mới. Bên cạnh nh ững tài nguyên đã và đ ang được khai thác thì còn nhiều tài nguyên du lịch vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng đó. + Chưa được nghiên cứu, đánh giá và điều tra đầy đủ. + Chưa được khai thác do " cầu" còn quá thấp. + Tính tài nguyên thấp, chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác và hình thành nên các sản phẩm du lịch.
  6. + Các điều kiện để tiếp cận các phương tiện khai thác còn hạn chế, do đó còn gặp nhiều khó khăn trong khai thác. 1.3. Khái niệm khách du lịch. Nói đến khách du lịch, chúng ta có thể hiểu đó là những người đi từ nơi này đến nơi khác để nghỉ ngơi, giả trí, cũng có thể hiểu đó là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi làm hay đi học… Định nghĩa của nhóm tác giả trường kinh tế quốc dân có thể nói là tương đối hoàn chỉnh." Khách du lịch là người đi đến một quốc gia khác, một vùng khác và lưu lại ở đó với thời gian lớn hơn một ngày nhằm các mục đích khác nhưng không nhằm mục đích kiếm tiền". - Định nghĩa khách du lịch quốc tế. Theo tổ chức du lịch thế giới ( WTO): " Khách du lịch quốc tế là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục địch khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến. + Khách du lịch quốc tế chủ động: là những người ở nước ngoài vào nước đó. + Khách du lịch quốc tế bị động: là những người ở trong nước đi ra nước ngoài. - Định nghĩa khách du lịch nội địa. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO). " Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá một năm với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để lĩnh lương ở nơi đến. - Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì. “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến ” “ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, là người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nướcngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch ”
  7. “ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ tại Việt Nam ” 1.4. Khái niệm về thị tr ường du lịch Xuất phát từ đặc điểm sản phẩm du lịch có thể thấy thị trường du lịch được coi là một bộ phận tương đối đặc biệt của thị trường hàng hoá nói chung, bao gồm toàn bộ các mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan đến địa điểm, thơì gian, điều kiện và phạm vi thực hiện hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về du lịch Nét đặc thù riêng của thị trường du lịch là ở chỗ: + Thị trường du lịch thực hiện dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hôị về du lịch + Toàn bộ các mối quan hệ của các mối quan hệ toàn bộ trên thị trường kinh tế du lịch phải gắn liền với vị trí, thời gian, điều kiện và phạm vi thực hiện của thị trường hàng hoá + Thị trường du lịch là tổng hợp nhu cầu hay tập hợp nhu cầu về sản phẩm du lịch, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá dịch vụ + ở góc độ một đơn vị kinh doanh có thể hiểu thị trường du lịch là một tập hợp khách hàng hay nhóm khách hàng đang có nhu cầu, mong muốn và có khả năng thanh toán sẽ được thoả mãn + Thị trường du lịch, mối quan hệ mua bán đ ược hình thành giữa các tổ chức kinh tế phục vụ lưu thông phân phối trong du lịch, đó chính là các đại lý du lịch + Người mua thông qua những đại lý du lịch này xẽ biết được những thông tin vế sản phẩm mà mình sẽ mua và sau khi đồng ý thực hiện mua ở đây. Như vậy, sản phẩm đang bán trực tiếp ở thị trường hàng hoá này đã chuyển sang bán ở thị trường du lịch + Chỉ khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu du lịch mới xuất hiện và ngày càng cao, chính vì thế thị trưồng du lịch xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hoá + Trên thị trường du lịch không có sự dịch chuyển của khối lượng hàng hoá, do tính chất đặc biệt của sản phẩm du lịch, khách hàng chỉ có thể tiêu dùng tại nơi bán sản phẩm,nên thị trường du lịch là dòng một chiều của khách đến với sản phẩm. - Cầu du lịch
  8. Cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( đi lại ) và nhu cầu tâm lý ( giao tiếp ) trong hệ thống các nhu cầu của con người, để làm cho cuộc sống thay đổi về môi trường sống, muốn có thêm hiểu biết cũng như muốn nghỉ ngơi, giải trí thoát khỏi sự căng thẳng và môi trường ô nhiễm. Nhu cầu du lịch có được thực hiện hay không phụ thuộc vào khả năng thanh toán c ủa khách du lịch, có thời gian rỗi dành cho tiêu dùng du lịch và phải sẵn sàng mua sản phẩm du lịch. Khi thoả mãn 3 điều kiện này thì nhu cầu du lịch của cá nhân biểu hiện ở cấp độ ý định. Nhu cầu du lịch ở cấp độ quyết định của tất cả cá nhân ở một không gian và thời gian nhất định tạo ra thị trường khách du lịch hiện tại ở không gian và thời gian đó. Nếu nhu cầu du lịch của các cá nhân chưa thoả mãn 1 trong 3 điều kiện nói trên thì tập hợp lại tạo ra thị trường khách du lịch tiềm năng , khi mà trình độ sản xuất xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện, mức độ toàn cầu hoá càng cao thì nhu cầu về du lịch càng lớn về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nó. - Cung du lịch Cung trong du lịch là khả năng cung cấp toàn bộ hàng hoá về dịch vụ du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, cung du lịch là toàn bộ hệ thống của cải và dịch vụ mà hệ thống của cải và dịch vụ mà bộ máy du lịch đ ưa ra phục vụ khách bao hàm một chuỗi các nhiệm vụ, trách nhiệm về hoạt động hợp thành các đơn vị tổ chức năng hoạt động trên thị trường du lịch. - Mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường du lịch. Cung và cầu du lịch có mối quan hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau, cung tác động lên cầu qua khối lượng và cơ cấu của nó, còn cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung qua việc tiêu thụ và sự phân hoá của cầu. Trong du lịch chỉ có dòng chuyển động một chiều cầu đến cung. Xu hướng đặc trưng của thị trường du lịch là sự cân bằng giữa cung và cầu. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch muốn phát triển hoạt động kinh doanh của mình thì p h ải biết liên kết , t ập hợp cầu, phải biết phối hợp cung - c ầu đ ể đ em lại hiệu quả
  9. kinh doanh cao ( vì cung trong du l ịch là cố đ ịnh, còn cầu thì phân tán, cung du lịch mang tính b ộ phận trong khi cầu di lịch mang tính tổng hợp). 1 .5. Các khái ni ệm khác: - K hái ni ệm kinh d oanh l ữ hành. K inh doanh l ữ hành là việc đ ầu t ư đ ể thực hiện một, một số hoặc tất cả các c ông vi ệc trong quá trình chuyển giao sản phẩm thực hiện giá trị sử dụng hoặc làm gia tăng giá tr ị của nó đ ể chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đ ích l ợi n h u ận. - K hái ni ệm kinh doanh khách sạn. K inh doanh khách s ạn là hoạt đ ộng kinh doanh trên c ơ s ở cung cấp các dịch vụ l ưu trú, ăn u ống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đ áp ứ ng nhu cầu nghỉ n gơi và gi ải trí của họ tại các đ i ểm du lịch nhằm mục đ ích có l ã i. - K hái ni ệm kinh doanh vận chuyển. C ó 2 lo ại theo tính đ ặc thù, kinh doanh vận chuyển khách du lịch từ n ơi cư trú c ủa khách du lịch và kinh doanh vận chuyển tại đ iểm du lịch. 2 . Ti ềm năng du l ịch. T heo ngh ĩa rộng, tiềm n ăng là t ổng hợp tất cả các đ iều k iện bên trong và bên n goài có giá tr ị khai thác, sử dụng và phát triển. T i ềm n ăng du l ịch là một trong những đ i ều kiện trực tiếp đ ể phát triển du l ịch. T i ềm n ăng du l ịch bao hàm: vị trí đ ịa lý, tài nguyờn du lịch, con ng ười, thị t rường, các đ iều kiện về ki nh t ế - x ó h ội… II/ Các đặc điểm chủ yếu để phát triển tài nguyên du lịch. 1. Đặc điểm tài nguyên du lịch. Để có thể khai thác và sử dụng một cách tốt nhất các tài nguyên du lịch, cần phải nghiên cứu các đặc điểm tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch có các đặc điểm sau đây. 1.1. Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo tạo ra sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
  10. Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú càng đa dạng, đặc điểm này tạo nên sự phong phú về sản phẩm du lịch, nếu chỉ tính toán đơn thuần từ mặt kinh tế thì hiệu quả của tài nguyên du lịch đem lại là rất lớn có khi vượt trội hơn so với các tài nguyên khác. 1.2. Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác. Trong tài nguyên du lịch có tài nguyên có thể khai thác quanh năm, nhưng cũng có tài nguyên khai thác lệ thuộc vào thời vụ. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo diễn biến của khí hâu, như ở nước ta các tài nguyên được khai thác theo mùa rất rõ rệt: vào mùa Xuân ở đồng bằng Bắc bộ là mùa của những lễ hội như hội Chùa Hương, hội Lim, hội Đền Hùng..., vào mùa Hè thường diễn ra các hoạt động biển, đặc biệt là du lịch biển diễn ra quanh năm ở các tỉnh có biển, nhất là ở miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có thể tắm biển quanh năm (cả 4 mùa )vì ở đó rất ít bị ảnh hưởng của không khí lạnh. 1.3. Tài nguyên du lịch là tài nguyên không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình. Đây được xem là đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch. khác với tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất tham gia vào việc hình thành nên các sản phẩm du lịch, đó chính là giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch. Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch được khách du lịch cảm nhận thông qua những cảm xúc tâm lý, làm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. 1.4. Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác. Các tài nguyên du lịch thường được khai thác để phục vụ du lịch là các tài nguyên vốn đã có sẵn trong tự nhiên do tạo hoá sinh ra hoặc con người tạo dựng lên và thường dễ khai thác. Con người khó có thể tạo nên tài nguyên du lịch bởi vì nó sẽ giảm đi rất nhiều về giá trị và sự hấp dẫn, chỉ cần đầu tư không lớn nhằm tôn tạo thêm vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên. 1.5. Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ tạo ra sản phẩm du lịch. Khách du lịch thường đến tận những nơi có sản phẩm du lịch để th ưởng thức, đây là đặc điểm rất khác nhau giữa tài nguyên du lịch và các tài nguyên khác. Khác là những tài nguyên sau khi khai thác có thể vận chuyển đến tận nơi để chế biến thành sản phẩm rồi lại
  11. đưa đến tận nơi tiêu thụ, chính vì khách du lịch phải đi đến tận các điểm du lịch nơi có các tài nguyên du lịch để thưởng thức sản phẩm du lịch. Nên muốn khai thác tốt tài nguyên này phải chuẩn bị tốt các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và vận chuyển khách du lịch. Những điểm du lịch có vị trí thuận lợi sẽ thu hút được nhiều khách du lịch và các hoạt động du lịch ở đó sẽ đạt hiệu qủa cao. 1.6. Tài nguyên du lịch có thể sử dụng nhiều lần. Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử được dụng lâu dài, vấn đề cơ bản là phải nắm được quy luật tự nhiên, lường trước được những thử thách của tự nhiên, cũng như những tác động do con người tạo ra. Từ đó có định hướng lâu dài và có biện pháp cụ thể để khai thác tài nguyên du lịch, bảo vệ và tôn tạo phát triển một cách bền vững mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch trong tương lai. 2. Phân loại tài nguyên du lịch. Các tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, có thể chia làm hai loại: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. 2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên. Thiên nhiên là môi trường sống của con người và của mọi sinh vật trên trái đất, thiên nhiên bao gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi của chúng tạo nên các điều kiện tự nhiên thường xuyên tác động đến sự sống, hoạt động của con người. Các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch bao gồm: - Địa hình: là các vùng núi có phong cảnh đẹp, hệ thống hang động, bãi biển, di tích tự nhiên. - Khí hậu: gồm tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người, tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng, du lịch, thể thao, giải trí... -Thuỷ văn: gồm mặt nước và các bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng. - Sinh vật: gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở hệ sinh thái đặc thù. 2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn. Là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Đó là toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra,
  12. đều được coi là những sản phẩm văn hoá. Tài nguyên du lịch nhân văn được phân chia thành những nhóm cụ thể sau: - Các di tích lịch sử văn hoá gồm: các di sản văn hoá thế giới, di tích lịch sử, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương. - Các lễ hội: làng nghề thủ công truyền thống gồm: nghề gốm sứ, trạm khắc đá, nghề mộc, nghề kim hoàn... - Các đối tương du lịch gắn với dân tộc học. - Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác. III/ Những nội dung cơ bản về hoạt động du lịch ở Hải Dương. 1. Những tiềm năng cần được đánh thức. Thuộc đồng bằng Bắc Bộ với địa hình bao gồm cả đồng bằng và đồi núi, cùng với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, Hải Dương có nhiều lợi thế để phát triển toàn diện cả du lịch văn hoá, tín ngưỡng tâm linh và du lịch sinh thái. ở phía đông Bắc có 2 huyện miền núi là Chí Linh và Kinh Môn, tuy không rộng lớn nhưng cảnh quan đa dạng, trong đó. Vùng Chí Linh núi đồi trùng điệp, rừng cây xanh tốt là thiên đường của du lịch sinh thái, xây dựng sân golf, biệt thự, hình thành cắm trại, picnic, vùng núi hồ Côn Sơn - Kiếp Bạc - Thanh Mai, vào thế kỷ 14 nơi đây đã biến thành chốn " Phật tổ" của Thiền Phái Trúc Lâm và gắn liền với tên tuổi danh nhân Nguyễn Trãi, danh tướng Trần Hưng Đạo. Vùng Kinh Môn có “ tập đoàn ” đá vôi với những hang động kỳ thú, nơi lưu giữ di tích của con người từ thời đại đồ đá mới. Kinh Môn tự hào là nơi có động Kính Chủ, động Tâm Long từ thời Trần được tôn tạo thành Chùa. Đến thế kỷ 17 Kính Chủ trở thành động nổi tiếng của đất nước, nơi đây để lại bút tích của nhiều thời đại khác nhau. Huyện Thanh Miện nổi tiếng với Đảo Cò Chi Lăng Nam, nơi du khách được hoà mình với thiên nhiên, ngắm những đàn cò sinh động trong mọi trường đặc trưng vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Vùng Thanh Hà với cây vải thiều đặc sản là lợi thế hứa hẹn một vùng du lịch miệt vườn độc đáo. Hải Dương có 1.098 di tích các loại, bao gồm 133 di tích được xếp hạng quốc gia, được bố khá đồng đều khắp thôn, làng của 11 huyện và thành phố Hải Dương chứa đ ựng chiều sâu văn hoá, lịch sử vùng đất tỉnh Đông. Mỗi di tích gắn với một truyền thống, một nhân vật lịch sử hay một phong cách kiến trúc của một thời đại nào đó. Chẳng hạn như Văn
  13. Miếu Mao Điền ( thuộc địa phận huyện Cẩm Giàng) có bia khắc tên các cử nhân, tiến sỹ thời phong kiến, di tích khảo cổ học gốm Chu Đậu ( xã Thái Tân, huyện Nam Sách) lưu giữu dấu ấn của một trung tâm sản xuất gốm mỹ nghệ xuất khẩu từ thế kỷ 15, 16, hay đền thờ nhà nho yêu nước Chu Văn An trên núi Phượng Hoàng ( xã Văn An, huyện Chí Linh ). Không chỉ có vậy, Hải Dương còn có nhiều làng nghề truyền thống như: làng Đồng Giao ( xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng) chuyên nghề chạm, khắc gỗ, làng Tam Lâm ( Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc) có nghề đóng giầy, làng Cúc bồ ( Kiến Quốc, huyện Gia Lộc) có nghề mộc nổi tiếng..., mỗi làng nghề đều mang bản sắc riêng, gắn với hệ thống di sản và truyền thuyết. Tìm hiểu văn hoá và truyền thống làng nghề sẽ khiến du khách cả trong và ngoài nước nhận biết được nhiều điều thú vị. Thực tế đó là tiền đề thuận lợi cho làng nghề Hải Dương được " trình làng " với vị thế mới. làng nghề Văn hoá - Du lịch độc đáo và hấp dẫn. 2. Những chuyển động đầu tiên. Không phải chỉ từ năm 2003 lại đây, Hải Dương mới nhận rõ tiềm năng du lịch của mình. Song, do khả năng đầu tư cho ngành du lịch còn hạn chế, nhỏ giọt, chưa đủ sức đem lại những thay đổi to lớn. Chẳng hạn, để dần bắt nhịp với du lịch toàn quốc, một số khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách đ ược nâng cấp thành khách sạn đạt tiêu chuẩn “ sao ”. Nhiều thành phần kinh tế được tham gia, đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn đã tạo nên những chuyển biến nhất định. Nếu như năm 1997, Hải Dương chỉ có 13 khách sạn, nhà nghỉ với 400 phòng, 900 giường, trong đó chỉ có 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn thì đến năm 2003 toàn tỉnh có 60 khách sạn, nhà nghỉ với 54 khách sạn đạt tiêu chuẩn, gồm 975 phòng, có 1500 giường, phần lớn thuộc về các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong đó, có 4 khách sạn 2 sao, 3 khách sạn 1 sao. Tuy nhiên, phần lớn các khách sạn, nhà nghỉ đều tập trung tại thành phố Hải Dương, hầu hết các điểm du lịch chưa có các cơ sở du lịch thực hiện kinh doanh dịch vụ lưu trú chuyên nghiệp. So với các tỉnh có tiềm năng du lịch, các dịch vụ vui chơi giải trí, phương tiện đi lại, đường giao thông du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch Dải Dương còn quá thiếu và yếu. Ngoài một số điểm như An Phụ - Kính Chủ, Côn Sơn - Kiếp Bạc được đầu tư xây dựng hệ thống giao thông phục vụ khu du lịch, những điểm du lịch khác vẫn đang ở nguyên trạng hoang sơ hoặc " ăn nhờ" hệ thống giao thông
  14. dân dụng, nối vào di tích vẫn là đường nhỏ. Vì thế, phần lớn trong hơn 1.000 di tích chủ yếu thu hút khách trong phạm vi gần, vào vài tháng nhất định trong năm( chủ yếu là mùa lễ hội, mùa xuân ) 100% làng nghề đều chưa khai thác du lịch. Bản thân các khu di tích, thắng cảnh chưa được tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp đầy đủ, thường xuyên. Để khắc phục tình trạng trên, năm 2001, Hải Dương đã đầu tư gần 50 tỷ nhằm đồng tôn tạo khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc và sắp tới sẽ triển khai dự án xây dựng khu hồ Mật Sơn ( Chí Linh ) với tổng số vốn đầu tư gần 41 tỷ đồng. Ngoài ra, khu núi An Phụ - Kính Chủ, cũng được đầu tư xây dựng tượng đài Hưng Đạo Vương và tôn tạo đường lên đỉnh và chùa Tường Vân với số tiền hàng chục tỷ đồng. Đó là những khoản tiền vốn đầu tư cho du lịch lớn nhất trong thời gian vừa qua. Trong giai đoạn đầu mỗi năm cần đến 150 tỷ đồng để tạo ra diện mạo mới cho ngành du lịch.Thiếu vốn đầu tư, đó là mấu chốt của bài toán khai thác tiềm năng du lịch Hải Dương hiện nay. Tuy nhiên, tiềm năng du lịch Hải Dương đang thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong và nước ngoài tỉnh, các nhà đầu tư trong nước và từ nước ngoài. 3. Tạo tương lai mới bằng những chiến lược mới. Quy hoạch phát triển du lịch Hải Dương xác định gồm 4 chiến lược trọng tâm là: chiến lược đầu tư, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược nâng cấp chất lượng sản phẩm và tuyên truyền quảng bá. Trong đó chiến lược quan trọng nhất là đầu tư kết cấu hạ tầng, vật chất kỹ thuât tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp, song nguồn vốn hiện có chỉ cho phép đầu tư vào một vài điểm nhất định. Vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế của tỉnh, trong đó có vấn đề đầu tư cho du lịch, Hải Dương đang mời gọi mọi đối tác đầu tư, mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào lĩnh vực này trên cơ sở quy hoạch du lịch đã được phê duyệt. Để phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, Sở Thương mại - Du lịch Hải Dương đang kết hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức đào tạo nhân viên khách sạn, hướng dẫn viên du lịch, bởi lẽ một khi hạ tầng du lịch được đổi mới, chiến lược nhân lực sẽ càng đ ược đẩy mạnh tạo nên hình ảnh mới cho nhành du lịch Hải Dương. Với hàng chục làng nghề và lực lượng lao động dồi dào, chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của Hải Dương hướng tới khuyến khích đầu tư sản xuất
  15. những mặt hàng lưu niệm đặc trưng, giúp Hải Dương được nhìn nhận nh ư một vùng đất mang bản sắc văn hoá độc đáo và riêng biệt. Với mục tiêu tận dụng lợi thế vị trí địa lý, Hải Dương bắt đầu thực hiện cơ chế phối hơp với ngành du lịch của Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh để biến Hải Dương thành một" mắt xích" trong tuyến du lịch liên tỉnh.Sắp tới Công Ty Du lịch Hải D ương sẽ trở thành công ty thành viên của Tổng công ty du lịch Hà Nội là bước khởi sắc đầu cho chính sách tạo mối quan hệ hợp tác liên kết trong du lịch của Hải Dương. Mục tiêu của ngành đến năm 2006 sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 25%/ năm, với doanh thu 300 tỷ đồng và du lịch của tỉnh sẽ đón 300 nghìn lượt khách. Cùng với tốc độ tăng trưởng, ngành đặc biệt coi trọng việc phát triển du lịch bền vững, phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo an ninh, gắn du lịch với phát huy, bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá địa phương. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt của du lịch hiện nay, con đường phát triển đúng đắn cho du lịch Hải Dương là: Chinh phục khách hàng bằng chất lượng bền vững, theo tiêu chuẩn quốc tế để thực sự là điểm đến tốt nhất đối với mỗi khách hàng. IV/ N hững đ iều kiện nhằm phát triển du lịch Hải D ương: 1. Điều kiện chung. Du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong nhữngđiều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định. Trong số những điều kiện đó có những điều kiện tác động trực tiếp đến việc hình thành nhu cầu du lịch và việc tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những điều kiện mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời sống xã hội và có những điều kiện gắn liền với từng khu vực địa lý. Tuy nhiên, tất cả các điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành mội trường cho sự phát sinh, phát triển du lịch. 1.2 Về mặt xã hội. Theo địa giới hành chính, tỉnh Hải Dương có 11 huyện, 1 thành phố loại III , với dân số năm 2002 là 1.683.138 người, mật độ dân số trung bình 1.022 người/km. Dân cư thường tập trung ở đô thị và các thôn xóm dọc theo các trục giao thông đường bộ, đường thuỷ quan trọng…Dân cư sinh sống ở Hải Dương chủ yếu là dân tộc Kinh theo hai tôn giáo chính là:
  16. Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Tính cách của người dân Hải Dương mang đậm nét đặc trưng của vùng văn minh lúa nước Châu thổ sông Hồng: cần cù, hiền lành, phóng khoáng, cởi mở và giàu lòng mến khách. Do kinh tế tăng trưởng ổn định nên đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều được cải thiện. Đến năm 2002 tỷ lệ hộ đói nghèo chỉ còn 7%, toàn tỉnh đã đạt tiêu chuẩn quốc gia về xoá mù chữ. Đến nay, tất cả các xã, phường t rên đ ịa bàn tỉnh đ ều có hệ thống đ i ện, đ ư ờng, tr ường, trạm t ương đ ối hoàn chỉnh, thêm vào đ ó là chính sách phát t ri ển du lịch cùng với sự ổn đ ịnhvề mặt chính trị và an ninh đ ã làm cho du l ịch của H ải D ương có đi ều thu ận lợi h ơn đ ể phát triển. 1.2. Về mặt kinh tế. Trong quá trình cùng cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Hải Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực du lịch, trong thời kỳ 1998 - 2003 đạt mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14 % GDP của tỉnh Hải Dương năm 2003. Kết quả mà ngành du lịch đạt được là nhờ có nhiều hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch được Sở Thương mại - Du lịch tiến hành như phát hành phim, sách về du lịch, tổ chức triển lãm và xây dựng các tour du lịch làng nghề, tổ chức gian hàng du lịch Hải Dương tại Liên hoan du lịch Hà Nội... đã góp phần tạo ra hình ảnh mới cho hoạt động du lịch của tỉnh Hải Dương. 2. Điều kiện đặc trưng. Trong quá trình cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Hải Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong Tổng sản phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ du lịch, trong thời kỳ 1998 – 2003 đạt mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14% GDP của tỉnh Hải Dương năm 2003. Kết quả mà ngành du l ịch đ ạt đ ược là nhốc nhiều hoạt đ ộng tuyên t ruy ền quảng bá du lịch đ ược Sở Th ương mại - D u l ịch tiến hành nh ư phát hành
  17. p him, sách về du lịch, tổ chức triển lãm và xây dung các t our du l ịch làng nghề, tổ c h ức gian hàng du lịch Hải D ương t ại Liên hoan du lịch Hà Nội… đ ã góp ph ần tạo ra h ình ả nh mới cho hoạt đ ộng du lịch của tỉnh Hải D ương. 2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên. Tài nguyên du lịch của Hải Dương được phân bố đều trên phạm vi toàn tỉnh và tập trung nhiều tại hai huyện miền núi Chí Linh và Kinh Môn. Chí Linh núi đồi trùng điệp có độ cao trung bình không quá 700m, rừng cây xanh tốt, cảnh quan đẹp, có nhiều hồ nước tự nhiên, có nhiều di tích, di chỉ văn hoá như: khu danh thắng Phượng Hoàng - Kỳ Lân là địa danh thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo núi; Khu du lịch danh thắng Côn Sơn là nơi cảnh đẹp thiên nhiên, tâm linh gắn liền với cuộc đời của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, cùng với tên tuổi của danh nhân đất Việt khác như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang, đồng thời là một trong ba Trung tâm của phái Trúc Lâm ( Côn Sơn - Yên Tử - Trúc Lâm ). Kinh Môn thuộc vùng núi đá vôi với nhiều hang động kỳ thú, nơi còn lưu lại di tích của con người thời đại đồ đá mới. Núi An Phụ với đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu trên đỉnh và tượng đài người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ở chân núi là nơi thích hợp cho du lịch tâm linh. Hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi Dương Nham thích hợp cho du lịch vãn cảnh gắn với những trang sử hào hùng chống quân Nguyên của nhân dân ta. Ngoài ra, các huyện thuộc vùng đồng bằng cũng có tiềm năng du lịch phong phú nhờ có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, làng quê trù phú mang đậm nét đặc trưng của văn hoá Bắc Bộ: khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà, nổi tiếng với cây vải tổ, làng Cò ( Chi Lăng Nam ) Thanh Niệm, Văn Miếu Mao Điền (huyện Cẩm Giàng ), gốm chu Đậu (huyện Nam Sách )... rất thuận tiện cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch đồng quê và tham quan nghiên cứu khoa học. 2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn. Trên địa bàn tỉnh hiện nay có trên 1.098 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 133 di tích đã được Nhà n ước xếp hạng, bao gồm các đình, đền, chùa, phủ...với nét kiến trúc độc đáo, có sự giao thoa của kiến trúc cổ và kiến trúc hiện đại, giữa kiến trúc Phương Đông và
  18. Phương Tây. Đặc biệt, các di tích lịch sử văn hoá đều gắn với các lễ hội truyền thống văn hoá dân gian, đây là tài nguyên du lịch nhân văn lớn, là động lực và thế mạnh cho du lịch Hải Dương phát triển. Ngoài các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống văn hoá dân gian, tài nguyên du lịch Hải Dương c òn được thể hiện qua các làng nghề truyền thống trong tỉnh, các giá trị văn hoá phi vật thể cùng truyền thống canh tác lâu đời của người dân vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng, tất cả làm cho nguồn tài nguyên du lịch của Hải Dương thêm phong phú và là điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch. Hiện nay, tài nguyên du lịch của Hải Dương đã được cải thiện một cách căn bản về hạ tầng giao thông, điện nước, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự. Một số dự án lớn đã được triển khai thực hiện và hoàn chỉnh như dự án mạng lưới giao thông khu Côn Sơn – Kiếp Bạc, Đền thờ Chu Văn An, đường lên núi An Phụ, đường giao thông dẫn đến Đảo cò ở Chi Lăng Nam- Thanh Miện, Dự án kè hồ Côn Sơn... đã ngày càng tạo cho Hải Dương những sản phẩm du lịch có tính háp dẫn du khách ngày càng cao hơn. 2.3. Điều kiện sẵn sàng đón tiếp khách. * Cơ sở lưu trú du lịch. Các cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Năm 2000 cả tỉnh có 26 c ơ s ở lưu trú du lịch, trong đ ó, chỉ có 1 khách sạn 2 sao, 1 khách sạn 1 sao; đ ến n ăm 2004 cả tỉnh có 60 cơ sở lưu trú du l ịch đ ược phân loại, xếp hạng, với tổng số 1.500 phòng, trong đó, có 1050 phòng đạt tiêu chuẩn. Có 6 khách s ạn xếp hạng 2 sao, 6 khách sạn xếp hạng 1 sao. N ăm 2005 trên địa bàn của tỉnh đã có một khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao đ i vào hoạt đ ộng. * Kinh doanh l ữ hành . Các doanh nghi ệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh đ ã trú trọng đ ẩy mạnh công tác th ị t rường, xây dựng các ch ương tr ình du l ịch hấp dẫn nâng cao chất l ượng hiệu quả kinh doanh. Đến hết năm 2004 toàn tỉnh có 7 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành n ội đ ịa, 15 doanh nghiệp vận chuyển hành khách. Hoạt đ ộng vận chuyển khách du lịch không chỉ chuyển biến về số l ượng mà còn cả về chất l ượng ph ương ti ện phục vụ đ ược nâng cao hơn. Năm 2000 toàn t ỉnh có gần 200 xe kinh doanh vận chuyển
  19. khách du l ịch; đến năm 2004 đã có trên 500 xe đ ảm bảo chất l ượng, tiện lợi và an toàn cho khách tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này. CHương II: Thực trạng tiềm năng và kết quả hoạt động du lịch ở hải dương trong những năm vừa qua I/ thực trạng tiềm năng du lịch và quá trình khai thác sử dụng tiềm năng du lịch ở Hải Dương. 1.thực trạng tiềm năng du lịch ở Hải Dương. 1.1.vị trí địa lý. Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phía Tây giáp Hưng Yên, phía Đông giáp Hải Phòng, phía Nam giáp Thái Bình, phía Bắc giáp Bắc Ninh. Địa hình của tỉnh Hải Dương tương đối bằng phẳng. Giao thông thuận lợi có cả đường bộ, đương sắt và đường sông. Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế, chính trị,
  20. văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, nằm trên trục đường quốc lộ số 5, cách Hải Phòng 45 km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Tây. Phía Bắc của tỉnh có 20 km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài ra biển ( qua cảng Cái Lân - Quảng Ninh ). Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua Hải Dương là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc ra các cảng biển. Hơn nữa, Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ( Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh ), sẽ là thuận lợi cho Hải Dương tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với các tỉnh bạn, các thành phố lớn và xuất khẩu. Trong quy hoạch phát triển du lịch quốc gia, Hải Dương nằm trong không gian trung tâm du lịch Hà Nội và các vùng phụ cận thuộc vùng du lịch Bắc Bộ, với tiềm năng du lịch nổi trội như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch làng nghề độc đáo.....Mặt khác, Hải Dương gần vị trí trung tâm du lịch biển Hải Phòng, Hạ Long, có hệ thống đường bộ và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng. 1.2. Đặc điểm địa hình. Là tỉnh vừa có vùng đồng bằng vừa có đồi núi tạo cho Hải Dương có khả năng phát triển mạnh và đa dạng các sản phẩm nông, lâm nghiệp. Vùng đồi núi của tỉnh chiếm khoảng 10% diện tích đất tự nhiên, còn lại là vùng đồng bằng chiếm 90% diện tích đất. Địa hình của Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Phía Đông của tỉnh có một số vùng trũng, thường bị ảnh hưởng úng ngập vào mùa mưa. Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dầy đặc, bao gồm hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc và các trục Bắc Hưng Hải, có khả năng bù đắp phù sa cho đồng ruộng, đồng thời cũng là tuyến giao thông thuỷ, tạo điều kiện tốt cho việc giao lưu hàng hoá nội tỉnh cũng như với các tỉnh khác trong vùng. Tuy nhiên, sông ngòi có nhiều cũng gây khó khăn trong việc đầu tư đắp đê phòng chống lụt bão và ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất . 1.3. Đặc điểm khí hậu. Cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng Châu thổ sông Hồng, Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 – 1700 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23oC, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng. Lượng mưa phân bố

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản