intTypePromotion=3

Luận văn: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:108

0
404
lượt xem
97
download

Luận văn: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó đề xuất được một số phương hưóng và giải pháp cơ bản về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đang diễn ra nhanh chóng, đời sống kinh tế của con người đã và đang được cải thiện đáng kể nhưng chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức của sự phát triển. Đó là nguy cơ suy giảm từng ngày, từng giờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yêu tố căn bản của môi trường sống. Tài nguyên rừng - một trong những nguồn tài nguyên có khả năng tự tái tạo và có tính quyết định trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu, đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng cả về lượng và chất. Mỗi năm có khoảng 17 triệu ha rừng bị tàn phá và biến mất trên bề mặt trái đất. Tại Đông Nam á, độ che phủ của rừng chỉ còn dưới 20% vào năm 1982 và con số này đang giảm theo tỷ lệ 0,6% mỗi năm. Các nhà khoa học đã cảnh báo, mất rừng không chỉ đơn thuần là sự suy giảm một nguồn tài nguyên mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như quá trình sa mạc hoá; các thiên tai như lũ lụt, lở đất, hạn hán; và các tác hại về môi trường sinh thái như phá hoại sinh cảnh, tuyệt chủng các loài sinh vật, ô mhiễm nguồn nước… [30, tr. 437]. Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển cũng đang đứng trước những nguy cơ khủng hoảng về môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Cho đến nay, bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế, chúng ta không thể phủ nhận được vai trò cực kỳ quan trọng của rừng nước ta trong việc giữ đất, giữ nước, điều hoà không khí và bảo vệ môi trường sinh thái. Trước những biến đổi về môi trường trong thời gian qua, chúng ta càng hiểu được tầm quan trọng của rừng. Quản lý rừng bền vững đã được nhận thức như một chiến lược vì mục tiêu tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên. Tuy nhiên xuất phát từ những khó khăn về đất đai, tư liệu sản xuất, tập quán canh tác và cả nhận thức, hàng năm, hàng nghìn ha rừng vẫn bị chặt phá, các sản phẩm từ rừng vẫn bị khai thác một cách bất hợp pháp. Đáng nghiêm trọng là những vụ phá rừng tập thể nhằm chuyển đổi mục đích kinh doanh vì mục tiêu trước mắt, rồi những vụ buôn bán các
  3. sản vật từ rừng diễn ra với quy mô lớn, bất chấp pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Do nhu cầu phát triển kinh tế, nhiều diện tích rừng đã bị phá cho việc phát triển cơ sở hạ tầng như đường sá, trang trại hoặc đất nông nghiệp, các đô thị và khu công nghiệp,... Hơn nữa, do cơ chế chính sách và quan trọng hơn là do hệ thống pháp luật về quản lý rừng chưa đồng bộ, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của xã hội và chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý bảo vệ rừng (QLBVR),… đã dẫn đến những hoạt động phá hoại rừng ở nhiều nơi mà không thể kiểm soát. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống quản lý hành chính lâm nghiệp, đội ngũ cán bộ công chức hành chính lâm nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi về QLBVR trong giai đoạn hiện nay làm cho hệ thống pháp luật về QLBVR không phát huy được hiệu lực. Với thực tế trên, việc đánh giá thực trạng vai trò pháp luật trong quản lý nhà nước (QLNN) đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở nước ta là hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài: “Vai trũ của phỏp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” nhằm đóng góp một phần trong việc nâng cao hơn nữa vai trò của pháp luật trong quản lý và bảo vệ rừng ở nước ta hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Việt Nam đang bước vào sự chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… Vì vậy, vấn đề cơ chế quản lý và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước ngày càng được đề cao, với mục đích xây dựng, hướng tới xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân. Chính vì vậy, đã công trình nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực của đời sống xã hội và đã đề cập được phần nào những vấn đề lý luận và thực tiễn trong một số lĩnh vực nhất định. Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu, tác giả chia những công trình nghiên cứu khoa học ra làm 2 nhóm sau: Nhóm 1: Nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội và QLNN bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường
  4. Những công trình khoa học này chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng của pháp luật, của QLNN bằng pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội, trong thời kỳ đổi mới của Việt Nam hiện nay, như: Luận án tiến sĩ “Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay ” của Vũ Anh Tuấn, năm 2001; “Pháp luật của nhà nước trong cơ chế thị trường ở Việt nam hiện nay” của PGS.TS. Trần Ngọc Đường (1992); luận văn thạc sĩ luật học “Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở Việt nam hiện nay” của Quách Trung Thành, năm 2005; luận án tiến sĩ luật học “Tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với đất đai ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Cảnh Quý, năm 2003. Một số công trình nghiên cứu đã hệ thống hoá được cơ sở lý luận về pháp luật, bản chất của pháp luật, hoàn thiện pháp luật, về vấn đề pháp chế trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời đề xuất được các quan điểm và giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Dự án VIE/94/003 “Tăng cường năng lực pháp luật Việt Nam” do Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) tài trợ về kỹ thuật và tài chính, Bộ Tư pháp là chủ dự án, thời gian thực hiện từ 1994 đến 1998. Dự án tập trung nghiên cứu khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện hành, đề xuất kiến nghị và biện pháp bảo đảm khung pháp luật kinh tế tại “Báo cáo kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật kinh tế Việt Nam”. Đề tài KX 03.13 về “Luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật và quản lý kinh tế bằng pháp luật” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ T ư pháp chủ trì, năm 1994. Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề cơ bản để nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế và quản lý kinh tế bằng pháp luật, đề xuất quan điểm xây dựng pháp luật kinh tế của Việt nam. Nhóm 2: Những nghiên cứu về pháp luật và QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng
  5. Báo cáo tư vấn “Xem xét năng lực thừa hành pháp luật và xác định nhu cầu đào tạo của chủ thể quản lý khu rừng đặc dụng” của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh (2003). Báo cáo này đã đưa ra các kết quả điều tra về trình độ pháp lý của cán bộ nhà nước quản lý các khu rừng đặc dụng, đề xuất các biện pháp đào tạo nâng cao năng lực thừa hành pháp luật của chủ thể quản lý các khu rừng đặc dụng. Dự án hợp tác quốc tế do chính phủ Cộng hoà liên bang Đức tài trợ cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) về “Cải cách hành chính Lâm nghiệp” đang được thực hiện tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2006. Mục đích nghiên cứu của dự án này là hoàn thiện hệ thống các cơ quan QLNN về Lâm nghiệp. Luận văn thạc sĩ luật học “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2004. Tác giả này nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng. Luận văn thạc sĩ luật học “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở việt nam hiện nay” của Hà Công Tuấn, 2002. Tác giả nhấn mạnh trong các công cụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý bảo vệ rừng nói riêng thì công cụ pháp luật pháp luật đóng một vai trò rất quan trọng. Luận văn thạc sĩ luật học “Tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Vân, năm 2001. Đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 1991 và Nghị định 39/CP ngày 18 tháng 05 năm 1994 về hệ thống tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm lâm, cho thấy được vai trò nòng cốt của lực lượng Kiểm lâm trong việc bảo vệ rừng, đề xuất đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm hiện nay. Luận văn thạc sĩ luật học “Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Đình Long, năm 2000; “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt nam thực trang và phương hướng hoàn thiện” của Nguyễn Hải Âu,
  6. năm 2001. Ngoài ra còn nhiều bài viết trên các tạp chí, báo và các tham luận trong hội thảo của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này ở các góc độ tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, những công trình nói trên chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh hay chỉ đề cập tới những vấn đề có liên quan tới vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống cả mặt lý luận và thực tiễn vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở nước ta hiện nay. Có thể nói, đây là lần đầu tiên vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng được tiếp cận dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp quyền một cách toàn diện, có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó đề xuất được một số phương hưóng và giải pháp cơ bản về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. * Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. - Đánh giá được tình hình thực thi pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay. - Đề xuất được một số phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung cơ bản của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam (các quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan QLBVR; hoạt động của các cơ quan
  7. trong QLBVR; các quy định về xã hội hoá công tác bảo vệ rừng; các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ rừng). Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cở sở lý luận của luận văn: Luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về lý luận nhà nước và pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng. * Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể: Lịch sử cụ thể; phân tích tổng hợp; nghiên cứu hệ thống kết hợp phỏng vấn. 6. Những đóng góp mới về khoa học mới của luận văn - Luận văn luận giải và bổ sung về mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung và một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. - Đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng trong thời gian qua. - Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. 7. ý nghĩa của luận văn Luận văn sẽ đóng góp một số vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp và những người làm công tác nghiên cứu có thêm một phần thông tin lý luận về vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó đóng góp vào việc xây dựng, tổ
  8. chức thực hiện và bảo vệ pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường chuyên luật hoặc không chuyên luật, cho học viên đang học tập trong hệ thống các trường chính trị, cho những người quan tâm nghiên cứu về pháp Luật BV&PTR và vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 10 tiết.
  9. Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng 1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng 1.1.1. Rừng và quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 1.1.1.1. Rừng và các khái niệm liên quan đến rừng Theo quy định khoản 1 Điều 3 Luật BV&PTR năm 1991 (sửa đổi bổ sung năm 2004) được định nghĩa như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [11, tr. 63]. Như vậy, theo khái niệm trên, rừng bao gồm các yếu tố: Thực vật rừng tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc thực vật đặc trưng là những thực vật chính chiếm ưu thế; động vật rừng sống hoang dã trong rừng; vi sinh vật rừng; quần xã thực vật rừng phải có một diện tích đủ lớn để tạo ra hoàn cảnh rừng đặc trưng và những yếu tố tự nhiên, môi trường do rừng tạo ra khác với hoàn cảnh bên ngoài, độ khép tán của quần xã thực vật phải lớn hơn 0,1. Đất lâm nghiệp bao gồm: đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng được quy hoạch để gây trồng rừng; trong phạm vi QLNN về đất lâm nghiệp, thì đất lâm nghiệp chỉ giới hạn ở lớp đất mặt với độ sâu nhất định phù hợp với canh tác lâm nghiệp, không bao gồm những tài nguyên, khoáng sản và những vật thể nằm sâu trong lòng đất.
  10. Đến nay, chưa có một khái niệm đầy đủ nào về bảo vệ rừng, theo quan điểm của chúng tôi bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy, bảo vệ rừng bao gồm những hoạt động sau: - Tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật. - Thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại. - Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Theo khái niệm trên bảo vệ rừng bao gồm cả phát triển rừng. Theo quy định của khoản 3 Điều 3 Luật BV&PTR thì: Phát triển rừng là việc trồng rừng mới, trồng lại rừng sau khi khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và giá trị của rừng [11, tr. 63]. Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX thế giới đã quan tâm đến "phát triển bền vững". Khái niệm "phát triển bền vững" hay "khả năng bền vững" được đưa ra trong "chiến lược bảo tồn thế giới" nhằm đáp lại nhận thức và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự xuống cấp môi trường toàn cầu. Quan điểm chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau.
  11. "Phát triển bền vững" có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với việc "quản lý rừng bền vững". Một định nghĩa về quản lý rừng bền vững được tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTO) đưa ra như sau: Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm phẩm và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường vật chất xã hội [40, tr. 7]. Theo định nghĩa này thì quản lý rừng bền vững bao gồm việc bảo vệ, phát triển, khai thác và sử dụng sản phẩm của rừng một cách hợp lý, khai thác sử dụng để đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cho tương lai. Bảo vệ rừng là để cho rừng tiếp tục phát triển, ngược lại phát triển rừng cũng là cách để bảo vệ tài nguyên rừng. Do vậy, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời, quản lý rừng bền vững là một mục tiêu nằm trong chiến lược "phát triển bền vững" toàn cầu. Nhưng trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu khía cạnh bảo vệ rừng và vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng. 1.1.1.2. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng Trước khi nghiên cứu pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, đòi hỏi phải làm rõ khái niệm "quản lý" và "QLNN". Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, được các nhà tư tưởng, các nhà triết học và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu. Có người cho quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác. Có tác giả cho quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của các cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Cũng có tác giả lại cho rằng quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm [29, tr. 99]. Tác giả thống nhất với quan điểm đã được nhiều người công nhận do các nhà khoa học về điều khiển học đưa ra: Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay
  12. quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước [32, tr. 19]. Đây có thể coi là một khái niệm chung về quản lý, vì khái niệm này thích hợp với tất cả các trường hợp từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật cơ giới, một thiết bị tự động hóa đến hoạt động của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước. Trong hoạt động quản lý thì chủ thể quản lý là con người hay tổ chức con người. Chủ thể quản lý phải là đại diện có uy tín, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhấn định trong quản lý. Còn khách thể trong quản lý là trật tự - trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. Vậy khái quát lại: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng nên trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp độ: QLNN theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp); còn tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan QLNN. Hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện. Đó là các chủ thể quản lý. QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội. QLNN được thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Quyền lực đó được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước. Theo nghĩa hẹp, QLNN có những đặc trưng cơ bản sau: QLNN mang tính chất quyền lực nhà nước, có tính tổ chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước; QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu; QLNN mang tính tổ chức và kế hoạch; QLNN mang tính liên tục. QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng là một lĩnh vực trong QLNN nên nó có những đặc trưng chung vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng, có thể khái quát
  13. như sau: QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng là quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động QLNN nhằm đạt được yêu cầu, mục đích bảo vệ rừng nhà nước đã đặt ra. QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng có những đặc điểm sau: Một là, rừng - đối tượng quản lý nhà nước đặc thù. Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu. Rừng bao gồm các yếu tố thực vật, động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn cảnh rừng đặc trưng. Rừng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu người dân sống trong rừng và gần rừng. Diện tích rừng Quốc gia được chia thành 3 loại theo chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý gồm: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải tiến hành đồng bộ các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh của cộng đồng để đạt được mục tiêu và chương trình hành động bảo vệ rừng [60, tr.19]. Hai là, đặc trưng về chủ thể chịu sự quản lý. Chủ thể chịu sự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng là các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ rừng. Các chủ thể chịu sự quản lý rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau. Trong đó, các chủ rừng là chủ thể chịu sự quản lý chủ yếu bao gồm: các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, các nhân, các lâm trường, công ty lâm nghiệp, Ban quản lý các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trong nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rừng là chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước trực tiếp và chủ yếu nhất. Mỗi loại chủ thể nói trên có những đặc trưng riêng nên quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng: Một mặt Nhà nước phải chú trọng nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với những đối tượng chủ thể cụ thể. Trong quá trình tổ chức, xây dựng và thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải tôn trọng và phát huy
  14. giá trị tích cực của các phong tục tạp quán, luật tục, hương ước truyền thống. Mặt khác, phải coi trọng và tăng cường biện pháp giáo dục, thuyết phục và giải thích pháp luật, chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, kết hợp bảo vệ rừng với phát triển kinh tế – văn hoá nông thôn miền núi [60, tr.20]. Ba là, khách thể của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng là trật tự quản lý nhà nước về bảo vệ rừng. Trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về BV&PTR nhằm đạt được mục đích quản lý bảo vệ rừng của nhà nước. Bốn là, nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng là hoạt động đa dạng và phức tạp. Để điều khiển, chỉ đạo các hành vi xã hội trong lĩnh vực này phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với cac lĩnh vực khác nhằm huy động sức mạnh vật chất của cộng đồng để đạt được mục đích bảo vệ rừng của nhà nước trong quản lý nhà nước trong thời kỳ nhất định, quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng có những nội dung cụ thể sau: - Ban hành, tổ chức thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật về bảo vệ rừng; - Tổ chức điều tra, xác định ranh giới các loại rừng trên bản đồ và trên thực địa; - Thống kê, kiểm kê rừng theo định kỳ, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; - Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, tổ chức đăng ký sở hữu, quyền sử dụng rừng; - Tổ chức, quản lý các hoạt động bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng và kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng; - Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ bảo vệ rừngtiên tiến, đào tạo nguồn nhân lực cho bảo vệ rừng; hỗ trợ và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng; - Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng;
  15. - Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và kiểm soát buôn bán quốc tế các loài động thực vật rừng; - Bảo đảm các điều kiện vật chất và các cân đối khác cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng. 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng 1.1.2.1. Khái niệm Theo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hiện tượng lịch sử vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị. Cũng giống như bất kỳ một kiểu pháp luật nào trong lịch sử, pháp luật XHCN cũng có chức năng tổ chức, điều chỉnh nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội và chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội, giải quyết các tranh chấp và xung đột xã hội, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật, nó bao gồm toàn bộ những hoạt động của cơ quan QLBVR, người đại diện cho cơ quan QLBVR, những đối tượng tham gia vào quan hệ bảo vệ rừng: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT, Cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, Hạt Phúc kiểm lâm sản, những người tham gia QLBVR. Giữa các đối tượng này có rất nhiều mối quan hệ, như quan hệ giữa cơ quan QLBVR cấp trên và cấp dưới, giữa cán bộ kiểm lâm với người tham gia bảo vệ rừng, giữa người đại diện của cơ quan QLBVR với những người có hành vi vi phạm pháp luật. Theo Điều 2 của Nghị định số 23/2006/NĐ - CP quy định như sau: Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức; cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, hoặc đơn vị tương đương (sau đây gọi tắt là cộng đồng dân cư thôn) hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc bảo vệ rừng tại Việt Nam [19, tr. 1].
  16. Do vậy, đòi hỏi pháp luật phải quy định địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thể trong công tác bảo vệ rừng. Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng đòi hỏi nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định cụ thể những vấn đề: cơ cấu tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ rừng; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong bảo vệ rừng... Từ những phân tích trên có thể đi tới khái niệm pháp luật bảo vệ rừng như sau: Pháp luật bảo vệ rừng là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan QLNN, các tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ rừng và bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. 1.1.2.2. Đặc điểm Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nên nó mang những đặc trưng chung của pháp luật XHCN. Trước hết, pháp luật bảo vệ rừng có tính quy phạm, nó chứa đựng những quy tắc xử sự của con người, là khuôn mẫu được mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong công tác bảo vệ rừng; các quy tắc xử sự trong bảo vệ rừng do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn nên có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, là công cụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng; các quy phạm pháp luật trong bảo vệ rừng do cơ quan QLNN ban hành có tính thống nhất nội tại cao và có mối quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác. Là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật bảo vệ rừng cũng có đặc trưng riêng được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, pháp luật trong QLNN về lĩnh vực bảo vệ rừng do các c ơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó chủ yếu là các cơ quan QLNN về bảo vệ rừng ban hành.
  17. Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật nói chung nên các quy phạm pháp luật này ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ rừng. Các quy phạm pháp luật này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội: Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật hình sự do Quốc hội ban hành; Nhưng các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng khác chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành như Chính phủ, UBND các cấp, Bộ NN$PTNT để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực này. Thứ hai, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng. - Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và nghĩa vụ nhất định với một bên có nhiệm vụ phục tùng theo quy định của pháp luật hành chính. Từ khái niệm đó, chúng ta có thể hiểu chủ thể của quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền nhân danh nhà nước tham gia vào quan hệ QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng với các tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ bảo vệ rừng và những đối tượng vi phạm pháp luật QLBVR. Chủ thể quan hệ pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng cụ thể là: Một bên là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung các cấp và các cơ quan QLNN có thẩm quyền chung môn các cấp; cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý về bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật, một bên là những đối tượng tham gia bảo vệ rừng hoặc những người có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng. Theo quy định hiện hành của pháp luật nước ta hiện nay, các chủ thể này là: Chính phủ, UBND các cấp, Bộ NN&PTNT, các bộ ngành có liên quan; hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương, hệ thống cơ quan kiểm lâm; công chức của cơ quan này được giao nhiệm vụ thi hành công vụ trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng và các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, buôn làng, bản, ấp… tham gia bảo vệ rừng và những người có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng.
  18. - Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là các lợi ích trực tiếp thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính. Chúng có thể là lợi ích của Nhà nước hay quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, các lợi ích đó chỉ được bảo đảm nếu chúng phù hợp với các trật tự quản lý hành chính nhà nước. Khách thể quan hệ pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng là trật tự QLNN về bảo vệ rừng. Trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, ngoài ra nằm rải rác trong một số văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ tài nguyên, Luật Đất đai... nhằm đạt được mục đích QLBVR của Nhà nước. - Pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng quy định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bảo vệ rừng. Thứ ba, pháp luật bảo vệ rừng là công cụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước biểu hiện sức mạnh QLNN bằng khả năng can thiệp trực tiếp của Nhà nước thông qua công cụ kế hoạch tập trung mà bỏ quên các công cụ quản lý khác, còn trong thời kỳ đổi mới nhà nước mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các doanh nghiệp. Trong đó, mất rừng gây nên diễn thể suy thoái các kiểu thảm thực vật rừng, các loài chim thú rừng mất nơi cư trú, số lượng quần thể suy giảm nghiêm trọng, các loài cây có giá trị dưới tán rừng cũng mất theo, ảnh hưởng sâu sắc tới các điều kiện sinh thái và cảnh quan của nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là tại các cửa sông, ven biển, các hệ sinh thái rừng ngập mặn... Mất rừng, các vùng canh tác ven biển sẽ thường xuyên phải gánh chịu nạn cát bay; thủy triều sẽ làm xói lở các vùng đất ven biển; mưa và gió sẽ làm xói mòn đất mặt... Những năm gần đây những trận lũ lịch sử diễn ra ở các vùng Tây Bắc, vùng ven biển miền Trung và bão lớn ở Nam Bộ gây tác hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân các địa phương này là những minh chứng của lịch sử về hậu quả tai hại của sự mất rừng.
  19. Mất rừng còn kéo theo những mất mát vô giá mà hiện nay không thấy hết được. Đó là các hệ sinh thái tối ưu và các nguồn gen mà thiên nhiên đã hoàn thành qua hàng chục triệu năm phát triển và tiến hóa. Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trường sống nói chung và sự tồn vong của loài người nói riêng cho thấy việc bảo vệ rừng cần thiết hơn bao giờ hết. Đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các công cụ kế hoạch, chính sách, pháp luật và các công cụ quản lý khác. Trong hệ thống các công cụ và biện pháp nhà nước sử dụng để quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng thì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu được ở bất kỳ quốc gia nào. 1.1.2.3. Nội dung Pháp luật bảo vệ rừng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừn g, nhằm tạo ra cơ chế pháp lý để mở rộng dân chủ, bảo đảm cho cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước cùng tham gia vào công tác bảo vệ rừng; đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối với tài nguyên rừng. Chính vì mục đích đó pháp luật bảo vệ rừng có những nội dung cơ bản sau: Một là, pháp luật bảo vệ rừng quy định một hệ thống chính sách trong quản lý đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, biểu hiện cụ thể như sau: - Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh tế - xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ bản cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh, định cư ổ định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi. - Nhà nước đầu tư cho các hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống Quốc gia; bảo vệ các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm; nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nguồn đào tạo nhân lực cho việc bảo vệ rừng; xây dựng hệ thống quản lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; xây dựng lực lượng phòng cháy rừng chuyên ngành; đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị phương tiện phục vụ chũa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng. - Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo.
  20. Muốn bảo đảm chính sách trên, đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý vững chắc để thiết lập lâm phận quốc gia ổn định, thông qua: Đẩy mạnh rà soát, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm về quản lý, bảo vệ phát triển và sử dụng rừng; luật tục và phong tục, tập quán của các địa phương và các dân tộc ít người cần được xem xét, kết hợp với pháp luật nhà nước để xây dựng các quy ước bảo vệ rừng. Hai là, pháp luật bảo vệ rừng quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng được quy định trong Luật BV&PTR từ Điều 38 đến Điều 39, từ Điều 79 đến Điều 81 và được phân tích ở mục 1.2 của chương 1. Ba là, pháp luật bảo vệ rừng quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được Luật BV&PTR quy định từ Điều 59 đến Điều 78 và còn nằm rải rác ở một số văn bản pháp luật khác, nhưng nó dược biểu hiện cụ thể nhưng sau: Quyền chung của chủ rừng: - Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. - Được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn gioa đất, cho thuê đất. - Được sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp với quy chế quản lý rừng, trừ rừng đặc dụng. - Được hưởng thành quản lao động, kết quản đầu tư trên diện tích được giao, cho thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác. - Được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. - Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ rừng theo quy định của Luật BV&PTR và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản