intTypePromotion=1
ADSENSE

LUẬN VĂN:Vấn đề điều hành lãi suất

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:41

93
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn:vấn đề điều hành lãi suất', luận văn - báo cáo, kinh tế - thương mại phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN:Vấn đề điều hành lãi suất

  1. LUẬN VĂN: Vấn đề điều hành lãi suất
  2. Lời nói đầu Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều phạm trù kinh tế-tài chính,trong đó lãi suất tín dụng ngân hàng là một trong những phạm trù quan trọng. Nếu xác định lãi suất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Vì vậy, lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ vi mô của các NHTM. Một chính sách lãi suất có hiệu quả là chính sách được áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và đưọc NHNN điều chỉnh chặt chẽ, mềm dẻo theo từng thời kì cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn nhằm thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời bảo đảm được cho hoạt động của các NHTM thực sự có hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ giữa các chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng đối với các nguồn vốn trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kèm theo lãi.Nhờ có hoạt động tín dụng mà một bộ phận lớn vốn của xã hội dưới dạng hiện kim hoặc hiện vật được vận động từ nơi tạm thời dư thừa sang nơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.Đối với chủ thể “thừa “ vốn ,tín dụng mang đến cho họ cơ hội không những bảo toàn được vốn mà còn thu lãi.Đối với các chủ thể “thiếu “ vốn ,tín dụng giúp cho họ bổ sung vốn để đáp ứng các nhu cầu sản xuất,kinh doanh hoặc phục vụ cho đời sống sinh hoạt . Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu được cho hoạt động tín dụng ngân hàng chính là lãi suất tín dụng ngân hàng.Chính nhờ lãi suất tín dụng tác động đến lợi ích của các chủ thể ,mà các quan hệ tín dụng được xác lập và vận động.Nếu không có lãi suất tín dụng ,hoặc có nhưng không hợp lý thì nó sẽ làm triệt tiêu các quan hệ tín dụng ,làm giảm đi vai trò tích cực vốn có của tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế . Như vậy, xây dựng một chính sách lãi suất là cơ bản để giải quyết mối quan hệ này mang lại sự ổn định và hiệu quả kinh tế -xã hội. Sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần không nhỏ vào những thành quả chung của nền kinh tế. Cùng với quá trình từng
  3. bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, các nghiệp vụ ngân hàng đã không ngừng được đổi mới và phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta. Trong nhiệm vụ thực hiện xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, NHNN đã rất chú trọng đến việc đổi mới các công cụ điều tiết. Nhưng quan trọng nhất vẫn là công cụ quản lí lãi suất. Lãi suất được coi là công cụ nhạy cảm nhất, có ảnh hưởng trực tiếp lớn nhất. Thời gian qua, từ thực tế sử dụng công cụ lãi suất, chúng ta đã đúc rút được khá nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là việc chuyển sang cơ chế lãi suất thực dương. Tuy cách thức áp dụng vẫn còn mang nhiều tính chất áp đặt, trực tiếp. Chính vì vậy, vấn đề điều hành lãi suất cần phải được cải tiến để phù hợp hơn trong thời gian tới. Trong đề tài này , em xin trình bày những vấn đề xoay quanh chủ đề trên. Tuy nhiên , với sự hiểu biết về những kiến thức chuyên ngành còn hạn chế, đề án chắc chắn còn nhiều sai sót. Em mong nhận được sự nhận xét , góp ý của các thầy, các cô để hoàn thiện thêm vốn kiến thức của bản thân..
  4. Phần Một Lí luận chung về lãi suất I. Lãi suất - cấu trúc,Chức năng và vai trò của lãi suất 1. Định nghĩa lãi suất Có nhiều cách định nghĩa về lãi suất tín dụng .Lãi suất tín dụng như nhiều người nói là giá cả của tín dụng hay nói một cách khác là tỷ lệ phần trăm tính theo một thời gian xác định (ngày ,tuần ,tháng ,quí ,năm..) dùng làm căn cứ để tính toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể đi vay phải trả hoặc các chủ thể cho vay phải nhận được,nhằm điều hoà lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng . Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung cầu vốn quyết định. Khi cung lớn hơn cầu thì lãi suất giảm , khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng. Lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị trường với lãi suất đó bằng tổng cung về vốn được cung ứng trên thị trường đó ứng với lãi suất đó. Vậy thì lãi suất phải là bao nhiêu mới là hợp lý? Trong lý luận về tư bản cho vay C.Mác đã khẳng định rằng: “ Tiền không đẻ ra tiền ,tiền chỉ có thể đẻ ra tiền một khi tiền được đưa vào sử dụng dể sản xuất ,lưu thộng hàng hoá “,ông khẳng định lợi tức tín dụng (tiền lãi ) là một bộ phận của lợi nhuận mà người đi vay tạo ra trong sản xuất kinh doanh nhờ sử dụng vốn tín dụng ,và phân phối lại cho người cho vay dưới hình thức lợi tức.Từ lập luận này cho phép ta khẳng định giới hạn tối đa của lãi suất nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế ,còn giới hạn tối thiểu của lãi suất chính là chỉ số lạm phát ,bởi vì nó làm cho người gửi ít nhất cũng bảo toàn được vốn .Nói chung ,để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và
  5. mở rộng quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng phải được kiểm soát trong khung giới hạn sau đây: Tỷ lệ lạm phát
  6. như vậy vì :Do không phải chịu thuế thu nhập nên có lợi tức dự tính sau thuế cao hơn so với công cụ nợ phải chịu thuế thu nhập khiến cho nó được ưa chuộng hơn ,cầu về nó tăng so với cung làm lãi của nó giảm xuống thấp hơn so lãi suất của công cụ nợ phải chịu thuế thu nhập . Như vậy ,Cấu trúc rủi ro của lãi suất được giả thích bằng ba yêú tố : Rủi ro vỡ nợ ,tính lỏng và qui chế thuế thu nhập đối với công cụ nợ .Khi rủi ro vỡ nợ của một công cụ nợ tăng khoảng cách giữa lãi suất của nó với lãi suất của công cụ nợ không có vỡ nợ tăng lên (mức bù rủi ro tăng lên).Khi tính lỏng của một công cụ nợ được cải thiện ,lãi suất của nó giảm xuống.Nếu một công cụ nợ được hưởng một qui chế thu nhập thuận lợi thì lãi suất của nó sẽ thấp hơn lãi suất của những công cụ nợ so sánh không có những thuận lợi về thuế này. b.Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất -Khái niệm :Tính tương quan giữa những lãi suất của các công cụ nợ có cùng đặc tính rủi ro ,tính lỏng và thuế thu nhập nhưng có kỳ hạn thanh toán khác nhau gọi là cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. *Giả thuyết về dự tính: Giả thuyết hình thành xuất phát từ tiền đề cho rằng những người mua công cụ nợ không ưu tiên nhưngx công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán này hơn là những công cụ nợ có một hạn kỳ thanh toán khác mà họ ưu tiên cho những công cụ nợ nào có tỷ suất lợi tức cao hơn bất kể kỳ hạn của nó ngắn hạn hay dài . Giả thuyết về dự tính coi lãi suất dài hạn của một công cụ nợ bằng trung bình của những lãi suất ngắn hạn tương lai được trông đợi xuất hiện trong suốt thời gian tồn tại của công cụ nợ dài hạn đó. Nội dung của giả thuyết dự tính có thể cụ thể hoá bằng công thức sau: ie t+1 iet+2 + .. . . . . .+ ie t+n-1 it + + int = n Trong đó : int :Lãi suất hôm nay(tại thời điểm t) của công cụ n giai đoạn. it :Lãi suất hôm nay(tại thời điểm t) của một công cụ nợ loại1 giai đoạn
  7. i et+1 ,ie t+2 ,. . . ,ie t+n-1 :Lãi suất của một công cụ nợ loại 1các giai đoạn dự tính tiếp theo Giả thuyết dự tính giải thích về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất bao gồm : +Giải thích lãi suất của những công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán khác nhau thì khác nhau chín là do những lãi suất ngắn hạn được trông đợi là có những giá trị khác nhau trong tương lai. +Gải thích các đường lãi suất có hình dạng khác nhau là thể hiện cấu trúc có kỳ hạn của lãi suất Đường lãi suất dốc lên là do lãi suất ngắn hạn được trông đợi tăng lên trong tương lai. Đường lãi suất dốc xuống lá do trung bình của các lãi suất ngắn hạn tương lai được trông đợi sụt giảm . Đường lãi suất nằm ngang là do các lãi suất ngắn hạn không được trông đợicó sự thay đổi tính theo trung bình trong tương lai. +Giả thích vì sao những lãi suất của những công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán khác nhau diễn biễn theo nhau . -Ưu điểm của giả thuyết :Mang lại sự giải thích giản đơn về hình thái diễn biến của cấu trúc kỳ hạn của lãi suất . -Nhược điểm :Không giải thích được hiện tượng xảy ra trên thực tế là các lãi suất ngắn hạn có khả năng sụt giảm như khả năng tăng lên. *Lý thuyết thị trường phân cách : Lý thuyết này xuất phát từ tiền đè cho rằng lãi suất của những công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán khác nhau hoàn toàn không thể thay thế cho nhau.Theo lý thuyết này lãi suất cho một công cụ nợ lúc đó được xác định theo lượng cung và cầu đối với công cụ nợ hạn kỳ đó và không chịu tác dụng của lợi tức dự tính của những công cụ nợ có kỳ hạn khác.Lượng cung và cầu về các công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán khác nhau thì khác nhau ,cụ thể : Các đườnglãi suất dốc lên vì lượng cầu về những công cụ nợ ngắn hạn tương đối cao hơn so với lượng cầu về những công cụ nợ dài hạn .Công cụ nợ ngắn hạn có giá cao hơn và lãi suất thấp hơn công cụ dà hạn Các đường cong lãi suất dốc xuống là vì lượng cầu về công cụ nợ ngấn hạn là tương đối cao hơn .
  8. -Ưu điểm : Giải thích được tại sao đường lãi suất thường có xu hướng dốc lên. -Nhược điểm :Không giải thích được trường hợp xảy ra trong thực tiễn là những lãi suất của những công cụ nự khác nhau có diễn biến theo nhau. *Lý thuyết môi trường ưu tiên: Lý thuyết này xuất phát từ cả hai tiền đề của cả hai lý thuyết trên.Lý thuyết giải thích những công cụ nợ có kỳ hạn thanh toán khác nhau lại diễn biến theo nhau qua thời gian là do một sự tăng các lãi suất ngắn hạn chỉ ra rằng các lãi suất ngắn hạn ,tính trung bình ,sẽ cao hơn trong tương lai và các lãi suất dài hạn sẽ tăng theo chúng Lý thuyết này coi các lãi suất dài hạn là bằng trung bình của những lãi suất ngắn hạn tương lai được trông đợi xảy ra trong suốt thời gian tồn tại của một trái khoán dài hạn cộng với một mức bù hạn kỳ ,mức bù này phản ánh mức cung và cầu về những trái khoán có những kỳ hạn khác nhau.Lý thuyết này cho phép ta suy ra những dự tính của thị trường về những những diễn biến của những lãi suất ngắn hạn tương lai dựa trên đường lãi suất hoàn vốn. Một đường dốc mạnh cho biết rằng các lãi suất ngắn hạn được trong đợi trong tương lai tăng lên .Một đường dốc lên thoai thoải cho biết rằng các lãi suất ngắn hạn được trông đợi sẽ gữ nguyên không đổi .Một đường nằm ngang cho biết lãi suất được trông đợi sẽ giảm nhẹ .Một đường dốc xuống cho biết sự giảm sút nghiêm trọng của các lãi suất ngắn hạn được trông đợi trong tương lai . -Ưu điểm :Lý thuyết môi trường ưu tiên đã kết hợp các đặc điểm của các giả thuyết trước đó nên nó có một cách giải thích khá hoàn hảo các sự việc xảy ra trên thực tế về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất .nó là lý thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất trong việc giải thích cấu trúc có kỳ hạn của lãi suất.Mặt khác ,nó chỉ ra cho nhà đầu tư biết những dự đoán của thị trường về diễn biến lãi suất ngắn hạn trong tương lai chỉ bằng cách nhìn vào hướng dốc của các đường lãi suất hoàn vốn. 3.Chức năng a. Phân phối Trong chức năng này, các lãi suất giúp cho nền kinh tế phân bổ khoản tiết kiệm vào những cách sử dụng khác nhau. Đối với những người có tiền tiết kiệm thì lãi suất là tiền thưởng cho việc hạn chế tiêu dùng và chờ đợi tiêu dùng vào thời gian trong tương lai. Lãi suất tiết kiệm càng cao càng khuyến khích được nhiều người gửi tiền tiết kiệm.
  9. Đối với những người đi vay, lãi suất là cái giá phải trả cho số tiền vay để đầu tư hay tiêu dùng. Lãi suất cho vay càng cao, người ta vay mượn để đầu tư hay tiêu dùng càng ít. Trường hợp một gia đình vay tiền để mua nhà thì lãi suất tiền vay là lãi suất cầm cố. Những người vay tiền để kinh doanh, khi quyết định đầu tư bao nhiêu phải so sánh lãi suất phải trả cho khoản vay với số tiền kiếm được từ các dự án đầu tư. b. Kiểm soát Lãi suất có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ của chính phủ. Trong nền kinh tế hiện đại, chính sách tiền tệ của chính phủ sử dụng lãi suất như một công cụ quan trọng để tác động vào nền kinh tế, kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ. Khi mức cung ứng tiền tăng lên, nếu đem số tiền tạm thời thừa ra cho vay, đầu tư thì lãi suất sẽ hạ xuống. Khi lãi suất giảm, giá thành đầu tư giảm theo, các doanh nghiệp lại tăng đầu tư, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng tăng lên, lãi suất lại tăng lên. Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thông qua sự biến động của lãi suất, người ta có thể dự đoán được nền kinh tế đang phát triển hay đang suy thoái. Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh tế vì nó trực tiếp tác động đến đời sống hàng ngày của mỗi người cũng như sức khoẻ của nền kinh tế. Lãi suất tác động đến những quyết định cá nhân như chi tiêu hay để dành, mua nhà , mua chứng khoán hay gửi tiết kiệm ngân hàng. Lãi suất cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp hoặc gia đình như dùng vốn đầu tư vào nhà máy mới, mua thêm tư liệu sản xuất, đầu cơ chứng khoán hay gửi tiết kiệm ngân hàng. Mỗi mức lãi suất đều có tác động trực tiếp đến tiết kiệm, đầu tư, sản xuất, tiêu dùng, giá cả, tỷ giá hối đoái và lạm phát. Khi lãi suất ổn định, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư ổn định, nền kinh tế phát triển theo kế hoạch. Khi lãi suất tăng, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tăng, việc làm tăng, sản lượng tăng, thu nhập tăng. Tóm lại , lãi suất là một trong những vấn đề trung tâm của nền kinh tế vì nó tác động đến chi phí đầu tư, quyết định tổng mức đầu tư và tổng mức cầu tiền tệ. 4.Vai trò : Lãi suất đóng một vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế ,thể hiện:
  10. -Trong nền kinh tế có những chủ thể thừa vốn hoặc không đưa vốn vào kinh doanh ,khiến cho số vốn đó nằm im trong túi và trở thành “vốn chết “. Ngược lại ,lại có những chủ thể muốn đi vào kinh doanh nhưng không có vốn ,thiếu vốn .Thật là có lợi nếu như hai chủ thể đó trao đổi cho nhau .Vậy cơ sở nào để có thể tiến hành sự trao đổi ?Lãi suất chính là điểm gặp của những người tiết kiệm (thừa vốn ,có vốn nhàn rỗi ) với những nhà đầu tư (thiếu vốn ,cần vốn ).Lãi suất làm dung hoà lợi ích của các bên .Người tiết kiệm ,nếu đem tiền của mình cho người khác vay,họ sẽ nhận được một khoản lãi nhất định được tính theo lãi suất ngân hàng hoặc lãi suất do hai bên tự thoả thuận .Người đầu tư đem khoản tiền vay được đó đi vào kinh doanh ,biến số tiền đó thành vốn .Khi sản xuất kinh doanh phát triển ,làm ăn có lãi ,ngoài việc họ trả được số tiền vay ,họ còn thu được thêm lợi nhuận .Như vậy họ đã biết cách dùng tiền của người khác để tạo ra tiền cho mình . -Mặt khác ,vì là lãi suất đem lại lợi ích cho nhà tiết kiệm ,nên với mức lãi suất hợp lý sẽ khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế.Theo một mô thức logic ,tiết kiệm tăng sẽ khiến cho đầu tư cũng tăng và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển . -Một vai trò không thể thiếu là :lãi suất là một công cụ quan trọng để nhà nước có thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế .Thông qua lãi suất ,nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài khoá của mình .Đối với chính sách tiền tệ ,khi lãi suất tăng sẽ làm cho cung tiền giảm và ngược lại . Đối với chính sách tài khoá ,lãi suất cao sẽ tác động gián tiếp tới cung cầu của thị trường hàng hóa.Lãi suất tiền gửi tăng sẽ kéo theo sự tăng lãi suất cho vay.Sự tăng lãi suất sẽ đẩy giá bán của hàng hoá lên.Giả sử ban đầu nền kinh tế đang cân bằng (cung hàng hoá bằng cầu hàng hoá ),khi lãi suất tăng dẫn tới giá cả hàng hoá tăng sẽ làm cho cầu về hàng hoá đó giảm,nền kinh tế trở nên dư cung hàng hoá ,các nhà sản xuất phải thu hẹp sản lượng .Ngược lại ,lãi suất thấp sẽ dẫn tới giá bán hàng hoá giảm ,kích thích tiêu dùng , làm cho cầu về hàng hoá đó tăng .Cầu tăng ,trong khi cung không đổi sẽ dẫn tới tình trạng dư cầu hàng hoá .Để đáp ứng nhu cầu về hàng hoá của xã hội ,các nhà sản xuất có thể đẩy được giá bán lên hoặc tiếp tục mở rộng sản xuất ,tạo ra hàng hoá ngày càng đa dạng cho thị trường -Ngoài ra ,lãi suất còn có tác động rất lớn tới chế độ tỉ giá .Nếu lãi suất trên thế giới lớn hơn lãi suất trong nước thì nguồn vốn của tư bản nước ngoài đổ vào trong nước ,làm cho
  11. cung ngoại tệ tăng lên ,tỉ giá giảm .Ngược lại ,nếu lãi suất thế giới nhỏ hơn lãi suất trong nước sẽ dẫn tới hiện tượng nguồn vốn trong nước chảy ra nước ngoài ,làm cho cung ngoại tệ giảm ,tỉ giá tăng. Như vậy ,lãi suất là một công cụ không thể thiếu được trong bất kỳ nền kinh tế của nước nào . II. Nguyên tắc cơ bản hình thành lãi suất 1. Nguyên tắc - Nguyên tắc bảo toàn giá trị đồng tiền: đòi hỏi lãi suất ít nhất phải bằng tỷ lệ lạm phát. - Nguyên tắc bảo đảm thu nhập hợp lí cho người gửi tiền Lãi suất tiền gửi = Tỷ lệ lạm phát + Tỷ lệ nhất định - Nguyên tắc bảo đảm thu nhập hợp lí cho các tổ chức tín dụng Lãi suất cho vay = Lsuất tiền gửi + Chi phí + Thuế + Tỷ lệ nhất định - Nguyên tắc bảo đảm thu nhập hợp lí cho người vay vốn ngân hàng Tỷ lệ lạm phát < Lsuất tiền gửi < Lsuất cho vay
  12. mạnh và công bằng giữa các tổ chức tín dụng, xoá bỏ sự khác biệt về lãi suất giữa các khu vực. Thứ ba, chính sách lãi suất phải tạo điều kiện để giảm chi phí hoạt động tín dụng, tránh tình trạng biến tướng chi phí của các TCTD vào giá thành sản xuất của xã hội. ngoài ra, đối với các TCTD, chính sách lãi suất còn phải đảm bảo có sự chênh lệch lãi suất đủ để duy trì và phát triển hoạt ddộng kinh doanh. III. Sự phân biệt 1. Lãi suất và lợi tức Nhiều người nghĩ rằng lãi suất của một trái khoán cho họ biết đủ những gì cần thiết về việc họ đã khá lên như thế nào do sở hữu nó. Một người thu lợi như thế nào khi nắm giữ một trái khoán hay một chứng khoán bất kì khác qua một khoảng thời gian nhất định sẽ được lượng định một cách chính xác bằng lợi tức . Đối với một chứng khoán bất kì, tỷ suất lợi tức được định nghĩa là tiền trả cho chủ sở hữu nó cộng với sự thay đổi về giá trị của chứng khoán đó rồi chia cho giá mua. Lợi tức của một trái khoán không nhất thiết bằng lãi suất của nó. Tuy hiên, trong nhiều trường hợp, lợi tức và lãi suất có quan hệ chặt chẽ với nhau. 2. Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa Trong thời kì lạm phát, cần phân biệt giữa lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa. Lãi suất danh nghĩa là lãi suất bằng tiền trên các tài sản bằng tiền. Lãi suất thực tế là lãi suất tính theo giá trị thực tế của hàng hoá và dịch vụ. Nó được chỉnh lại theo những thay đổi về mức giá, phản ánh đúng chi phí thật của việc vay tiền. Đây là một cách tính toán chính xác cho những người muốn đi vay hoặc muốn cho vay. Lãi suất thực tế bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi mức lạm phát. Theo Fisher, lạm phát tăng lên 1% sẽ kéo lãi suất danh nghĩa tăngthêm 1%. Lãi suất danh nghĩa thường tăng ngang với mức lạm phát để giữ nguyên lãi suất thực tế. Mức chênh lệch giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa càng lớn có nghĩa là lạm phát càng cao. Lãi suất danh nghĩa tăng hay giảm liên quan mật thiết tới lạm phát dự kiến.
  13. Lãi suất danh nghĩa không phải lúc nào cũng cho biết lãi suất thực tế là dương. Trường hợp này đã từng có ở Việt Nam trong những năm 80, khi trong nhiều năm liền lãi suất tiền gửi tiết kiệm luôn thấp hơn mức lạm phát. Iv.Phân loại lãi suất: 1.Căn cứ vào thời hạn tín dụng : Lãi suất được chia thành 3 loại chính sau: Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn . Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn. Lãi suất tín dụng áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn . 2.Căn cứ vào các loại hình tín dụng : a.Lãi suất tín dụng thương mại (TDTM): Mệnh giá thương phiếu-Giá cả hàng hoá trả ngay Lãi suất TDTM= Mệnh giá thương phiếu b.Lãi suất tín dụng ngân hàng: Lãi suất tiền gửi :là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi.Mức lãi suất tiền gửi phụ thuộc vào thời hạn ,qui mô tiền gửi . Lãi suất tiền vay :là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng. Lãi suất chiết khấu:áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc các chứng từ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.Nó được tính bằng tỉ lệ % trên mệnh giá của chứng từ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng .Như vậy nếu nếu xét trong quan hệ giữa ngân hàng với người vay chiết khấu,lãi suất chiết khấu được trả trước cho ngân hàng chứ không trả sau như lãi suất thông thường. Mệnh giá thương phiếu-giá bán thương phiếu Lãi suất chiết khấu= Mệnh giá thương phiếu
  14. Phần hai Thực trạng của việc sử dụng lãi suất tín dụng ở Việt Nam I. Nhận định khái quát về quá trình đổi mới chính sách lãi suất ở việt nam 1. Giai đoạn 1988-1992: Thời kì lãi suất âm Nghị định 53/HĐBT ngày 26//3/88 và hai Pháp lệnh về Ngân hàng (1/10/90) tách hệ thống ngân hàng 1 cấp thành 2 cấp, từng bước cuyển hoạt động ngân hàng sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, do lạm phát còn ở mức cao nên chính sách lãi suất ch ưa thực hiện được lãi suất dương mà vẫn theo lãi suất âm. NHNN qui định cụ thể các loại lãi suất tiền gửi và cho vay để các NHTM thực hiện. Lãi suất âm có đặc điểm: - Lãĩ suất tiền gửi thấp hơn lạm phát - Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn lạm phát. 2. Giai đoạn cuối năm 1992 :chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dương: Khi lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi tương đối thấp, có điều kiện thực hiện chính sách lãi suất dương tức là lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động và lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lạm phát. Tháng 10/92, NHNN bắt đầu từng bước thực hiện lãi suất dương và đến tháng 3/93 thì thực hiệ lãi suất dương hoàn toàn, nhưng NHNN vẫn qui định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể có sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế: cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lãi suất cho vay ngắn hạn còn cao hơn lãi suất cho vay trung, dài hạn, lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi các tổ chức kinh tế. 3. Giai đoạn vừa qui định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể , vừa cho vay theo lãi suất thoả thuận: Từ 1/10/93, NHNN qui định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể, vừa cho phép các tổ chức tín dụng cho vay theo lãi suất thoả thuận vượt mức lãi suất cho vay cụ thể ( Quyết định 184/QĐ-NH1 ngày 28/9/93)” - Lãi suất giai đoạn này có hai loại: lãi suất cho vay doanh nghiệp nhà nước và lãi suất cho vay kinh tế ngoài quốc doanh.
  15. - Lãi suất cho vay theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng: nếu vốn huy động tiết kiệm và tiền gửi theo các mức lãi suất qui định mà không đủ để cho vay thì các TCTD được phép phát hành kì phiếu với lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kì hạn tối đa là 0,2%/tháng và cho vay với lãi suất cao hơn trên cơ sở thoả thuận với khách hàng theo phương châm: ngân hàng kinh doanh được và người vay chấp nhận được. Cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận có người gọi đó là đã “ tự do hoá lãi suất một nửa”. Từ cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận, các NHTM đã cho vay với tỷ lệ khá cao: từ 30-60% dư nợ và đối tượng chịu lãi suất thoả thuận chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ nông dân . Điều đó cũng nói lên một thực tế khách quan là lãi suất đã theo nhu cầu vốn ở nông thôn lớn hơn và chi phí hoạt động ngân hàng ở nông thôn cao hơn. Thời kì này, các ngân hàng đạt mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động cao, phổ biến là từ 0,7%-1%/tháng, cho nên, hầu hết các NHTM đều có mức lợi nhuận cao, trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính. Từ thực trạng này , Quốc hội khoá IX, kì họp thứ 8 tháng 10/95 đã thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh htu hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng thời yêu cầu các NHTM phải tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay. Đồng thời khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động 0,35%/tháng. Đó là lí do để chuyển sang một giai đoạn thực hiện chính sách trần lãi suất. 4. Từ 1/1/96 là giai đoạn thực hiện chính sách trần lãi suất Trên cơ sở Nghị quyết của quốc hội về bỏ thuế doanh thu hoạt động tín dụng , yêu cầu ngân hàng giảm chi phí để hạ lãi suất cho vay và khống chế chênh lệch bình quân giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động ở mức 0.35%/tháng, nên NHNN đã quyết định điều hành chính sách lãi suất theo trần lãi suất nhằm khống chế lãi suất cho vay tối đa và các NHTM chỉ được hưởng chênh lệch 0,35%/tháng bao gồm cả phí, thuế, lợi nhuận thay cho việc qui định các mức lãi suất cụ thể và xoá bỏ lãi suất cho vay theo thoẻ thuận . Chính sách điều hành lãi suất vừa qui định trần lãi suất vừa khống chế chênh lệch nên có quan điểm cho rằng thực chất của nó là vừa qui định trần, vừa qui định sàn lãi suất.
  16. Trần lãi suất cho vay được qui định nhiều mức trần khác nhau, xuất phát từ đặc điểm có nhiều loại hình thức tổ chức tín dụng hoạt động trên các địa bàn khác nhau, cung cầu vốn khác nhau, qui mô khác nhau và do đó chi phí hoạt động khác nhau, nên qui định nhiều mức trần cho vay khác nhau. Lúc đầu có 4 loại : - Trần lãi suất cho vay ngắn hạn ( áp dụng cho khu vực thành thị) - Trần lãi suất cho vay trung , dài hạn - Trần lãi suất áp dụng cho các tổ chức tín dụng cho vay trên địa bàn nông thôn - Trần lãi suất cho vay của quĩ tín dụng nhân dân Giữa các trần lãi suất này lúc đầu có mức chênh lệch với nhau khá xa nhưng sau mỗi lần điều chỉnh khoảng cách này đã rút ngắn lại và chỉ còn chênh lệch ít. Một thực tế khách quan của cơ chế thị trường là nơi có chi phí cao , cho vay món nhỏ chi phí lớn, rủi ro cao, thiếu vốn là khu vực nông thôn có nhu cầu vốn lớn nhưng huy động tại chỗ được rất ít và chi phí hoạt động ngân hàng ở đây cao, nên NHNN qui định trần lãi suất cho vay nông thôn cao hơn thành thị nhằm thu hút vốn từ thành thị về nông thôn cho vay bằng công cụ lãi suất và bảo đảm cho các NHTM ở nông thôn bù đắp được chi phí. Nhưng nhiều quan diểm cho rằng lãi suất cho vay nông thôn phải thấp hơn hoặc bằng thành thị mới ưu đãi nông nghiệp, mới khuyến khích nông nghiệp phát triển. Cho nên, với quyết định số 39/1998/QĐ/NHNN1 của Thống đốc NHNN từ 21/1/98 đã xoá bỏ sự cách biệt về lãi suất cho vay giữa thành thị và nông thôn, rút từ 4 mức trần cuống còn 3, khoảng cách giữa chúng cũng không xa nhau như trước và không qui định chênh lệch 0,35%/tháng. Qui định này có ưu việt là giảm sự chênh lệch lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh ở thành thị với mức lãi suất cho hộ nông dân vay nhưng ở nông thôn lại thiếu vốn và không bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nhất là ở khu vực nông thôn. Đối với lãi suất cho vay ngoại tệ, NHNN cũng khống chế trần lãi suất cho vay và khi có sự biến động tỷ giá, đã phối hợp chặt chẽ giữa công cụ lãi suất và tỷ giá như khống chế trần lãi suất tiền gửi các doanh nghiệp để tăng cường quản lí ngoại tệ và chống hiện tượng đôla hoá. 5.Nhìn lại diễn biến lãi suất tín dụng năm 1999 vừa qua: Năm 1999 ,NHNN tiếp tục thực hiện việc quản lý và điều hành chính sách lãi suất tín dụng theo cơ chế lãi suất trần và lãi suất tái cấp vốn đối với các TCTD ;trong khôn khổ
  17. trần lãi suất cho vay ,TCTD được phép qui định các mức lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi cụ thể phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn tín dụng từng giai đoạn ,nhằm mở rộng tín dụng ,góp phần quan trọng vào việc kích thích tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua. Trần lãi suất trong năm 1999 được NHNN điều chỉnh liên tục ,phù hợp với chỉ số lạm phát ,quan hệ cung cầu vốn tín dụng tại từng thời điểm và góp phần thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ thông qua cơ chế nới lỏng lãi suất tín dụng.Có thể nói đây là năm NHNN điều chỉnh lãi suất tín dụng nhiều nhất từ trước đến nay ,lãi suất năm 1999 luôn co sxu hướng giảm sau các lần điều chỉnh ,cụ thể như sau : Ngày 17/1/1999 ,Thống đốc NHNN có chỉ thị 01/1999/Ct-NHNN1 điều chỉnh giảm lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của các NHTM quốc doanh đối với khách hàng ở khu vực thành thị từ 1.2-1.25% /tháng xuống 1.1-1.15%/tháng;các TCTD khác vẫn thực hiẹntheo mức trần 1.2%/tháng đối với cho vay ngắn hạn và 1.25%/tháng đối với cho vay trun gvà dài hạn. Ngày29/05/1999 do nền kinh tế đang có dấu hiệu thiểu phát ,tăng trưởng kinh tế chậm lại ,sức mua giảm sút .,Thống đốc NHNN đã có Quyết định 184/199/QĐ-NHNN1 về việc điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam từ 1.2-1.25%/tháng xuống mức 1.15%/tháng áp dụng chung cho các TCTD cho vay trên địa bàn thành thị và nông thôn .Cùng với việc giảm trần lãi suất cho vay ,NHNN còn giảm lãi suất tái cấp vốn của NH từ 1%/tháng và lãi suất tái cấp vốn về cho vay chỉ định thu mua tạm trữ xuất khẩu 0.9%/tháng xuống thống nhất một mức là 0.85%/tháng.Như vậy ,từ tháng 6/1999 từ chỗ nhiều trần lãi suất ngắn ,trung ,dài hạn ,trần lãi suất cho vay khu vực thành thị và nông thôn khác nhau đã thống nhất một trân fáp dụng chung cho các TCTD ,không phân biệt quốc doanh hay cổ phần . Tháng 9/1999,Thống đốc NHNN có chỉ thị 05/1999/CT-NHNN1 điều chỉnh giảm lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của các NHTM qốc doanh đối với khách hàng ở khu vực thành thị từ 1.05%/tháng xuống 0.95%/tháng Đây là một bước tiến chính trong chính sách lãi suất ,tạo thế chủ động hơn cho các TCTD trong việc ấn định lãi suất tiền gửi và cho vay phù hợp với điêù kiện về chi phí ,cung cầu với trên từng vùng khác nhau và mức độ rủi ro của từng khoản vay ,tạo tiền đề cho việc áp dụng cơ chế điều hành chính sách lãi suất của NHNN theo lãi suất cơ bản
  18. II. Tình hình điều hành lãi suất 1. Những sai lầm cũ Trong thời kì quan liêu trì trệ trước năm 1988, lãi suất của Việt Nam không theo qui luật lãi suất thực nên lãi suất âm do NHNN áp đặt là một trong những nguyên nhân gây ra và kéo dài lạm phất phi mã. Đến tháng 3.89, qui luật lãi suất thực mới được công nhận nhưng tư tưởng lãi suất ngân hàng phải áp sát lãi suất thị trường đã dẫn đến lãi suất tiết kiệm cực kì cao 12%/tháng mặc dù tỷ lệ lậm phát nửa cuối năm 1988 chỉ còn 7%/tháng , tháng 5/89 còn 0,87%. Lãi suất cực kì cao vẫn còn ảnh hưởng tâm lí đến ngày nay, người gửi tiền đòi hỏi lãi suất cao. Năm 1994, NHNN công bố chủ trương hạ lãi suất trong cuộc họp Giám đốc đầu năm. Nhưng chủ trương này không được thực hiện với lí do tỷ lệ lạm phát bị đẩy cao lên gấp đôi năm 1993. Trong 3 năm chậm hạ lãi suất, tiền gửi các ngân hàng chỉ sử dụng hết một nửa. Các doanh nghiệp đã è cổ ra gánh một lãi suất cao để trả cho những người nước ngoài đem ngoại tệ vào đổi lấy VND để gửi tiết kiệm với lãi suất cao gấp 4-5 lần lãi suất thế giới trong hàng loạt sổ tiết kiệm hàng tỷ đồng một sổ. Vì vậy, khi dồn dập hạ 3 lần lãi suất trong năm 1996, số dư nguồn vốn tiền gửi đã giảm đột ngột vào quí 4 năm đó, chuyển các NHTM từ vị thế thừa vốn sang thiếu vốn. Cộng với cái vô lí là bắt các NHTM phải gánh chịu số lỗ do thực hiện chính sách hạ lãi suất, và áp đặt chênh lệch lãi suất 0,35%, các NHTM và nhất là các ngân hàng cổ phần đã bị giảm lợi nhuận nặng nề. Tài chính vẫn duy trì mức thuế lợi tức 45% và cho rằng tỷ lệ đó vẫn phù hợp, cộng với việc tính thuế không cho ghi các khoản chi phí trích trước đã dồn các ngân hàng vào tình trạng hầu như không tích luỹ được vốn. Việc tăng vốn điều lệ vì vậy hầu như không thực hiệ được. Các NHTM đã yếu và để nợ quán hạn, nợ xấu tăng cao lại bị suy yếu thêm vì những chính sách dồn các NHTM vào chỗ khong duy trì được tỷ suất lợi nhuận bình quân. Năm 1997, lãi suất cho vay trần lại được hạ xuống còn 1% để kích thích kinh tế phát triển, nhưng các ngân hàng cổ phần không tán thành vì các nước láng giềng phải nâng lãi suất tiền gửi lên để chống làn sóng rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng để mua USD.Để phòng ngừa cơn bão tiền tệ có thể lướt qua, các ngân hàng trong nước cũng phải
  19. giữ lãi suất gần như cũ, đến mức lãi suất tiền gửi có kì hạn chỉ còn chênh với lãi suất cho vay từ 0,05% đến 0,1% ggây lỗ về tín dụng.. Cộng thêm vào đó, tin tức các vụ Epco, Minh Phụng làm cho một số người gửi tiền đổ xô vào rút tiền gửi ở các ngân hàng mà họ nghi là có cho 2 công ty này vay. Các ngân hàng này bị một phen hú vía phải vay cao , vay cấu bên ngoài để đối phó kịp thời và khi đã giải thích làm dịu cơn sốt rút tiền thì đã phaỉ tăng chi phí đến mức tỷ suất lợi nhuận giảm hẳn. NHNN đã không có loại tín dụng điều chỉnh như ở Mỹ để ứng phó cho vay tiếp quĩ kịp thời vào nhãng lúc khó khăn như vậy lại thờ ơ với tình trạng phải giảm mạnh lợi nhuận nên các NHTM đã phản ứng khá mạnh. Vì vậy, đầu năm 1998, NHNN đã phải nâng lãi suất trần lên 1,2%, làm cho chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay có được cải thiện hơn nhưng vẫn còn quá thấp không đủ đảm bảo tỷ suất lợi nhuận ngành Ngân hàng xấp xỉ lợi nhuận bình quân và không hấp dẫn người mua cổ phiếu ngân hàng. Một ngân hàng quốc doanh nâng ngầm lãi suất bằng cách trả lãi trước, lên đến 1,167% và 1,357% sát nút và vượt lãi suất trần cho vay trong một đợt huy động vốn đột xuất đầu năm 1998 càng làm cho cuộc chạy đua nâng lãi suất tiền gửi lên đến mức nguy hiểm. 2. Đặc điểm của thị trường tín dụng Việt Nam Nước ta đổi mới xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu khi kinh tế thị trường mới thoát ra khỏi mức sản xuất của chế độ phong kiến. Vì vậy, thị trường tín dụng vẫn bao hàm cả thị trường cho vay nặng lãi ở vùng nông thôn rộng lớn và ngay cả ở các chợ ở thành phố. Lãi suất cho vay ở các chợ thành phố là 3%-4%, lãi suất tiền gửi là 1,5- 2%. ở nông thôn, lãi suất thị trường cũng là 3-4%. Vì vậy, nông dân rất mừng khi được vay với lãi suất “sé rào” tới 3-3,3% năm 1996 của các ngân hàng nông thôn. Tỷ lệ người gửi tiền ngân hàng ở nước ta , năm 1994, được một tài liệu nước ngoài ước tính chỉ có 6% dân số. Đặc biệt ở nông thôn miền Nam, người nông dân có thói quen mua vàng cất trữ. Miền Bắc đã có phongtrào gửi tiết kiệm khá cao ở nông thôn hồi kháng chiến chống Mỹ với các hợp tác xã tín dụng xã. Nhưng phong trào này đã tan vỡ vì lãi suất âm trong thời kì lạm phát phi mã và chưa hồi phục. Tình hình này tạo ra đặc điểm: thị trường tín dụng ở nước ta không đồng nhất và tự nhiên tồn tại những lãi suất khác biệt khá xa ở các vùng khác nhau, do cung cầu tín dụng khác nhau. Nó đã dẫn tới tình trạng có lúc lãi suất tiền gửi của một vài ngân hàng ở thành phố cao hơn cả lãi suất cho vay
  20. của các ngân hàng khác gây ra tình trạng phải đồng loạt nâng lãi suất để tránh bị hút mất tiền gửi. Nước ta mới có từng mảnh thị trường tài chính và tiền tệ như thị trường tín phiếu kho bạc hoạt động không thường xuyên và cung cấp không đủ lượng tín phiếu cho thị trường liên ngân hàng qua những đấu thầu quá ít ỏi. Thị trường liên ngân hàng đã có từ lâu nhưng hầu như không hoạt động vì các ngân hàng ít vay mượn lẫn nhau hoặc vay mượn trực tiếp qua bảo đảm bằng tín phiếu kho bạc . Đến khi lượng tín phiếu kho bạc cạn dần do không phát hành thêm thì hầu như thị trường liên ngân hàng không còn hoạt động. NHNN sử dụng vốn phát hành qua tín dụng bằng cách cung ứng nguồn vốn trực tiếp cho các ngân hàng quốc doanh để thực hiện những loại cho vay ưu đãi như cho vay mua gạo xuất khẩu. Đó là trở ngại rất lớn của việc hình thnàh lãi suất thị trường có sự chỉ đạo của lãi suất cơ bản. Thị trường chứng khoán sắp hình thành thí điểm ở Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tiền tệ diễn ra trên các châu lục và những đòi hỏi phải cải cách thị trường tài chính thế giới khiến ta phải cảnh giác và thận trọng . Nhưng suy từ hoạt động của thị trường chứng khoán các nước, có thể hình dung ra hai hướng mua bán chứng khoán sẽ xảy ra khi khai trương 2 trung tâm giao dịch chứng khoán: - Hướng thứ nhất là việc cạnh tranh mua những cổ phiếu có cổ tức cao hơn lãi suất tiết kiệm. Người mua nhiều, người bán ít ( vì muốn giữ lấy để hưởng cổ tức cao) sẽ đẩy giá cổ phiếu này lên cao hơn mức bình thường. - Hướng thứ hai là bán tống tháo những cổ phiếu có cổ tức thấp hơn lãi suất tiết kiệm. Thị giá cổ phiếu hạ thấp quá có thể gây đổ vữ ngân hàng. Như vậy sẽ lập tức hình thành lãi suất tự phát của thị trường tiền tệ mà ảnh hưởng của nó tới lãi suất tín dụng sẽ không nhỏ. 3. Những mặt được cơ bản của chính sách lãi suất trần Điều hành lãi suất theo trần là NHNN chỉ quản lí lãi suất cho vay tối đa, dần từng bước tự do hoá lãi suất theo định hướng của Nghị quyết Tw 4. Trong phạm vi trần lãi suất đã qui định, các TCTD được tự do ấn định các mức lãi suất cho vay và tiền gửi cụ thể một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm hoạt động, tình hình cung cầu vốn , chính
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2