
MÃ VÀ MÃ VĂN HÓA
Nguyễn Thị Bích Hà
PGS. TS. Khoa Việt Nam học,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Mã và mã văn hoá là những khái niệm nằm trong lĩnh vực rộng hơn là
môi trường văn hoá. Khi tìm hiểu vấn đề mã và mã văn hoá chúng ta không
thể không liên hệ tới khái niệm văn hoá. Tuy nhiên, văn hoá là một khái niệm
rộng, nó không phải một cái gì cụ thể, không có hình khối, không thể sờ mó...,
nó có mặt ở mọi nơi và có thể cảm nhận được không mấy khó khăn. Bởi văn
hoá chính là khuynh hướng lựa chọn, ứng xử của con người trong quá trình
sống.
Nó được hình thành trong lịch sử, dưới tác động của môi trường tự nhiên
(điều kiện địa lí, địa hình), môi trường xã hội (điều kiện lịch sử, điều kiện sống, tổ
chức xã hội,...) mà tạo thành. Vì vậy văn hoá mang tính ổn định và tính lịch sử,
làm thành một truyền thống riêng, đặc điểm riêng là cái mà người ta dễ nhận ra, dễ
so sánh khi tiếp xúc và giao lưu với những nền văn hoá khác.
Càng ngày người ta càng quan tâm tìm hiểu vấn đề văn hoá thông qua việc
nghiên cứu bản chất văn hoá, giao lưu văn hoá, đối thoại văn hoá, biểu tượng văn
hoá... Hiện nay, trên thế giới có đến gần 500 định nghĩa khác nhau về khái niệm
này. ở Việt Nam, nửa cuối những năm 80 và đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ
XX các nhà văn hoá đã rất chú ý đến việc xác định khái niệm và nội hàm văn hoá
(Đoàn Văn Chúc, Chu Xuân Diên, Nguyễn Đăng Duy, Phan Ngọc, Trần Ngọc
Thêm, Phạm Thái Việt, Trần Quốc Vượng,...)1. Tuy nhiên, từ những góc độ quan

tâm khác nhau mà khái niệm văn hoá mỗi người đưa ra vừa có những tương đồng
vừa có đôi khía cạnh khác biệt. Theo chúng tôi, Văn hoá là phức thể các giá trị vật
chất, tinh thần do con người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá
trình lịch sử dài lâu mà tạo nên. Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc của cộng
đồng.
Như vậy, văn hoá là các giá trị và tổng hoà của các giá trị do con người tạo
ra. Khi con người tác động đến tự nhiên, họ tạo ra các giá trị vật chất như: ăn, mặc,
ở... Khi con người tác động đến các yếu tố xã hội, họ tạo ra các giá trị tinh thần
như: tôn giáo, đạo đức, triết học, phong tục tập quán... Khi con người tác động đến
chính con người (theo các chuẩn mực xã hội), họ tạo nên các giá trị như: Chân
(thật) – giá trị nhân bản; Thiện (tốt) – giá trị nhân đạo; Mĩ (đẹp) – giá trị nhân văn.
Văn hoá là những giá trị, giá trị đó do con người tạo ra, vì vậy các loài động
vật khác dù có cao cấp đến đâu cũng chỉ hành động theo bản năng sinh tồn chứ
không sáng tạo văn hoá. Khi con người tác động vào tự nhiên, họ tạo ra thiên
nhiên thứ hai, cái thiên nhiên không còn hoang sơ, thô mộc mà đã là thiên nhiên
được gọt tỉa, uốn nắn theo những mục đích mà con người đặt ra từ trước khi tác
động vào nó. Thiên nhiên đó mang tính ý thức. Cây vốn tồn tại trong tự nhiên,
nhưng khi con người mang cây về trồng, họ đã tính toán trước xem cái cây ấy nên
trồng ở đâu, để làm gì, trồng như thế nào... đó là kết quả của tư duy, có tính mục
đích. Đó là sản phẩm văn hoá. Khi con người sống trong xã hội, họ tác động đến
các hoạt động xã hội, cải tạo xã hội, làm cho nó vận động và phát triển theo mục
đích tác động của mình. Vì vậy, xã hội phức tạp và về cơ bản có các hình thái khác
nhau từ thấp lên cao. Chỉ có con người với tư duy trừu tượng mới hình dung ra mô
hình xã hội, cải tạo và phát triển xã hội theo những hình thái khác nhau như vậy.
Văn hoá còn là kết quả của sự vận động, sáng tạo của con người theo quy
luật của cái đẹp. Như vậy, không phải tất cả mọi sự biến đổi do con người tạo ra
đều là sản phẩm văn hoá, đều mang đặc trưng văn hoá. Ngay khi một sản phẩm

được sáng tạo, theo nghĩa hẹp, nó chưa phải là văn hoá bởi nó chưa qua thử thách,
chưa được chọn lựa và chấp nhận như một giá trị. Vì vậy bên cạnh khái niệm văn
hoá, chúng ta mới có khái niệm phi văn hoá, thiếu văn hoá. Xu hướng tiếp nhận
của con người bao giờ cũng hướng tới cái đẹp, cái hoàn thiện. Vì vậy quy luật của
văn hoá luôn là sự sáng tạo mang tính nghệ thuật, điều đó phải được lựa chọn và
thẩm định qua thời gian. Và sau sự chọn lựa một cách tự nhiên ấy, cái gì còn lại
luôn thể hiện tính văn hoá, luôn là cái đẹp mang đặc điểm quan niệm mỗi thời đại.
Khi ta nói “ứng xử có văn hoá”, có nghĩa đã bao hàm cái đẹp trong lối ứng xử đó.
Chúng ta đều biết, trà là thứ đồ uống được cả thế giới ưa chuộng, cả thế giới uống
nước trà, nhưng coi uống trà như một phương tiện giải khát sẽ khác với uống trà
như sự thưởng thức; một bên là nhu cầu tồn tại, còn bên kia là nhu cầu hưởng thụ;
một bên giúp người ta sinh tồn, còn bên kia giúp người ta thành nghệ sĩ. Thưởng
thức nước trà chính là một nhu cầu văn hoá.
Do khái niệm và nội hàm văn hoá rất rộng nên không ai có thể nói rằng mình
đã tìm hiểu đến tận cùng một nền văn hoá, cũng không ai có thể khẳng định mình
đã chạm đến tất cả các yếu tố văn hoá. Vì vậy, dù chính thức khẳng định hay ngầm
định thì các nhà nghiên cứu văn hoá đều quan tâm đến các mã văn hoá, họ chỉ cần
và cũng chỉ có thể quan tâm đến các mã trong biển văn hoá mênh mông ấy mà thôi.
Hàng loạt mã văn hoá đã hoà nhập cùng tín ngưỡng, hiển hiện ở phong tục, náu
mình trong thần tích, kí thác ở tâm linh, ẩn tàng trong văn hoá dân gian, trong
nghệ thuật truyền thống mà lí giải được nó sẽ tạo ra sự hấp dẫn vô cùng, với
những giá trị khoa học và nhân văn to lớn mà nó đem lại. Mã văn hoá có thể ví
như chìa khoá để mở cánh cửa văn hoá mỗi cộng đồng. Dựa vào các mã văn hoá
để nghiên cứu và lí giải những vấn đề văn hoá, xã hội, văn học nghệ thuật, tìm
hiểu các quan niệm về vũ trụ và nhân sinh mỗi thời đại, các dấu vết văn hoá được
thể hiện trong tín ngưỡng, phong tục tập quán cộng đồng... là một hướng nghiên
cứu đặc trưng, mang lại nhiều hiệu quả. Đó chính là hướng tiếp cận mà chúng tôi
muốn trình bày.

Nếu quan niệm rộng, văn hoá chính là tất cả những gì do con người tạo ra
theo mục đích nhất định, thì mã và mã văn hoá chỉ là một, hoặc có thể nói, tất cả
các mã đều là mã văn hoá, vì các mã đều do con người tạo ra, là quy ước chung
của con người qua các tín - kí hiệu. Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày quan
niệm của mình ở trên, thì văn hoá luôn mang tính nghệ thuật, và các mã được gọi
là mã văn hoá cũng phải là những mã được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, mã văn hoá trước hết phải thể hiện những đặc trưng chung của mã, sau
nữa nó mang thêm những đặc trưng văn hoá.
1. Mã (code):
Là hình thức, vẻ ngoài. Mã còn được hiểu là tín hiệu, kí hiệu riêng, phần nổi
nhất, trội nhất thể hiện tinh thần của đối tượng. Theo chúng tôi, mã có những đặc
điểm sau:
Có thể cảm nhận được bằng giác quan: biển báo, đèn đường...
Phải có ý nghĩa đại diện, phổ biến: Chữ thập đỏ là tín hiệu bệnh viện; Đầu
lâu xương chéo ai nhìn cũng biết là tín hiệu chỉ sự nguy hiểm chết người...
Phải nằm trong một hệ thống nhất định: đèn đỏ phải đặt cùng đèn xanh, đèn
vàng thì mỗi đèn mới có ý nghĩa biểu trưng. Nếu tách riêng ra hoặc đặt chúng vào
hệ thống khác thì ý nghĩa cũ sẽ mất hoặc bị biến tướng đi. Chẳng hạn, cũng là đèn
đỏ nhưng nếu treo trong đêm trung thu sẽ có ý nghĩa hội hè, treo trong đám cưới
sẽ có ý nghĩa hạnh phúc...
2. Mã văn hoá (cultural code)
Là những mã vừa mang đặc trưng của mã, vừa mang những đặc trưng của
văn hoá. Mã văn hóa là những tín hiệu, kí hiệu có tính thẩm mĩ, tính đại diện,
trong nó biểu hiện đặc điểm, giá trị văn hoá một cộng đồng. Như vậy, Mã văn hoá

là kết tinh của các giá trị văn hoá, là phần nổi trội nhất, cơ bản nhất, có tính ổn
định tương đối của cộng đồng. Nó biểu hiện ra ngoài bằng các tín hiệu văn hoá,
biểu tượng văn hoá, chìm sâu bên trong là vô vàn lớp nghĩa luôn đòi hỏi giải mã
thì mới có thể hiểu được con người và cộng đồng đó. Đầu lâu xương chéo là một
mã (tín hiệu báo nguy hiểm), nhưng chưa phải mã văn hoá vì nó chỉ có giá trị
thông tin mà hầu như không mang tính nghệ thuật, không thể hiện chiều sâu tư
tưởng và đặc điểm văn hoá, quan niệm một cộng đồng.
Mã văn hoá theo chúng tôi quan niệm bao gồm kí tín hiệu văn hoá (cultural
signs), biểu tượng văn hoá (cultural symbols) và mật mã văn hoá (secret codes of
culture).
2.1. Tín hiệu, kí hiệu văn hoá: là những quy ước chung, khá đơn giản. Theo
chúng tôi, để được coi là tín hiệu, kí hiệu văn hoá, nó phải thoả mãn những điều
kiện sau:
+ Là cái có thể cảm nhận được bằng giác quan.
+ Phải có tính thẩm mĩ (gắn với đặc trưng văn hoá)
+ Có ý nghĩa, đại diện cho một yếu tố văn hoá nào đó khác với chính nó.
+ Giữa tín hiệu và nội dung của nó có mối liên hệ phổ biến, liên tục, dễ nhận
diện, có thể lí giải được, thường lí giải một lần là xong. Ví dụ: Kí hiệu âm - dương,
cờ lễ hội, thập ác, chữ thập ngoặc ngược...
+ Nó phải nằm trong một hệ thống kí tín hiệu văn hoá nhất định: Các tín hiệu
văn hoá trên có thể là tín hiệu văn hoá mang tính quốc tế (quyển sách mở và cái
bút là tín hiệu của sự học tập) hoặc của riêng văn hoá một nước (cờ cá chép được
treo lên là tín hiệu ngày hội dành cho con trai ở Nhật Bản)...

