intTypePromotion=1

Mẫu Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2018

Chia sẻ: Nguyen Ngoc Bien | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:30

0
8
lượt xem
5
download

Mẫu Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2018

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của báo cáo gồm: hiện trạng, diễn biến các thành phần môi trường và các vấn đề môi trường; tình hình, kết quả thực hiện công tác bảo vệ môi trường; phương hướng và giải pháp bảo vệ môi trường... Đây là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các đơn vị, phòng ban trong quá trình biên soạn báo cáo về công tác môi trường theo từng năm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mẫu Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2018

  1. UBND TỈNH QUẢNG NINH CỘNG HOÀ XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT  SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NAM Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc Số:         /BC­TNMT  Quảng Ninh, ngày  15  tháng 01 năm 2019 BÁO CÁO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2018 Tỉnh: Quảng Ninh Kính gửi: Bộ Tài nguyên và Môi trường Thực hiện Điều 134 Luật Bảo vệ môi trường, Thông tư  số  19/2016/TT­   BTNMT ngày 27/8/2016 của Bộ  Tài nguyên và Môi trường về  báo cáo công  tác bảo vệ môi trường (sau đây viết tắt là Thông tư số 19/2016/TT­BTNMT),   trên cơ  sở  tổng hợp kết quả  triển khai thực hiện, Sở  Tài nguyên và Môi  trường Quảng Ninh báo cáo kết quả  thực hiện công tác bảo vệ  môi trường  năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, cụ thể như sau: I. Giơi thiêu  ́ ̣ chung 1. Điêu kiên t ̀ ̣ ự nhiên Quảng Ninh ­ nằm  ở  phía Đông Bắc Việt Nam, có  tổng diện tích tự  nhiên là 12.227,8 km2  (đất liền là 6.102,3 km2  và trên biển 6.125,5 km2), vơí  2.772 hòn đảo (chiếm 2/3 tổng số đảo của cả nước), bờ biển dài trên 250 km ;  Gồm 14 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 04 thành phố, 02 thị xã và  08 huyện). Quảng Ninh có những quần thể  du lịch đẳng cấp thế  giới như  Di sản   thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và vườn quốc gia Bái Tử  Long – vườn di  sản ASEAN. Quảng Ninh cũng có nhiều danh lam thắng cảnh nổi trội với 626   di tích lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, có tiềm năng lớn về  phát triển các loại   hình du lịch và ngành công nghiệp văn hóa, giải trí. Quảng Ninh có nhiều loại khoáng sản có giá trị công nghiệp, quan trọng  nhất là than đá, chiếm trên 90% trữ  lượng cả  nước; Tiếp đến là đá vôi, sét   làm nguyên liệu sản xuất xi măng; Các khoáng sản làm vật liệu xây dựng  thông thường, pyrophylit, cát thủy tinh, đá granit, nước khoáng, nước khoáng  nóng thiên nhiên… Thế  mạnh, tiềm năng tự  nhiên và con người, xã hội của Quảng Ninh  đem đến những cơ  hội để  phát triển kinh tế  bền vững như  dịch vụ  du lịch,   biên mậu, hậu cần cảng biển; Đánh bắt, nuôi trồng chế  biến thuỷ  hải sản,   chăn nuôi gia súc gia cầm; Đóng tàu; Khai thác tài nguyên khoáng sản; Sản   xuất vật liệu xây dựng và hiện đã trở thành một trung tâm nhiệt điện lớn nhất  Việt Nam...
  2. Với điều kiện tự nhiên phong phú, Quảng Ninh được xác định là một địa   bàn động lực của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ  có vai trò chiến lược về  kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, là cửa ngõ hội nhập với  thế giới của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong khu vực hợp tác hai  hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung và kết nối với khu vực ASEAN. 2. Điêu kiên kinh tê ­ xa hôi ̀ ̣ ́ ̃ ̣ Trong năm 2018, nền kinh tế  Quảng Ninh tiếp tục duy trì tăng trưởng,  công nghiệp khai khoáng trên đà phục hồi, tình hình tiêu thụ  có nhiều thuận  lợi; nhiều dự  án, công trình dự  án trọng điểm đã và đang được gấp rút hoàn   thành tạo động lực cho phát triển kinh tế  ­ xã hội của tỉnh. Tốc  độ  tăng  trưởng kinh tế (GRDP, giá so sánh năm 2010) ước đạt 12,6%  1, vượt kế hoạch  và tăng trưởng cao so với mặt bằng chung của cả nước. Giá trị tăng thêm của   các ngành kinh tế ước tăng 9,6% cùng kỳ, trong đó: Nông, lâm, thủy sản tăng   3,5%; Công nghiệp ­ xây dựng tăng 9,8%; Dịch vụ tăng 14,2%, thuế sản phẩm   tăng 11,8%. Năng suất lao động bình quân đạt 172,6 triệu đồng/người/năm,  tăng 11,9% so với cùng kỳ. Sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng khá, xây dựng tăng khá. Giá trị tăng  thêm ngành công nghiệp  ước đạt 43.588 tỷ  đồng, tăng 8,4% cùng kỳ. Sản  lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ: Than khai  thác 38,2 triệu tấn; điện sản xuất 29,1 tỷ  kwh; xi măng 3,9 triệu tấn; clinker   4,3 triệu tấn; sợi bông 223,8 nghìn tấn; bột mỳ  389 nghìn tấn... Giá trị  tăng  thêm ngành xây dựng ước đạt 6.779 tỷ đồng, tăng 18,0% cùng kỳ. Thị trường  bất động sản tiếp tục có sức hút nhà đầu tư, nhất là thành phố Hạ Long, hình   thành các trung tâm đô thị hiện đại. Nhiều dự án, công trình động lực lớn đang  được triển khai tích cực. Công tác cải thiện môi trường đầu tư  kinh doanh, nâng cao năng lực  cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và cấp sở, ngành, địa phương (DDCI) tiếp tục được  quan tâm, triển khai tích cực, đồng bộ  trong toàn tỉnh, với nhiều giải pháp,  sáng kiến thiết thực, sử dụng mạng xã hội (SNA) tương tác với người dân và  doanh nghiệp. Hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư theo hướng chuyên nghiệp ­  thiết thực ­ hiệu quả, Tỉnh đã đón tiếp gần 40 đoàn nhà đầu tư trong và ngoài  nước đến nghiên cưu, khao sat va tìm hi ́ ̉ ́ ̀ ểu cơ hội đầu tư. Niềm tin của doanh  nghiệp, nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được củng   1 GRDP: quý I tăng 9,3%, quý II tăng 10,9%, quý III tăng 11,7%, quý IV ước tăng 12,3%
  3. cố và tăng lên; nhiều nhà đầu tư lớn quan tâm, tìm hiểu cơ  hội, mở rộng đầu  tư phát triển các dự án trên địa bàn tỉnh2.  II. Bao cao công tac bao vê môi tr ́ ́ ́ ̉ ̣ ường. 1. Hiện trạng, diễn biến các thành phần môi trường và các vấn đề  môi trường 1.1. Hiện trạng và diễn biến các thành phần môi trường Toàn tỉnh có 422.937 ha diện tích đất có rừng, tỷ  lệ  che phủ  rừng toàn   tỉnh là 54,5%). Theo mục đích sử  dụng, rừng Quảng Ninh có cả  3 loại rừng:   Rừng đặc dụng: 29.835,7 ha; rừng phòng hộ: 133.127,8 ha; rừng sản xuất:   ́ ̉ ̀ ́ ̣ ́ 259.973,5 ha. Co 03 khu Bao tôn thiên nhiên chiêm diên tich 33.659,8 ha, 02   ̉ Khu di san thiên nhiên v ơi diên tich 171,083 ha. Sô loai nguy câp, quy, hiêm ́ ̣ ́ ́ ̀ ́ ́ ́   được ưu tiên bao vê là 224 loai; sô loai ngoai lai xâm hai môi tr ̉ ̣ ̀ ́ ̀ ̣ ̣ ương là 15 loai; ̀ ̀  sô cây đ ́ ược vinh danh la 144 cây. Di ̀ ện tích mặt nước, đất ngập nước (ao, hồ,   kênh, mương, sông, suối) là 53.005 ha. Diện tích đất nông nghiệp bị  mất do  chuyển đổi mục đích sử  dụng đất, hoang mạc hóa là 702,81 ha; do khai thác  khoáng sản, vật liệu xây dựng, công trình thủy điện là 88,85 ha. - Diễn biến chất lượng không khí trong các đô thị, khu dân cư trong năm  2018 theo kết quả  quan trắc môi trường định kỳ  do Trung tâm Quan trắc Tài  nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh thực hiện (mạng điểm quan trắc đã  được   UBND   tỉnh   phê   duyệt   taị   Quyêt́   đinh ̣   số   1927/QĐ   ­   UBND   ngày  08/7/2015) cho thấy hầu hết cac thông sô quan trăc c ́ ́ ́ ủa 10/10 điểm quan trắc   ́ ́ ̣ ̀ co gia tri năm trong gi ới hạn cho phép. Mức ồn TB tại các vị trí quan trắc dao  động từ  53,1 đến 68,7 dBA, nằm trong GHCP của QCVN   26:2010/BTNMT  Quy chuẩn  kỹ thuật quốc gia về tiếng  ồn , hàm lượng bụi lơ lửng TSP co gia ́ ́  tri ̣ dao động từ  67 đến 375 µg/m . Khu vực trung tâm một số huyện, thị xã trên  3 địa bàn tỉnh có chất lượng môi trường không khí tương đối tốt, đảm bảo theo  quy chuẩn Việt Nam. Tình hình ô nhiễm các nguồn nước mặt phục vụ mục đích cấp nước sinh   hoạt: Tất cả các vị  trí quan trắc nước mặt phục vụ mục đích cấp nước sinh   2  Các  Tập đoàn: Vingroup, SunGroup, FLC, Thành Công, Tập đoàn CEO, Công ty cổ  phần Viglacera Vân   Hải, Công ty cổ phần Crystal Bay Nha Trang, Công ty MBLand, Tập đoàn Amata (Thái Lan)…  3 Có 02 vị trí  Khu dân cư xã Tiền Phong và Khu dân cư xã Đoàn Kết có hàm lượng bụi TSP cao hơn GHCP,   còn lại tại các vị trí khác đều nằm trong GHCP của QCVN  05:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  chất lượng môi trường không khí xung quanh (300 µg/m3)
  4. hoạt (22 vị trí) đều có ít nhất một thông số  ô nhiễm trong đợt quan trắc năm   2018.   Các   thông   số   ô   nhiễm  chủ   yếu   là   TSS,   BOD5,   COD,  NH4+,  NO2­,  coliform; một số vị trí có hàm lượng dầu mỡ, NO3­, Cd, Fe vượt  GHCP và giá  trị pH nằm ngoài GHCP của QCVN 08­MT: 2015/BTNMT (cột A2) (các vị trí:  Sông Vang Danh, sông Thac Nhoong, sông Đ ̀ ́ ̀ ồng Quăng, đ ̣ ập Cao Vân, sông   Diên Vong, ̃ ̣  hồ  Măt́   Rông,  ̀ sông  Tiên  Yên,  đập  Yên Hàn,  sông  Ha ̀ Côi,  ́ hồ  Trương Xuân...) ̀ . Căn cứ  theo kết quả  tổng hợp quan trắc môi trường nước  mặt định kỳ của tỉnh, phần lớn các nguồn nước cấp trên địa bàn tỉnh có dấu   hiệu ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng. Chất lượng nước mặt phục vụ mục đích tưới tiêu thủy lợi: Trong số 4 vị  trí quan trắc có 01/4 điểm quan trắc là hồ  Yên Trung – TP. Uông Bí có chất  lượng nước tốt, tất cả các thông số quan trắc đều nằm trong GHCP của QCVN   08­MT:2015/BTNMT (cột B1). Các nguồn nước mặt phục vụ tưới tiêu thủy lợi  còn lại đều có ít nhất một thông số  vượt GHCP của quy chuẩn theo từng đợt  quan trắc. Các thông số ô nhiễm chủ yếu là TSS, COD, BOD5, NO2­, coliform và  Fe (hồ Cổ Lễ có dấu hiệu bị axit hóa; hồ Tân Lập có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ;  hồ Khe Cá có dấu hiệu ô nhiễm vi sinh, hàm lượng NO2­, NH4+ và Fe cao). Các nguồn nước mặt phục vụ  mục đích khác (chủ  yếu là giao thông  thủy) có 04/14 điểm quan trắc có chất lượng nước đạt GHCP của QCVN 08­ MT:2015/BTNMT (cột B2). Các nguồn nước mặt này gồm: sông Sinh, sông  ̃ ̣ Uông,  Sông Ba Che đoan ha l ̣ ưu KCN Nam Sơn và  sông Pat Cap. ̣ ̣   Các vị  trí  quan trắc còn lại đều có ít nhất một thông số ô nhiễm.  Các thông số ô nhiễm  chủ yếu là TSS, COD, BOD5, NO2­, NH4­, coliform và Fe (Sông Cầm, suôi câu ́ ̀  ́ ́ uối Lộ  Phong, câu suôi Lai, suôi Ha Lâm, su Lim, sông Chanh, suôi Vao, s ̀ ́ ̣ ́ ̀ ̀ ối   Moong cọc 6, sông Mông Dương...). Chất lượng nước biển ven bờ vịnh Hạ Long – Bái Tử Long: Hàm lượng   TSS dao động từ 3 – 85,21mg/l, có sự biến động khá lớn giữa các khu vực ven   bờ và xa bờ, giữa khu vực tập trung hoạt động khai thác, chế biến, kinh doanh   than và các khu vực khác. Mặc dù vậy, hàm lượng TSS trong nước biển vịnh   Hạ Long – Bái Tử Long vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 10­MT:  2015 do các khu vực ven bờ  có hàm lượng TSS cao lại thuộc khu vực không  có giới hạn hàm lượng TSS theo QCVN 10­MT: 2015. Hàm lượng các kim  loại trong nước biển vượt GHCP tại các khu vực khai thác, chế biến và kinh  doanh than như  khu vực Cây Số  6, Vũng Đục, Bãi thải sàng tuyển than Cửa   Ông...   Hàm   lượng   dầu   mỡ   khoáng   trong   nước   biển   dao   động   từ   0,01   –  0,7mg/l. Tại hầu hết các điểm quan trắc tại khu vực ven bờ   đều có hàm  lượng dầu cao hơn các khu vực khác. Tại khu vực vùng bảo vệ tuyệt đối Di   sản, hầu hết các điểm quan trắc đều phát hiện dầu. Các khu vực có mức độ ô  nhiễm dầu cao tập trung tại các điểm có hoạt động giao thông thủy, các cảng,  điểm kinh doanh xăng dầu như cảng Cái Lân, cảng B12, cảng Cửa Ông. 
  5. Toàn tỉnh hiện có 06 khu vực bị ô nhiễm tồn lưu, gồm 2 2 kho (trong đó:  thành phố Hạ Long: 06 kho; thành phố Móng Cái: 0 2 kho; Thị xã Đông Triều:  03 kho; thị  xã Quảng Yên: 08 kho; huyện Đầm Hà: 02 kho; huyện Hải Hà: 01   kho).  1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường (quy mô, tính chất và các tác  động xấu lên môi trường): a) Cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng:  ̀ ử  lý 100% cơ  sở  gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng   Đã hoan thanh x ̀ từ  năm 2011; đến nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh không có cơ  sở  gây ô   nhiễm môi trường nghiêm trọng mới phát sinh. b) Khu công nghiệp, khu chế  xuất, cụm công nghiệp, làng nghề; khu đô   thị, khu dân cư tập trung * Quy mô, công suất khu công nghiệp, khu kinh tế:  ­ Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020  trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 11 khu công nghiệp (KCN Cái Lân, KCN Việt   Hưng, KCN Đông Mai, KCN Hải Yên, KCN ­Cảng biển Hải Hà, KCN ­ Dịch   vụ  Đầm Nhà Mạc; KCN Quán Triều, KCN Sông Khoai, KCN Hoành Bồ,  KCN phụ trợ ngành than, KCN Tiên Yên); 03 KKT cửa khẩu (KKTCK Móng   Cái, KKTCK Hoành Mô­ Đồng Văn, KKTCK Bắc Phong Sinh) và 01 KKT ven  biển Vân Đồn4.   ­ Có 05 Khu Công nghiệp (KCN) đã đi vào hoạt động, gồm:  (1) KCN Cái Lân: Với tổng diện tích là 301,58 ha. Đến nay, KCN Cái Lân  giai đoạn I đã được đầu tư  xây dựng hoàn chỉnh hạ  tầng kỹ  thuật trong đó  trạm xử lý nước thải có quy mô 2.000 m3/ngày đêm. Khu vực mở rộng đã được  đầu tư một số hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, điện, nước) phục vụ các  dự  án đầu tư  thứ  cấp; Tỷ  lệ  lấp đầy KCN là 100%, số  lượng dự  án đầu tư  thứ cấp tại KCN là 60 dự án. (2)  KCN Việt Hưng: Có tổng diện tích là 150,23 ha. Đến nay, đã xây  dựng trạm xử  lý nước thải với công suất 300 m3/ngày đêm, tỷ  lệ  lấp đầy  KCN là 25%, số lượng dự án đầu tư thứ cấp tại KCN là 08 dự án.  4 Trong đó: 05 KCN đã đi vào hoạt động đã và đang triển khai xây dựng cơ  sở hạ tầng cho nhà đầu tư  thứ  cấp thuê lại đất để thực hiện dự án đầu tư: KCN Cái Lân, KCN Việt Hưng, KCN Hải Yên, KCN Đông Mai,   KCN Texhong Hải Hà giai đoạn 1 thuộc KCN­ Cảng biển Hải Hà; 02 KCN đang trong giai đoạn giải phóng   mặt bằng chuẩn bị xây dựng hạ tầng kỹ thuật: KCN và Cảng Nam Tiền Phong và Tổ hợp cảng biển­ KCN   thuộc KCN ­ Dịch vụ  Đầm Nhà Mạc; 02 KCN đang tiến hành các thủ  tục đầu tư: KCN Hoành Bồ, KCN   Sông Khoai; 02 KCN đang thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư: KCN Quán Triều, KCN phụ  trợ  ngành than; 01   KCN Tiên Yên  đang đề xuất điều chỉnh đưa ra khỏi quy hoạch phát triển KCN trên địa bàn tỉnh; 04 KKT đã   được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chung KKT.
  6. (3) KCN Hải Yên: Có tổng diện tích là 182,42 ha. Đến nay, đã xây dựng   trạm xử  lý nước thải với công suất 2×1.000 m3/ngày đêm; Tỷ  lệ  lấp đầy  KCN là 31%, số lượng dự án đầu tư thứ cấp tại KCN là 04 dự án.  (4) KCN Đông Mai: Có tổng diện tích theo quy hoạch là 158,48 ha. Đến  nay, đã xây dựng trạm xử  lý nước thải tạm thời với công suất 300 m 3/ngày  đêm; Tỷ lệ lấp đầy KCN là 920%, số lượng dự án đầu tư thứ cấp tại KCN là   02 dự án. (5) KCN Texhong Hải Hà thuộc KCN­ Cảng biển Hải Hà: Có tổng diện  tích là  660 ha; Đến nay, Chủ  đầu tư  hạ  tầng KCN đã xây dựng trạm xử  lý  nước thải với quy mô 6.000 m3/ngày đêm, tỷ  lệ  lấp đầy KCN là 30%, số  lượng dự án đầu tư thứ cấp tại KCN là 10 dự án. ­ Có 04 Khu Kinh tế  (KKT) đã được cơ  quan có thẩm quyền phê duyệt  quy hoạch chung, gồm: (1) KKT Vân Đồn:  Được Thủ  tướng Chính phủ  thành lập theo Quyết  định số  120/2007/QĐ­TTg ngày 26/7/2007 và phê duyệt Quy hoạch chung xây  dựng tại Quyết định số  1296/QĐ­TTg ngày 19/8/2009, bao gồm toàn bộ  ranh  giới hành chính huyện Vân Đồn, tổng diện tích 217.133 ha, đã thu hút được 52 dự  án đầu tư. (2) KKTCK Móng Cái: được thành lập theo Quyết định số  19/2012/QĐ­ TTg ngày 10/4/2012 của Thủ  tướng Chính phủ, có tổng diện tích 121.197 ha,   trong đó diện tích đất liền là 66.197 ha và diện tích mặt nước biển là 55.000  ha; đã thu hút được 97 dự án (không bao gồm KCN nằm trong địa bàn).  (3)KKTCK Hoành Mô ­ Đồng Văn: gắn với cửa khẩu quốc gia Hoành Mô  có diện tích 14.232 ha, bao gồm 2 xã Hoành Mô và Đồng Văn thuộc huyện  Bình Liêu.được thành lập tại Quyết định số 115/2002/QĐ­TTg ngày 13/9/2002   của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, UBND huyện Bình Liêu cùng Ban Quản  lý Khu kinh tế Quảng Ninh phối hợp thu hút đầu tư, lập quy hoạch chi tiết để  quản lý, hướng dẫn. (4) KKTCK Bắc Phong Sinh: gắn với cửa khẩu quốc gia Bắc Phong Sinh,   có diện tích tự  nhiên khoảng 9.302 ha, thuộc phạm vi xã Quảng Đức, huyện  Hải Hà. Được thành lập tại Quyết định số  115/2002/QĐ­TTg ngày 13/9/2002  của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, UBND huyện Hải Hà cùng Ban Quản lý  Khu kinh tế  Quảng Ninh phối hợp thu hút đầu tư, lập quy hoạch chi tiết để  quản lý, hướng dẫn.  * Quy mô, công suất cụm công nghiệp: 
  7. Toàn tỉnh hiện có 06 cụm công nghiệp (CCN) được thành lập với tổng  diện tích 323,7 ha, bao gồm: (1) CCN Kim Sen, thị xã Đông Triều diện tích   70,78 ha; (2) CCN Hà Khánh, TP Hạ  Long diện tích 50,1 ha; (3) CCN Hoành  Bồ, huyện Hoành Bồ  diện tích 55,36ha; (4) CCN Cẩm Thịnh, TP Cẩm Phả  diện tích 75 ha, (5) CCN Nam Sơn, huyện Ba Chẽ diện tích 47,55 ha, (6) CCN   liên phường Phương Đông – Phương Nam, TP. Uông Bí diện tích 25 ha. Trong  đó có 03 CCN đã đi vào hoạt động (CCN Hà Khánh, CCN Kim Sen, CCN Nam  Sơn), 02 CCN đã đầu tư  xây dựng  hệ  thống xử  lý nước thải tập trung với   tổng công suất xử lý là 3.500m3/ngày đêm. Trong khi đó, CCN Kim Sen­Đông  Triều mặc dù đã thu hút được các doanh nghiệp thứ cấp vào hoạt động trong  CCN, nhưng chưa đầu tư  trạm xử  lý nước thải tập trung do CCN Kim Sen  bao gồm các dự án độc lập được nhóm lại thành CCN, do đó khó khăn trong  việc quản lý thống nhất về bảo vệ môi trường, xử lý nước thải tập trung và   đầu tư xây dựng CCN. * Quy mô, công suất làng nghề: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện có  02 làng nghề được công nhận: (1) Đóng tàu thuyền vỏ  gỗ  Cống Mương ­ xã Phong Hải, thị  xã Quảng  Yên   với   130   cơ   sở   sản   xuất/409   hộ   (được   công   nhận   tại   Quyết   định  2867/QĐ­UBND ngày 17/11/2015 của UBND tỉnh). (2) Đan ngư cụ Hưng Học ­ xã Nam Hòa, Quảng Yên với 245 cơ sở sản   xuất/448   hộ   (được   công   nhận   tại   Quyết   định   số   2867/QĐ­UBND   ngày  17/11/2015 của UBND tỉnh). c) Các nguồn thải lớn. ­ Nước thải từ 1.000 m3/ng.đ: 170 Cơ sở thuộc 73 đơn vị, trong đó Công  ty TNHH MTV Môi trường – Vinacomin có 38 trạm XLNT tập trung  ­ Khí thải: Bao gồm các nguồn thải từ các nhà máy nhiệt điện, xi măng5. d) Dự án khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, thủy điện:  Hiện nay, trên địa bàn Tỉnh có 60 giấy phép khai thác còn hiệu lực (tính   đến ngày 31/12/2018), trong đó: 22 giấy phép khai thác đá, 33 giấy phép khai  thác sét, 04 giấy phép khai thác cát VLXD và cát san lấp, 01 giấy phép khai  thác khoáng sản khác; 01 nhà máy thủy điện Khe Soong, công suất 3,6 MW.  1.3. Tình hình phát sinh chất thải  507 Nhà máy nhiệt điện bao gồm: gồm: Nhiệt điện Đông Triều, Nhiệt điện Uông Bí, Nhiệt điện Quảng   Ninh, Nhiệt điện Cẩm Phả, Nhiệt điện Thăng Long và 02 Nhà máy Nhiệt điện tại Mông Dương;  04 Nhà máy xi mănggồm: Xi măng Hạ  Long, Xi măng Thăng Long, Xi măng Cẩm Phả  và Xi măng Lam   Thạch
  8. a. Chất thải nguy hại Đến hết năm 2018, tổng khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trên địa  bàn Tỉnh khoảng 5.123 tấn. b. Chất thải rắn sinh hoạt thông thường tại đô thị: ­ Tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh: 1.120 tấn/ngày; ­ Tổng lượng chất thải rắn được thu gom: 1.050 tấn/ngày; ­ Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom: 93,7%; c. Chất thải rắn công nghiệp thông thường: Theo thống kê tổng lượng đất đá bóc trong khai thác khoáng sản, vật liệu   xây dựng là trên 40 ­ 45 triệu m3  (Than: 40 ­ 45 triệu m3  ; Khoáng sản ngoài  than: chưa có số liệu thống kê). e. Nước thải sinh hoạt đô thị, khu dân cư tập trung: Hệ  thống thoát nước tỉnh Quảng Ninh cơ  bản là thoát nước chung (bao   gồm cả  nước mưa và nước thải). Hệ  thống thoát nước cũ của các đô thị  đã   xuống cấp, nhiều tuyến cống trong đô thị  đã bị  lấn chiếm, bồi lấp… Các  tuyến cống mới theo quy hoạch chưa được đầu tư đồng bộ. Tốc độ đô thị hóa nhanh, các diện tích mặt đất và mặt nước tự nhiên (ao,   hồ, kênh mương) bị thu hẹp ảnh hưởng đáng kể đến việc tiêu thoát nước cho   các đô thị. Hoạt động xây dựng, chỉnh trang đô thị  làm  ảnh hưởng đến vận   hành hệ thống thoát nước; công tác nạo vét, bảo trì hệ thống thoát nước chưa   đảm bảo, một số đoạn cống bị gãy, vỡ, các hố ga bị chôn lấp. Hiện này, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh mới chỉ có thành phố Hạ Long đã   đầu tư  xây dựng và vận hành hệ thống thoát nước và xử  lý nước thải đô thị  tập trung với tổng công suất các nhà máy xử lý nước thải 17.277 m3/ngày, đạt  35% lượng nước thải phát sinh của Thành phố. Các đô thị  trên địa bàn tỉnh đang triển khai công tác chỉnh trang đô thị  kết hợp với việc cải tạo, nâng cấp mở  rộng mạng lưới thoát nước trên các   tuyến phố đô thị, triển khai đầu tư các dự án thoát nước và xử lý nước thải đô  thị6. m. Phụ phẩm nông nghiệp: 6 Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Hạ Long sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi (ODA) của Chính   phủ Nhật Bản;  Tiểu dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Móng Cái thuộc Dự án phát triển các đô  thị dọc hành lang tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) lần thứ 2 ­ tỉnh Quảng Ninh; Dự án hệ thống thoát nước và  xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Uông Bí sử dụng vốn vay ODA của Chính phủ Bỉ.
  9. Qua điều tra, rà soát, thống kê hàng năm lượng thuốc bảo vệ  thực vật   (BVTV) sử dụng trong sản xuất nông nghiệp để phòng trừ các đối tượng sinh   vật gây hại trên cây trồng tại Quảng Ninh khoảng 180­200 tấn thuốc BVTV  thành phẩm các loại. Theo đó, nếu tính khối lượng vỏ  bao gói thuốc BVTV  (cả  lượng thuốc còn tồn đọng trong bao bì) khoảng 10% thì trung bình mỗi   năm sẽ có khoảng trên 18­20 tấn vỏ bao gói thuốc BVTV sau sử dụng.Thành  phần bao gói thuốc BVTV chủ  yếu là vỏ  dạng nilon và vỏ  dạng lọ  nhựa.   Trong đó: vỏ dạng nilon chiếm khoảng 60% tương đương khoảng 10­12 tấn,  vỏ dạng lọ nhựa chiếm khoảng 40% tương đương khoảng 8 tấn. Các phụ phẩm, phế phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, trấu...), một phần được  nông dân tận dụng để làm thức ăn dự trữ cho gia súc, một phần được đốt tại  ruộng hoặc thả xuống dòng chảy. Ước tính chất thải rắn do chăn nuôi xả thải là 650 tấn/ngày đêm/tỉnh, đó  là chưa kể lượng nước tiểu gia súc. Qua kết quả điều tra cho thấy chỉ khoảng  10% số  chất thải rắn trên được xử  lý qua hệ  thống Biogas, số  còn lại xả  thẳng ra môi trường và tập trung chủ yếu ở các vùng đông dân cư, vùng nông  thôn, miền núi.  1.4. Các vấn đề môi trường chính (1) Suy giảm chất lượng nước biển, đặc biệt là nước biển ven bờ  bị  ô   nhiễm dầu tại các cảng tàu du lịch, nước thải chưa qua xử  lý từ  hoạt động  của các tàu du lịch trên Vịnh (hiện có trên 500 tàu du lịch lưu trú trên Vịnh),  nước thải ngành than (chủ yếu ô nhiễm bởi hàm lượng các kim loại nặng do   nước rửa trôi bề mặt của ngành Than hiện vẫn chưa được thu gom triệt để);  nước thải sinh hoạt từ lục địa xả ra biển; các hoạt động nuôi trồng thủy sản   cũng là những nguồn ô nhiễm đối với chất lượng nước biển; các hoạt động  thi công xây dựng phát triển hạ tầng đô thị, hạ tầng giao thông đã làm thu hẹp  diện tích biển, mất thảm thực vật, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, khi xảy   ra tai biến thiên nhiên, mưa lớn kéo dài kết hợp với triều cường dẫn đến việc  lũ lụt, ngập úng là không thể tránh khỏi.   (2) Chất lượng nước mặt đã có xu hướng được cải thiện trong những  năm gần đây nhưng do ảnh hưởng từ quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số dẫn  đến tăng khối lượng, thành phần rác thải sinh hoạt khiến môi trường nước  mặt bị  ô nhiễm cục bộ   ở  nhiều nơi. Ngoài ra, ô nhiễm nguồn các hệ  thống   sông xuyên biên giới cũng có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường nước mặt,   nước biển của Tỉnh. (3) Môi trường không khí của Tỉnh hiện nay cũng đang phải chịu  ảnh   hưởng từ các hoạt động sản xuất thác than (khai thác, vận chuyển, chế biến,  
  10. sàng tuyển); sản xuất xi măng, nhiệt điện; từ hoạt động xây dựng, giao thông  ­ vận tải đã gây ô nhiễm cục bộ  tại các đô thị, các khu dân cư  tập trung.   Ngoài ra, nguy cơ  ô nhiễm có thể  xảy ra do hoạt động của Nhà máy nhiệt  điện hạt nhân Hồng Sa – Trung Quốc. (4) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ  quá trình phát triển kinh tế, gia   tăng dân số và đô thị hóa, lượng khách du lịch đến Quảng Ninh ngày càng tăng  nên khối lượng phát thải ngày càng lớn. Hầu hết các bãi rác trên địa bàn tỉnh   đều là các bãi rác xử lý theo hình thức chôn lấp. Trải qua thời gian vận hành   nhiều năm, các bãi rác trên địa bàn tỉnh đều đã xuất hiện tình trạng quá tải, có   nguy cơ  gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường không khí...  Việc triển khai các dự  án đầu tư  xử  lý rác thải sinh hoạt còn gặp nhiều khó  khăn về  công nghệ, vị  trí quy hoạch. Bên cạnh đó, một số  điểm tập kết rác  thải trên địa bàn toàn Tỉnh đặc biệt tại khu dân cư tập trung, các xã đảo không  đảm bảo vệ sinh môi trường, đặc biệt tại các khu vực nông thôn do lượng rác  tại các điểm trung chuyển thường tập kết từ 2 – 3 ngày vì vậy đã gây ra bức   xúc trong nhân dân do nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt. (5) Biến đổi khí hậu (viết tắt là BĐKH) đã và đang tác động đến tất cả  các ngành, lĩnh vực, địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Trong khoảng  30 năm, nhiệt độ  trung bình năm và tổng mưa năm tại Quảng Ninh có xu  hướng tăng theo thời gian. Nhiệt độ  thấp nhất đã xuống tới 5,3oC, nhiệt độ  cao nhất đã lên tới 36,7oC, lượng mưa ngày lớn nhất đo được là 386,5mm.  Mức   nước   biển   tại   khu   vực   Quảng   Ninh   dâng   trung   bình   mỗi   năm   dâng  khoảng 2 mm. Càng ngày thiên tai diễn ra càng bất thường và khó lường hơn.   Bão diễn ra với cường độ  mạnh, đường đi khó dự  báo và không theo mùa.  Các hiện tượng thời tiết cực đoan như: Mưa lớn, nắng nóng, rét hại và các   hiện tượng cực đoan khác của thời tiết diễn ra cục bộ, tăng tần suất. Trước   ảnh hưởng của BĐKH, các vùng, địa phương trong Tỉnh dễ  bị  tổn thương   chủ  yếu là các khu vực ven biển như: Quảng Yên, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên  Yên, Vân Đồn, Hoành Bồ, Hạ Long, Móng Cái;  các ngành, lĩnh vực chịu ảnh  hưởng trực tiếp là nuôi trồng thuỷ sản (chủ yếu ở Quảng Yên, Hải Hà, Đầm   Hà, Tiên Yên, Móng Cái...); nông nghiệp (chủ yếu là trồng lúa ở huyện Đông  Triều, Quảng Yên, Hải Hà, Đầm Hà...); lâm nghiệp (huyện Bình Liêu, Ba  Chẽ, Tiên Yên, Hoành Bồ...); tài nguyên nước, công nghiệp, xây dựng­ đô thị,  năng lượng… (6) Hệ  thống sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn nhỏ  lẻ, manh   mún, chưa hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung. Do đó, công tác tuyên  truyền, thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV đến người dân, cũng như việc bố  trí xây dựng các bể chứa bao gói thuốc BVTV còn gặp nhiều khó khăn. Mặt  
  11. khác, khối lượng vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật hàng năm phát sinh nhiều,   công tác xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng hiện nay gặp nhiều khó khăn  bởi chất thải này được liệt kê vào chất thải nguy hại không thể  xử  lý tiêu  hủy bằng phương pháp đốt thông thường, mà phải tiêu hủy đúng cách và cần   có phương tiện vận chuyển chuyên dụng trong khi tỉnh chưa có khu xử  lý  riêng phải đưa đi các cơ  sở ngoài tỉnh để  xử  lý, tiêu hủy vì vậy kinh phí cao,  mất nhiều thời gian xử lý. 2. Tình hình, kết quả thực hiện công tác bảo vệ môi trường 2.1. Tổ  chức bộ  máy quản lý nhà nước và nguồn lực bảo vệ  môi  trường (tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; nguồn nhân lực; nguồn lực  tài chính; hạ tầng kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị bảo vệ môi trường):  ̉ ưc b a. Tô ch ́ ộ máy quan ly nhà n ̉ ́ ước. ­ Đối với cấp tỉnh:  ̣ ̉ ̣ + Chi cuc Bao vê môi tr ương tr ̀ ực thuộc Sở  Tài nguyên và Môi trường   vơi 19 can bô, công ch ́ ́ ̣ ức và người lao động;  + Phòng Quản lý Môi trường trực thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế có 06   cán bộ, công chức; + Phòng Kỹ thuật môi trường trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT có 08  cán bộ, công chức; ­   Đối   với   cấp   huyện:   Đều   thành   lập   các   Phong ̀   Taì   nguyên   và  Môi  trương, co cán b ̀ ́ ộ chuyên môn vê môi tr ̀ ường. ­ Đối với cấp xã: Đa bô tri can bô đia chinh, can bô y tê hoăc can bô văn ̃ ́ ́ ́ ̣ ̣ ́ ́ ̣ ́ ̣ ́ ̣   ̣ ́ ̉ ̣ hoa lam kiêm nhiêm công tac bao vê môi tr ́ ̀ ường. ­ Lực lượng Canh sat môi tr ̉ ́ ương toàn t ̀ ỉnh: Phòng Cảnh sát môi trường –  Công an Tỉnh co 52 can bô chi ́ ́ ̣ ến sỹ được bô tri trong 04 đôi công tac; Công an ́ ́ ̣ ́   ̣ 14 đia ph ương bố trí 60 cán bộ chiến sỹ  chuyên trách, kiêm nhiệm thực hiện   nhiệm vụ cảnh sát môi trường. ̀ ực tai chinh. b. Nguôn l ̀ ́ Theo Nghị  quyết 236/2015/NQ­HĐND tỉnh ngày 12/12/2015 của HĐND  tỉnh về  những chủ  trương tăng cường công tác quản lý, bảo vệ  môi trường  tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020, Tỉnh đã đưa ra giải  pháp về  chính  sách,   tài   chính  như:   Đa   dạng  hóa   các   nguồn  lực   đầu   tư   cho   bảo  vệ   môi   trường, tăng đầu tư  và sử  dụng đúng mục đích, hiệu quả  nguồn chi thường  xuyên từ  ngân sách cho sự  nghiệp môi trường đảm bảo mức chi hàng năm  không dưới 3% tổng chi ngân sách và tăng dần tỷ  lệ  này theo tốc độ  tăng  
  12. trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó và theo tình hình thực tế, năm 2018 Tỉnh đã chi   651.257 triệu đồng7  đạt 5,58% chi thường xuyên, tập trung chủ  yếu cho các  nhiệm vụ như thu gom, xử lý rác thải, nạo vét cống rãnh, vệ sinh môi trường   và triển khai các nhiệm vụ, dự  án, đề  tài về  môi trường, qua đó đưa ra các   giải pháp khắc phục, phòng ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng.  Đồng thời, Tỉnh ban hành nhiều cơ  chế, chính sách triển khai xã hội hóa các  hoạt động bảo vệ  môi trường và đã thu hút được nhiều nhà đầu tư  tham gia  vào công tác bảo vệ  môi trường trên địa bàn tỉnh, tập trung vào lĩnh vực vệ  sinh môi trường, xử lý chất thải; chỉ đạo đẩy mạnh mô hình hợp tác công – tư  (PPP) kêu gọi đầu tư để triển khai các dự án ưu tiên bảo vệ môi trường tỉnh;   kêu gọi các nguồn lực, nguồn tài trợ, các nguồn vốn vay ODA tập trung cho   cải thiện ô nhiễm môi trường khu vực vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên thế  giới và các dự án xử lý nước thải sinh hoạt đô thị  ̣ ́ ́ ơn vi khai thac than co hoat đông trên đia ban thuôc Tâp Bên canh đo, cac đ ̣ ́ ́ ̣ ̣ ̣ ̀ ̣ ̣   ̉ ̣ ̀ ̉ ́ ̉ ̉ đoan than va khoang san Viêt Nam va Tông công ty Đông Băc đam bao kinh phi ̀ ̀ ́ ́  ̉ ̣ bao vê môi tr ương nganh than. T ̀ ̀ ập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản   Việt Nam đã chi khoảng 1,5% chi phí sản xuất của ngành cho công tác bảo vệ  môi trường, tương ứng với khoảng 800 tỷ đồng/năm, trong đo 50 % danh cho ́ ̀   ̀ ư  cac công trinh BVMT, 50% danh cho cac nhi đâu t ́ ̀ ̀ ́ ệm vụ  BVMT thương ̀   xuyên. c. Hạ tầng kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị bảo vệ môi trường. ­ Cơ sở hạ tầng từ cấp tỉnh đến cấp xã được quan tâm đầu tư  đồng bộ,  trang bị  máy tính và các trang thiết bị  cần thiết để  phục vụ  giải quyết công  vụ. 100% cán bộ, công chức, người lao động sử  dụng mạng nội bộ  (LAN)   trong trao đổi công việc và sử dụng thư điện tử trong trao đổi công việc. ­ Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh được quan tâm đầu  tư  trang thiết bị  đồng bộ  phục vụ  cho việc quan trắc, kiểm soát các nguồn   thải lớn trên địa bàn tỉnh. Từ khi hoạt động đến nay, Trung tâm đã được đầu   tư 03 dự án nâng cao năng lực gồm: 01 Dự án nâng cao năng lực quan trắc và   phân tích môi trường năm 2006, 01 Dự án Tăng cường năng lực năm 2007 và  01 Dự  án nâng cao năng lực năm 2013. Đến nay, thiết bị, máy móc và con  người của Trung tâm có đủ  khả  năng thực hiện quan trắc, phân tích hầu hết  các thông số môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trung tâm đã   7 Kinh phí phân bổ cho khối tỉnh và hỗ trợ một số dự án do UBND cấp huyện làm chủ đầu tư là 67.000 triệu   đồng; Kinh phí phân bổ cho khối huyện là 584.257 triệu đồng.
  13. được cấp Giấy chứng nhận đủ  điều kiện hoạt động dịch vụ  quan trắc môi  trường.  ­ Trung tâm điều hành hệ thống quan trắc môi trường tự động trực thuộc   Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường được đầu tư theo Quyết định   số  2819/UBND ngày 18/10/2013 của UBND Tỉnh Quảng Ninh bao gồm: hệ  thống trang thiết bị  CNTT phục vụ  việc điều hành quan trắc môi trường;   phần mềm tiếp nhận dữ  liệu từ  các trạm quan trắc môi trường tự  động do   hãng MCZ cung cấp… Năm 2018, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số  870/QĐ­UBND phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả  thi dự  án Nâng cao năng  lực quan trăc môi tr ́ ương t ̀ ự đông trên đia ban tinh Quang Ninh, v ̣ ̣ ̀ ̉ ̉ ới nội dung:   Đầu tư nâng cấp trung tâm điều hành quan trắc môi trường để bảo đảm cung   cấp chuỗi số  liệu tin cậy, tức thời và liên tục 24/24 giờ  làm cơ  sở  cho việc   phát hiện và cảnh báo kịp thời các vấn đề môi trường; Đầu tư mở rộng mạng   lưới các điểm/trạm quan trắc môi trường tự  động đối với môi trường không  khí và môi trường nước, nhằm phục vụ công tác giám sát ô nhiễm và quản lý  môi trường. Hiện dự  án đang tiến hành triển khai thực hiện, dự  kiến hoàn   thành trong tháng 6/2019. 2.2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy chuẩn về  bảo vệ  môi  trường Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát và  kịp thời của các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến địa phương, hệ thống  chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường của Tỉnh đã được ban hành khá  đầy đủ, bao quát, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ  môi trường,  tập trung vào các vấn đề  môi trường cụ  thể  như  đất, nước, không khí; quy   định về  các khoản phí, lệ  phí, thu gom quản lý chất thải rắn; vấn đề  môi   trường đô thị, nông thôn; kiểm tra, xử  lý các cơ  sở  gây ô nhiễm môi trường;  đa dạng sinh học; tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của địa phương.  Trong đó có nhiều văn bản quan trọng, có tính định hướng cao8. 8  Nghị  quyết số  12­NQ/TU ngày 12/3/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ  tỉnh về  bảo vệ  môi trường tỉnh  Quảng Ninh giai đoạn 2018 – 2022; Kế  hoạch số  09/KH­UBND ngày 10/01/2018 của UBND tỉnh về  việc   thực hiện chủ đề năm 2018 về “Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên” trên địa bàn tỉnh Quảng  Ninh, Chỉ thị số 10/CT­UBND ngày 10/8/2017 về việc thực hiện di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô  nhiễm môi trường hoặc phải di dời theo Quy hoạch xây dựng đô thị  trên địa bàn tỉnh ra khỏi khu dân cư;,   Quyết định số  4012/QĐ­UBND ngày 30/11/2016 của UBND tỉnh về  việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch  quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Thông báo số 12/TB­UBND   ngày 17/01/2017 về việc Thông báo kết luận của đồng chí Nguyễn Đức Long­ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh   tại buổi làm việc nghe báo cáo tổng thể tình hình đầu tư hoạt động hệ  thống quan trắc môi trường tự động   trên địa bàn tỉnh…
  14. UBND Tỉnh giao Sở  Tài nguyên và Môi trường tham mưu, xây dựng bộ  quy chuẩn kỹ  thuật về  môi trường tỉnh Quảng Ninh, đã triển khai từ  tháng  6/2017. Hiện tại Sở  Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện Hồ  sơ  dự  thảo   quy chuẩn kỹ thuật Quảng Ninh theo cac y kiên tham gia, trình UBND t ́ ́ ́ ỉnh báo  cáo Bộ  Tài nguyên và Môi trường chấp thuận ban hành theo quy định. Ngày  25/12/2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản số 7059/BTNMT­TCMT  về việc ý kiến về hồ sơ dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương tỉnh Quảng  Ninh,  trong  đó có nội dung “Bộ  Tài nguyên và Môi trường đang trong quá   trình sửa đổi QCVN 22:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ  thuật quốc gia về  khí   thải công nghiệp nhiệt điện và dự kiến ban hành trong năm 2019. Vì vậy, Bộ   Tài nguyên và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xem xét,   quyết định việc ban hành đối với Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về khí thải   nhà máy nhiệt điện (QCĐP 06: 2018/QN). Đối với 06 dự thảo Quy chuẩn kỹ   thuật địa phương còn lại, Bộ  Tài nguyên và Môi trường tiếp tục thẩm định   theo tiến độ”.  Do đó, UBND tỉnh đã lùi thời gian ban hành 07 quy chuẩn kỹ  thuật về  môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến tháng 6/2019 đồng thời xác định  lộ trình áp dụng và hướng dẫn các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh tuân thủ  theo bộ quy chuẩn môi trường của Tỉnh. 2.3. Tổ  chức thực hiện pháp luật, công tác quản lý và hoạt động  bảo vệ môi trường a) Tuyên truyền, phổ  biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và   xây dựng ý thức bảo vệ  môi trường trong cộng đồng, người dân và doanh   nghiệp:  Trong năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp UBND Tỉnh   tổ chức Lễ phát động Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam cấp quốc gia, hoạt   động hưởng  ứng ngày Đại dương và ngày Môi trường thế  giới 05/6 tại bến   Do, Cẩm Phả.  Bên cạnh đó, Tỉnh đã chỉ  đạo các Sở, ngành, địa phương triển khai các  hoạt động thiết thực nhằm tuyên truyền phổ  biến, giáo dục chính sách và  pháp luật về bảo vệ môi trường như tổ chức các chương trình tập huấn, bôì  dương nghiêp vu ̃ ̣ ̣9, triển khai các hoạt động phối hợp giữa cơ  quan quản lý  9 Tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường: Nghị định số 155/2016/NĐ­CP ngày  18/11/2016 của Chính phủ quy định về  xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị  định số  154/2016/NĐ­CP ngày 16/11/2016 của Chinh phủ về  phí bảo vệ  môi trường đối với nước thải; Bôì  dương nghiêp vu Quan ly nha n ̃ ̣ ̣ ̉ ́ ̀ ươc vê Bao vê môi tr ́ ̀ ̉ ̣ ường cho đôi t ́ ượng la Công ch ̀ ức đia chinh môi tr ̣ ́ ường   ́ ̃ ường trên đia ban Tinh… câp xa, ph ̣ ̀ ̉
  15. nhà nước với các tô ch ̉ ưc chinh tri xa hôi v ́ ́ ̣ ̃ ̣ ề  bảo vệ  môi trường năm 201810;  Ban hành kế hoạch, chỉ đạo và hướng dẫn các cơ quan, tổ chức triển khai các  hoạt động truyền thông, mít tinh, ra quân hưởng  ứng các Ngày lễ  về  môi   trường, trong đó đã hướng dẫn các Sở, ngành, địa phương tổ  chức các hoạt   động hưởng  ứng Ngày đất ngập nước thế  giới năm 2018 tại xã Đồng Rui –  huyện Tiên Yên; Tổ chức hội thảo “Bảo vệ và phát huy giá trị  đa dạng sinh   học tỉnh Quảng Ninh hưởng  ứng ngày Đa dạng sinh học thế  giới năm 2018;;  Tổ  chức các hoạt động của tỉnh Quảng Ninh hưởng  ứng Chiến dịch làm cho  thế  giới sạch hơn năm 2018 tại huyện Đầm Hà; Tổ  chức các hoạt động kỷ  niệm Ngày Nước Thế  giới, Ngày Khí tượng Thế  giới năm 2018 trên địa bàn  tỉnh Quảng Ninh bằng nhiều hình thức: truyền thông qua các kênh báo chí,  phát   thanh,  truyền   hình;  treo  băng  rôn,  panô,   áp­phích,  khẩu  hiệu  dọc   các  tuyến đường trung tâm, các khu vực đông dân cư. b) Xây dựng hệ thống quan trắc, thực hiện các chương trình quan trắc,   xây dựng cơ sở dữ liệu và báo cáo về môi trường:  Hàng năm, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã thực   hiện các chương trình quan trắc môi trường tỉnh định kỳ  trên phạm vi 14/14   huyện,   thị   xã   và   thành   phố   theo   Quyết   định   số   1927/QĐ­UBND   ngày  08/7/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc “Phê duyệt Mạng điểm quan   trắc hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 ”. Kết quả  quan  trắc môi trường định kỳ là cơ sở  dữ liệu về chất lượng môi trường của tỉnh   để phục vụ cho công tác quản lý, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, báo cáo  Bộ  Tài nguyên và Môi  trường theo quy  định tại  Thông tư  sô 02/2014/TT­́ BTNMT ngày 22/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có tổng số  89 trạm QTMTTĐ liên tục truyền  số liệu về trung tâm điều hành của Sở Tài nguyên và Môi trường để quản lý,  giám sát, kịp thời phát hiện, giải quyết các vấn đề  môi trường phát sinh trên   địa bàn tỉnh; Phần mềm theo dõi số liệu quan trắc tự động vào máy điện thoại  di động của các Đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh, các đồng  chí Bí thư, Chủ tịch, trưởng phòng tài nguyên của 06 địa phương (Đông Triều,   Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long, Cẩm Phả, Hải Hà) và Chủ  tịch UBND và cán   bộ  địa chính xã Đồng Rui để  phối hợp theo dõi, giám sát quá trình phát thải.  Triển khai lắp đặt 06 màn hình hiển thị  thông tin quan trắc môi trường tự  động tại Trung tâm hành chính công của 06 địa phương (Đông Triều, Uông Bí,  Hoành Bồ, Hạ  Long, Cẩm Phả, Hải Hà) và công khai số  liệu QTMTTĐ trên  10Lập và triển khai kế hoạch phối hợp về tuyên truyền bảo vệ môi trường tại các trường tiểu học và trung  học phổ thông trên địa bàn thành phố Hạ Long giữa Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Giáo dục và Đào tạo,  UBND thành phố Hạ Long; Cử cán bộ hỗ trợ tuyên truyền tại các trường học; Xây dựng bài giảng về  công  tác bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và biến đổi khí hậu tại Quảng Ninh…
  16. cổng thông tin điện tử của Sở TNMT để công bố rộng khắp cho các tổ chức,  cá nhân quan tâm có thể giám sát, nắm bắt kịp thời diễn biến môi trường trên   địa bàn tỉnh.  Công khai số  điện thoại đường dây nóng và địa chỉ  tiếp nhận, xử  lý   thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ  chức và cá nhân trong tỉnh đối với hoạt  động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Giao Sở Tài  nguyên và Môi  trường tiếp nhận thông tin qua  đường dây nóng  đảm bảo  thông suốt, liên tục 24/24 giờ  trong ngày và 07 ngày trong tuần. Trong năm  2018, Sở  Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 18 phản ánh, kiến nghị  qua  đường dây nóng, chủ  động xác minh thông tin và phản hồi các thông tin theo   đường dây nóng; kịp thời giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị  của nhân dân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và xử lý các hành vi vi phạm   pháp luật về  bảo vệ  môi trường từ  đó định hướng dư  luận, không để  tình  trạng vụ việc kéo dài, không được xử lý. c) Tổ  chức thực hiện các quy định, cơ  chế, công cụ, biện pháp phòng   ngừa, giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường. (1) Thẩm định đánh giá tác động môi trường; kiểm tra, xác nhận công  trình bảo vệ môi trường; thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ  môi trường ­ Trong năm 2018, công tác thẩm định, cấp phép, thẩm định phí được  thực hiện đảm bảo thời gian và quy định của pháp luật, cụ thể: Tiếp nhận và   thẩm định 98 hồ  sơ  Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM); 20 hồ  sơ  xác nhận hoàn thành ĐTM. Tinh t́ ừ ngày 01/01/2018 đến 31/12/2018, UBND  ̉ ̣ tinh đa phê duyêt 68 báo cáo ĐTM; S ̃ ở TNMT cấp 16 giấy xac nhân hoan thanh ́ ̣ ̀ ̀   ĐTM. ­ UBND tỉnh và các sở, ban, ngành đã kiểm tra, xử  phạt vi phạm hành  chính về bảo vệ môi trường đối với 1.188 tổ  chức, cá nhân; với tổng số tiền   xử  phạt: 16.013,5 triệu đồng (trong đó: Sở  Tài nguyên và Môi trường thanh  tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường đối với 56 tổ  chức, xử  phạt vi phạm hành chính đối với 40 tổ chức với số tiền là: 3.976,4 triệu đồng;  Công an tỉnh phát hiện, xử  lý 338 vụ  đối với 21 tổ  chức và 327 cá nhân vi  phạm, xử phạt 334 vụ với tổng tiền phạt 2.268,55 triệu đồng; khởi tố, xử lý  hình sự 04 vụ đối với 05 đối tượng vận chuyển trái phép động vật quý hiếm;  Hải quan Quảng Ninh phát hiện, xử  lý 51 vụ, xử  phạt vi phạm hành chính   503,0 triệu đồng; Các địa phương phát hiện và xử lý được 384 trường hợp vi   phạm phát luật về bảo vệ môi trường, xử  phạt 4.617,8 triệu đồng). Đình chỉ  hoạt động 02 dự  án: (1) Thi công xây dựng Dự  án Đường nối từ  đường cao  tốc Hạ  Long – Hải Phòng với Khu công nghiệp Nam Tiền Phong, thị  xã   Quảng Yên (Giai đoạn 1) với thời hạn 06 tháng; (2) Thi công san nền của 
  17. đường giao thông Ba Chẽ  ­ Hạ  Long, đoạn từ  trung tâm xã Đồn Đạc đến  tuyến đường vành đai phía Bắc thành phố Hạ Long. (2)   Kiểm   soát   môi   trường các  khu  vực tập  trung  nhiều  nguồn gây  ô  nhiễm môi trường  ­ 100% các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đi vào hoạt động được  xử lý nước thải đảm bảo Quy chuẩn môi trường; ưu tiên lựa chọn các dự  án  áp dụng công nghệ  hiện đại, thân thiện với môi trường; Chất thải rắn sinh  hoạt, công nghiệp và chất thải nguy hại, khí thải trong các KCN được thu  gom, xử  lý cơ  bản đúng quy định. Tính đến thời điểm báo cáo đã có 03/05   KCN hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải công nghiệp.  Cụ  thể: KCN Việt Hưng, KCN Hải Yên, KCN Hải Hà giai đoạn 1 đã hoàn  thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải KCN. Trong đó, 02 KCN   (Việt Hưng và Hải Hà giai đoạn 1) đã hoàn thành kết nối, truyền dữ liệu trực  tiếp, liên tục về  Sở  Tài nguyên và Môi trường; KCN Hải Yên đã lắp đặt hệ  thống quan trắc tự động, hiện đang thực hiện các yêu cầu kỹ thuật để kết nối   dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. ­ 03/06 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động và đang hoàn thiện hệ  thống xử  lý nước thải tập trung, nước thải đang được xử  lý tại các đơn vị  riêng lẻ trong cụm công nghiệp; Công tác quản lý chất thải rắn thông thường   và chất thải nguy hại được thực hiện tương đối tốt. ­ Các nhà máy xi măng, nhiệt điện đã đầu tư  lắp đặt, vận hành 29 trạm   quan trắc tự động (QTMTTĐ) liên tục khí thải, nước thải. Trên cơ sở dữ liệu  từ các đơn vịtruyền về Trung tâm Điều hành các trạm QTMTTĐ, Tỉnh đã chỉ  đạo cơ  quan chuyên môn kiểm tra làm rõ nguyên nhân có văn bản yêu cầu   thực hiện các giải pháp khắc phục, đảm bảo không phát thải có thông số  ô  nhiễm vượt giới hạn cho phép, kiên quyết xử  lý các vi phạm đối với các   trường hợp có số liệu QTTĐ vượt giới hạn cho phép11. ­ Ngành Than tích cực đổi mới công nghệ  khai thác, triển khai các giải  pháp bảo vệ môi trường như: cải tạo phục hồi môi trường bãi thải; Thu gom,   xử lý nước thải mỏ12; Thu gom, xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn thông  11 Thường xuyên có văn bản gửi các doanh nghiệp chấn chỉnh tình trạng số liệu quan trắc khí thải tự  động  vượt giới hạn cho phép (như: Công ty TNHH Điện lực AES­TKV Mông Dương, Ban quản lý dịch vụ Công  ích thành phố  Hạ  Long, Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam, Công ty Cổ  phần xi măng và xây dựng   Quảng Ninh) để nhắc nhở, đôn đốc các đơn vị kiểm tra, đảm bảo khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động  đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định hiện hành.. 12 Vận hành 57 trạm xử lý nước thải mỏ, tổng số nước thải mỏ được xử lý trên 132 triệu m 3/năm cải thiện  đáng kể môi trường các lưu vực sông và môi trường nước biển ven bờ. Tùy theo thực tế phát sinh nước thải,  ngành than sẽ rà soát, đầu tư nâng công suất các trạm xử lý nước thải nếu cần thiết.
  18. thường; Giảm thiểu bụi,  ồn quá trình vận chuyển, tiêu thụ; Phòng chống  thiên tai,  ứng phó biến đổi khí hậu; Hoàn thành việc di dời dân ra khỏi vùng  sạt lở, ngập lụt nguy hiểm đảm bảo đúng tiến độ13; Đẩy nhanh tiến độ hoàn  thành xây dựng các trạm quan trắc môi trường tự  động đảm bảo truyền số  liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường14; Chấm dứt hoạt động Nhà máy tuyển  than Nam Cầu Trắng từ  01/01/2019 theo lộ  trình tại Nghị  quyết số  201/NQ­ HĐND ngày 15/7/2015 của Hội đồng nhân dân Tỉnh đề ra. ­ Nhiều giải pháp quyết liệt trong bảo vệ môi trường vùng Di sản thiên  nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã được triển khai như chấm dứt hoạt động bốc  xếp, chuyển tải hàng hóa rời clinke, xi măng và dăm gỗ trên Vịnh Hạ Long, di  dời xong các nhà bè trên Vịnh Hạ  Long, 100% các tàu du lịch trên vịnh Hạ  Long được lắp đặt hệ  thống xử  lý nước thải có dầu, thí điểm sử  dụng dầu   Biodiesel cho một số tàu du lịch trên vịnh…. d) Tổ  chức thực hiện các chương trình, dự  án, hoạt động bảo vệ  môi   trường (1) Thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt; thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt  đô thị, khu dân cư; cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực ô nhiễm tồn   lưu: * Thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt  Quy hoạch và xây dựng các khu xử  lý chất thải rắn liên vùng bằng  phương pháp đốt đang được triển khai thực hiện (Nhà máy xử  lý rác tại xã   Tràng Lương, thị  xã Đông Triều đang đầu tư  xây dựng; Khu liên hợp xử  lý  chất thải rắn tại xã Đông Hải, huyện Tiên Yên đang lựa chọn nhà đầu tư;  Khu xử  lý chất thải rắn xã Dực Yên, huyện Đầm Hà đang lập quy hoạch).   Sau khi các dự  án hoàn thành đầu tư  xây dựng và đưa vào vận hành sẽ  đáp  ứng nhu cầu xử lý triệt để chất thải rắn, hạn chế lượng chất thải rắn xử lý   bằng phương pháp chôn lấp. Tập trung đầu tư mới trang thiết bị, thu gom, vận chuyển rác thải; triển  khai đầu tư  xây dựng mới, cải tạo bãi rác thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi  trường trên địa bàn một số  huyện, thị  xã và thành phố. Hoàn thành việc cải  tạo, phục hồi môi trường đối với 04 bãi chôn lấp chất thải rắn đã đầy và có  13 Trong năm 2018, Ngành than đã di dời 115 hộ dân phải di dời theo đề án di dân tổng thể (vượt kế hoạch 06 hộ  dân); 14 Tập đoàn Công nghiệp Than ­ Khoáng sản Việt Nam đầu tư lắp đặt, vận hành 40 trạm QTMTTĐ (35  trạm xử lý nước thải, 04 trạm không khí xung quanh, 01 trạm nước mặt);
  19. dấu hiệu không đảm bảo vệ  sinh môi trường (Đèo Sen, Hà Khẩu, Quang  Hanh, bãi rác khu 1 thị  trấn Trới); thực hiện hỗ trợ phương tiện thiết bị thu   gom rác đối với một số  xã miền núi, nông thôn thuộc huyện Hải Hà, Bình   Liêu, thị  xã Quảng Yên và thành phố  Uông Bí, bước đầu hạn chế  ô nhiễm  bức xúc tại các khu vực này. Triển khai các dự án thu gom, xử lý rác thải sinh   hoạt bằng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường15. Công tác vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường tại các khu di  tích, danh thắng, các trung tâm du lịch của tỉnh hàng năm đều được câp uy,́ ̉   chinh quyên quan tâm, đã tích c ́ ̀ ực đầu tư  các công trình vệ  sinh môi trường   như các nhà vệ sinh, thùng rác công cộng, thực hiện tốt công tác vệ  sinh môi   trường, thu gom triệt để rác thải trong các mùa lễ hội, du lịch… Các cấp, các ngành và các tổ  chức chính trị­ xã hội phát động sâu rộng  phong trào toàn dân bảo vệ  môi trường; 100% xã, phường, thị  trấn đều đã  thành lập các tổ  tự  quản thu gom rác; Cam kết xả  rác đúng nơi quy định và   giao cho các trưởng khu quản lý; triển khai nhiều mô hình hoạt động bảo vệ  môi trường như: ra quân dọn vệ sinh vào các ngày thứ 7, chủ nhật hàng tuần;   Tổ phụ nữ thu gom rác thải; Hợp tác xã thu gom rác thải.... * Thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, khu dân cư. Tập trung chỉnh trang đô thị, đầu tư  xây dựng kết cấu hạ  tầng đô thị,  quan tâm cải tạo, xây dựng hệ thống thu gom, thoát nước thải.  Duy trì hoạt động tốt các trạm xử lý nước thải đã được xây dựng16; đồng  thời tích cực huy độngcác nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản, Bỉ,   vốn vay ADB để triển khai các dự  án thoát nước và xử  lý nước thải trên địa  bàn thành phố Uông Bí, Hạ Long, Móng Cái. Đối với các địa phương còn lại  như  Cẩm Phả, Vân Đồn, Hải Hà, tỉnh đã đưa danh mục kêu gọi đầu tư  giai  đoạn 2016 – 2020 và hiện cũng đã có một số  nhà đầu tư trong và ngoài nước  quan tâm tìm hiểu. * Cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực ô nhiễm tồn lưu: Từ  năm 2013 đến nay, Sở  Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với   UBND các địa phương và đơn vị  thi công xử  lý dứt điểm 04 vị  trí. Dự  kiến   trong năm 2019 tiếp tục xử lý 08 vị trí.  15Xây dựng điểm tập kết, trung chuyển rác thải sinh hoạt tại huyện Đầm Hà, Quảng Yên; Đầu tư  06 khu   xử lý rác thải bằng phương pháp đốt tại Ba Chẽ, Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà … 16 05 trạm xử lý nước thải tại Tp. Hạ Long với tổng công suất 17.277 m 3/ngày đêm, xử lý đạt khoảng 70,2%  tổng công suất các trạm.
  20. (2) Trồng rừng, phục hồi, tái sinh rừng; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh   học * Trồng rừng, phục hồi và tái sinh rừng:  Năm 2018, trồng rừng tập trung cả  năm  ước đạt 12.320 ha; trồng rừng   thay thế  được 248,6 ha; trồng cây phân tán các loại 478.000; Chương trình  mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững đã thực hiện khoán khoanh nuôi bảo  vệ  52.397 ha rừng phòng hộ, đặc dụng cho 14 đơn vị  trên địa bàn tỉnh; tỷ  lệ  che phủ rừng đạt 54,5%. Tiếp tục triển khai thực hiện các dự  án trồng rừng ngập mặn phòng hộ  ven biển sử dụng nguồn vốn biến đổi khí hậu sử dung vôn ngân sach do trung ̣ ́ ́   ương hô tr̃ ợ  va co m ̀ ́ ột phân đôi  ̀ ́ ứng từ tinh đê gây d ̉ ̉ ựng hê thông r ̣ ́ ừng ngâp ̣   ̣ ̣ ̣ ́ ́ ̣ ̣ ̉ 17. măn phong hô chăn song,chông sut lun, tai tao bai bôi,...tai ven sông, biên ̀ ́ ́ ́ ̃ ̀ * Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Thực hiện công bố  Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng   Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và ban hành Kế  hoạch triển  khai Quy hoạch trong giai đoạn  2018 ­ 2020; Thực hiện nhiều giải pháp để  nâng cao chất lượng hệ sinh thái, bảo tồn loài hoang dã. Công tác quy hoạch,  khoanh vùng bảo vệ, thành lập khu bảo tồn thiên nhiên tại các khu vực có tính  đa dạng sinh học, phù hợp với điều kiện thành lập đang được gấp rút xúc   tiến, triển khai; công tác cảnh báo, lựa  chọn hoạt động kinh tế  phù hợp với  điều kiện tự nhiên đã được quán triệt và triển khai. Triển khai công tác quản lý, gây nuôi động vật hoang dã; Cấp đổi giấy  phép cho 02 trường hợp gây nuôi động vật hoang dã, 02 trường hợp hộ gia đình   xin cấp mới theo quy định pháp luật Việt Nam không quy định tại các phụ lục   của Công  ước CITES. Đến nay toàn tỉnh có 13 cơ  sở  được cấp phép gây nuôi  động vật hoang dã quý hiếm. Các cơ  sở  gây nuôi được theo dõi, quản lý theo  đúng quy định của pháp luật.  Để tăng cường công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ngăn chặn sử dụng   chất nổ, xung điện, chất độc hại và nghề  thai thác thủy sản bị  cấm, Tỉnh đã  chỉ đạo cơ  quan chuyên môn đã thành lập đường dây nóng bảo vệ  nguồn lợi   thủy sản;  Tổ  chức thả  tái tạo nguồn lợi với số  lượng  3,46 triệu  con  giống  17 Triển khai 03 dự án trong Danh mục Chương trình hỗ trợ  ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016­ 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sử  dụng nguồn ngân sách tỉnh Quảng Ninh và ngân sách hỗ  trợ  từ Trung  ương: (1) Gây bồi tạo bãi và trồng cây ngập mặn bảo vệ  đê Thôn 1, xã Hải Đông, thành phố  Móng Cái; (2) Đầu tư  xây dựng công trình nâng cấp hệ  thống đê Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng   Ninh; (3) Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015­2020.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản