Nấm TRUFFLE
Trong scác loại nấm được dùng làm thực-phm, Truffle được xem là
quý hiếm nhất, không thể nuôi trồng theo các phương pháp nhân tạo.Trị
giá của Nấm n đến 200 đô la US cho 450 gram (giá tháng 12 m 2000),
do đó Nấm còn được mệnh danh làng đen (Black gold).
Trước Thế chiến thứ 1, nuớc Pháp mỗi m sản xuất được khoảng
1000 tn nấm truffle đen Perigord, là loi Truffle ngoại hạng..nhưng hiện
nay sn lượng chỉ còn..được 30 tấn mỗi năm!
Tổng thống M Harry Truman được xem người đã được thưởng
thức qunấm Truffle klục lớn nhất thế giới, nặng tn 2kg. Ni Ý đã
đào được quả nấm này ti vùng Alba (1951), trung m nm truffle của Ý,
đem bán với giá tương đương khoảng 2000 bảng Anh, và nm được một
thương gia người Mỹ, Ông Goldsmieth mua để tặng cho TT Truman.
Truffle đã được ngưi La-Mã ưa thích từ..1800 năm trước đây..và
món ăn được ng cho Hoàng Đế là món Terfezia hay Truffle mọc trong sa-
mạc được đưa từ Bắc Phi sang Rome. Người râp, gọi nấm là Terfez,
xem nm như món ăn quý, nhất là sau mùa mưa.
nhiu loại Truffles, tất cả thuộc gia đình Nm Tubera les. Loại
được ưa chuộng nhất là Truffle đen (Tuber mela nosporum), hình khối,
đường kính từ 3-8 cm, được bao phủ bởi những nốt u-sn nhỏ đen sậm, mọc
tại nhiều i, kng chtrong vùng Perigord của Pháp. Thịt nấm có những
đường gân trắng, và có mùi nồng nhất. Li Truffle đen có lẽ phát triển thích
hợp nhất dưới những điều kin thổ nhưỡng của Vùng Perigord, nhưng cũng
mọc tại Bắc Tây Ban Nha và Bắc Ý. Nấm trưởng thành từ tháng 11 sang đến
tháng 3.
Nm Truffle trắng (Tuber magnatum) cũng được kưa thích, nhất là
loi nấm thu hoạch trong vùng Alba,Piedmont (Ý). Dng nấm tn, u
trắng nhạt ngả sang vàng hay ng xanh. Thịt nấm màu trng hay mu đất
sét,những gân trng.. mùi thơm của tỏi, vị tương tự như phó mát.
Nm Truffle đỏ m =Burgundy Truffle (Tuber uncina tum), khối
đường kính 2-8 cm, liên hmật thiết với Nm đen Perigord, nốt sn lớn n
và thịt màu đen xậm, cũng có gân trắng, trưởng thành trong khong ttng
10 sang đến tháng giêng năm kế tiếp.
Nm Truffle màu beige (Tuber aestivum), mùi vm hơn, mọc tại
những vùng Bắc Âu, Thụy sĩ.. Bohemia..
Tại Bắc Mỹ, kể cả Oregon, các loài Truffle trng Tuber textense,
T.gibbosum.. mọc hoang trên trên loại thông Douglas fir, được các tay thu
nhặt săn tìm trong khong thời gian giữa tháng 2 ng năm, để cung cấp cho
các Nhà hàng đa phương, với giá 68 đô la một pound.
(Ngoài ra 2 loài nấm khác, tuy không thuộc gia đình Tuber nhưng
cũng gọi là Truffle: Choiromyces meandriformis và Terfezia leonis, h
Trefeziaceae.. mùi vị kém hơn.)
Nhng Huyền thoại quanh Nấm Truffle :
Tthời xa xưa cho đến khoảng 100 m gần đây, không nhà thực vật
nào..hiểu được truffle là mọc như thế nào! Theophrastus cho rng nấm
được sinh ra do mưa trong n giông. Dioscorides cho rng truffle là mt
loi rễ cây. Pliny gọi truffle là nốt mụn thành sẹo của đất. Plutarch nghĩ rằng
munnấm phải có sấm-sét.
Nhà văn Alexandre Dumas (cha-1873) đã từng viết vnghệ thuật ăn
Truffle của người Pháp, đã ttừng động tác sửa soạn món ăn cầu knày
qua tài nấu nướng của Bà Georges một 'nữ hoàng' về sân khấu ..thời đó.
Sinh học của Truffle :
Truffle là quả thể phát sinh từ nấm Tuber mọc hoàn toàn dưới mặt đất.
Truffle không phi là loài nấm duy nhất mọc dưới mặt đất, nhưng lại là th
nấm duy nhất mọc theo kiểu này.. mà thật sự giá trị về kinh tế. Cây nấm,
tbản chất, là một tập hợp những thể sợi, nhỏ li-ti đến mức không nhìn thy
được bằng mắt trần. Các sợi nấm này hay filaments, kết nối với rễ của vài
loi cây trong một sliên hđược đặt tên 'mycorrhizal': Khi một bào t
Truffle tiếp cận với một trong những si rễ nhỏ như một sợi tóc của cây sồi..
đầu cùng của rễ trở thành hơi phồng to dạng như một que m bọc ng gòn
: đầu phồng to này được gọi là mycorrhiza. Sliên hnày lợi cho cả đôi
bên : đi vi y thì những sợi nấm truffle trthành nhng nh 'tay' ni
thêm để vươn i thêm cho rễ hút thêm c chất dinh dưỡng, nhất là khoáng
chất từ đất.. n đi với nấm, vì không ttổng hợp được carbohydrates nên
nhy cung cấp dưỡng chất dưới những dạng tổng hợp từ lá. Sự trao đổi
'đặc biệt hai chiu' này được thực hiện không chỉ do stiếp xúc giữa sợi
nấm và rcây nhưng còn một liên hmật thiết hữu cơ do một stăng
trưởng rất chuyên biệt.
Việc nuôi trồng hoàn toàn nhân to Truffle tuy đã được nghiên cu t
lâu nhưng chưa thể thực hiện được vì chưa thể tạo được s liên kết
mycorhizzal như trong thiên nhiên.
Từ đầu thập niên 70, GS Gerard Chevalier của Viện Quốc Gia Nghiên
cứu ng nghiệp Pháp tại Clermont-Ferrand đã tìm được phương thức cấy
để nối kết bào tnấm với rễ sồi trong ống nghiệm nhưng sau đó kng
thể trồng được nấm trênc môi trường nhân tạo..
Các yếu tố môi sinh phụ thuộc đóng nhng vai trò rất quan trọng :
Ông Rebière, một chuyên gia hàng đầu về Truffle tại Perigord, sống gần
Viện bảo tàng Truffle làng Sorges, ghi nhn tính chất 'khô cằn' đặc biệt
của đất nơi Truffle mọc : không một loại y nào th mọc nổi tại đó,
ngoài tr Truffle kng cần đến nước.. nhờ liên h kiểu 'mycorhizzal'!
ngoài ra n nhng yếu tố gây 'choc' đặc thù khiến cho một i nấm đã
từng mọc (truffière), thu hoạch xong lại tiếp tục hồi phục để tiếp tục sản xuất
thêm lần nữa..