intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của Vinabetes trên chuột cống đái tháo đường Typ 2 thực nghiệm

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
11
lượt xem
1
download

Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của Vinabetes trên chuột cống đái tháo đường Typ 2 thực nghiệm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết của chế phẩm Vinabetes trên thực nghiệm. Mục tiêu: Đánh giá tác dụng hạ glucose huyết của Viabetes trên chuột đái tháo đường typ 2. Phương pháp nghiên cứu: Chuột cống đái tháo đường typ 2 được uống Vinabetes để nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết thực nghiệm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của Vinabetes trên chuột cống đái tháo đường Typ 2 thực nghiệm

Nguyễn Xuân Hòa và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 273 – 277<br /> <br /> NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG HẠ GLUCOSE HUYẾT CỦA VINABETES TRÊN<br /> CHUỘT CỐNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 THỰC NGHIỆM<br /> Bùi Thị Quỳnh Nhung1, Nguyễn Trọng Thông2,<br /> Phạm Thị Vân Anh2, Phạm Hữu Điển3<br /> (1)<br /> <br /> Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên<br /> (2)<br /> Bộ môn Dược lý – Trường Đại học Y Hà Nội<br /> (3)<br /> Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết của chế phẩm Vinabetes trên thực nghiệm. Mục tiêu: Đánh<br /> giá tác dụng hạ glucose huyết của Viabetes trên chuột đái tháo đường typ 2. Phương pháp nghiên<br /> cứu: Chuột cống đái tháo đường typ 2 được uống Vinabetes để nghiên cứu tác dụng hạ glucose<br /> huyết thực nghiệm. Kết quả cho thấy: Vinabetes có tác dụng hạ glucose huyết ở chuột đái tháo<br /> đường typ 2 thực nghiệm.<br /> Từ khóa: Vinabetes, đái tháo đường typ 2 thực nghiệm, hạ glucose huyết, động vật thực nghiệm.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển<br /> hóa nguy hiểm, là nguyên nhân gây tử vong<br /> hàng đầu trên thế giới [0].<br /> Bên cạnh các nhóm thuốc điều trị đái tháo<br /> đường đang được sử dụng rộng rãi trên thế<br /> giới như insulin, sulfonylure, biguanid ...,<br /> nhiều tác giả đã đi sâu tìm hiểu tác dụng hạ<br /> glucose máu của các cây, con làm thuốc có<br /> sẵn trong dân gian.<br /> Tại Việt Nam, các nghiên cứu về về tác dụng<br /> hạ glucose huyết riêng rẽ của ba loại thảo<br /> dược giảo cổ lam (GCL), tri mẫu (TM) và<br /> bằng lăng nước (BLN), ở chuột bình thường<br /> và chuột đái tháo đường typ 1 cho kết quả tốt,<br /> tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá<br /> tác dụng hạ glucose huyết ở động vật bị đái<br /> tháo đường typ 2 trên thực nghiệm khi phối<br /> hợp ba loại thảo dược trên. Qua nghiên cứu<br /> sàng lọc tác dụng hạ glucose huyết, nghiên<br /> cứu tiến hành phối hợp ba dược liệu GCL,<br /> TM, BLN thành chế phẩm Vinabetes nhằm<br /> tạo ra chế phẩm có tác dụng trên chuột cống<br /> bị gây đái tháo đường typ 2 thực nghiệm.<br /> Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:<br /> Đánh giá tác dụng hạ glucose huyết của<br /> Vinabetes trên chuột cống gây đái tháo đường<br /> typ 2 thực nghiệm.<br /> *<br /> <br /> CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG<br /> PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Chất liệu nghiên cứu:<br /> Thuốc nghiên cứu<br /> Chế phẩm Vinabetes ở dạng cao mềm do<br /> Viện hóa học thuộc viện khoa học các hợp chất<br /> thiên nhiên sản xuất, gồm các thành phần:<br /> + Cao thân, lá, rễ GCL (Gynostemma<br /> pentaphyllum): 1gram cao tương đương 15g<br /> dược liệu khô.<br /> + Cao thân và củ TM (Anemarhena<br /> asphodeloides): 1gram cao tương đương 15g<br /> dược liệu khô.<br /> + Cao lá BLN (Lagerstroemia speciosa (L.)<br /> Pers): 1 gram tương đương 10 g dược liệu khô.<br /> Ba thành phần trên được trộn theo tỷ lệ<br /> 1,5:1,5:1 để tạo thành chế phẩm Vinabetes.<br /> 1g cao chứa 3,24g dược liệu khô.<br /> Hóa chất và dụng cụ nghiên cứu<br /> - Streptozotocin (Zanosar) bột pha tiêm 1g do<br /> công ty MP Biomedicals (France) sản xuất<br /> - Diamicron (Gliclazid) viên nén 80mg do<br /> hãng Servier (France) sản xuất - Bộ kit đo<br /> triglycerid, cholesterol huyết thanh của<br /> Teco Dianostics gồm thuốc thử và<br /> cholesterol chuẩn.<br /> - Kit định lượng glucose hãng HUMAN<br /> 279<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Bùi Thị Quỳnh Nhung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Đối tượng nghiên cứu:<br /> Chuột cống trắng chủng Wistar cả hai giống,<br /> cân nặng trung bình 160 - 170g do Học viện<br /> quân y cung cấp.<br /> Phương pháp nghiên cứu:<br /> Mô hình gây ĐTĐ typ 2<br /> Dựa trên mô hình gây đái tháo đường typ 2:<br /> chế độ ăn giàu chất béo kết hợp với STZ liều<br /> thấp của Srinivasan K. [0] có chỉnh lý cho<br /> phù hợp với điều kiện ở Việt Nam<br /> Chuột cống được chia thành 03 lô. Các lô<br /> chuột được ăn với chế độ khác nhau (tính theo<br /> Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam của<br /> Viện dinh dưỡng [0]) liên tục trong 10 tuần:<br /> Lô 1: Chuột được ăn chế độ ăn 12% tổng số<br /> calo của khẩu phần ăn là chất béo (NFD:<br /> Normal fat diet).<br /> Lô 2: Chuột được ăn chế độ ăn có 40% tổng<br /> số calo của khẩu phần ăn là chất béo (HFD:<br /> Hight – fat diet)<br /> Lô 3: Chuột được ăn chế độ ăn có 40% tổng<br /> số calo của khẩu phần ăn là chất béo (HFD:<br /> Hight – fat diet)<br /> Sau 10 tuần ăn chế độ ăn giàu lipid, chuột ở<br /> lô 1, 2 được tiêm nước cất, chuột ở lô 3 được<br /> tiêm màng bụng STZ 50mg/kg.<br /> <br /> 89(01/2): 279 – 283<br /> <br /> Sau 72 giờ tiêm STZ và nước cất, tiến hành<br /> lấy máu từ đuôi chuột để định lượng các chỉ<br /> số glucose, cholesterol toàn phần và<br /> triglycerid máu.<br /> Nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết trên<br /> chuột thực nghiệm<br /> Chuột cống trắng bình thường, chuột béo và<br /> chuột gây mô hình đái tháo đường typ 2,<br /> được chia thành 4 lô, mỗi lô 10 con:<br /> Lô 1: Lô chứng: NFD + nước cất.<br /> Lô 2: Chuột đái tháo đường typ 2 + nước cất.<br /> Lô 3: Chuột đái tháo đường typ 2 + Gliclazid<br /> liều 20mg/kg.<br /> Lô 4: Chuột đái tháo đường typ 2 + Vinabetes<br /> liều 3g/kg (Liều tương đương liều dự kiến<br /> dùng trên người).<br /> Chuột được uống nước cất hoặc thuốc thử<br /> liên tục trong 2 tuần.<br /> Chuột được nhịn ăn qua đêm, lấy máu toàn<br /> phần từ đuôi chuột định lượng glucose máu,<br /> cholesterol toàn phần và triglycerid tại các<br /> thời điểm to (chưa uống thuốc), tc (sau uống<br /> thuốc thử ngày cuối 1 giờ).<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Mô hình ĐTĐ typ 2<br /> <br /> Bảng 1: Sự biến đổi trọng lượng chuột tại các thời điểm nghiên cứu<br /> Thời gian<br /> Bắt đầu NC<br /> Sau 4 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 6 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 8 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 10 tuần<br /> % tăng<br /> Sau tiêm STZ 72h<br /> % tăng<br /> <br /> Lô 1<br /> 165,00 ± 9,81<br /> 189,86 ± 15,09*<br /> 15,26<br /> 199,29 ± 19,58*<br /> 20,88<br /> 212,57 ± 27,29*<br /> 28,95<br /> 200,00 ± 10,50*<br /> 21,44<br /> 199,29 ± 30,34*<br /> 20,96<br /> <br /> Trọng lượng (g)<br /> Lô 2<br /> 165,30 ± 27,27<br /> 247,22 ± 19,85*<br /> 54,16<br /> 260,20 ± 36,67*<br /> 60,73<br /> 265,60 ± 47,52*<br /> 64,37<br /> 278,50 ± 53,26*<br /> 72,60<br /> 278,40 ± 64,51*<br /> 73,39<br /> <br /> Lô 3<br /> 171,10 ± 22,35<br /> 249,70 ± 40,11*<br /> 47,32<br /> 259,70 ± 43,22*<br /> 53,17<br /> 270,90 ± 44,22*<br /> 60,04<br /> 284,40 ± 48,66*<br /> 67,73<br /> 278,30 ± 47,01*<br /> 64,27<br /> <br /> p so với lô 1<br /> > 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> <br /> p < 0,05: So sánh với thời điểm bắt đầu nghiên cứu<br /> <br /> Kết quả bảng 1cho thấy sau 4 tuần cân nặng chuột ở tất cả các lô đều tăng so với trước nghiên<br /> cứu. Sự tăng c©n nặng của chuột l« 2, 3(có chế độ ăn 40% năng lượng là lipid ) cao hơn rõ rệt so<br /> với lô chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).<br /> 280<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Bùi Thị Quỳnh Nhung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 279 – 283<br /> <br /> Bảng 2. Sự biến đổi nồng độ glucose huyết của các lô chuột tại các thời điểm nghiên cứu<br /> <br /> Thời gian<br /> Sau 4 tuần<br /> Sau 6 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 8 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 10 tuần<br /> % tăng<br /> Sau tiêm<br /> STZ 72h<br /> % tăng<br /> <br /> Glucose huyết (mmol/l) n = 10<br /> Lô 1<br /> Lô 2<br /> Lô 3<br /> 5,68 ± 0,96<br /> 6,67 ± 0,81<br /> 6,70 ± 1,14<br /> 5,82 ± 1,54<br /> 6,44 ± 0,95<br /> 6,33 ± 0,72<br /> - 0,66<br /> - 0,56<br /> - 0,75<br /> 6,30 ± 0,93<br /> 7,36 ± 0,72<br /> 7,74 ± 1,09*<br /> 11,57<br /> 11,33<br /> 20,51<br /> 5,94 ± 0,58<br /> 7,12 ± 0,10<br /> 7,53 ± 0,22*<br /> 7,29<br /> 8,69<br /> 21,78<br /> 10,23 ± 2,13*<br /> 6,03 ± 1,89<br /> 7,14 ± 0,97<br /> (*)<br /> 8,76<br /> 9,29<br /> 56,96<br /> <br /> P so với lô 1<br /> > 0,05<br /> > 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,01<br /> <br /> Kết quả bảng 2 cho thấy nồng độ glucose huyết ở tất cả các thời điểm nghiên cứu của chuột ở lô<br /> 1 thay đổi không có sự khác biệt. Sau khi ăn chất béo 8 tuần nồng độ glucose huyết ở các chuột ở<br /> lô 2 tăng cao so với chuột nhóm chứng, nhưng sự sai khác không có ý nghĩa thống kê. Trong khi<br /> đó nồng độ glucose huyết sau 72 giờ tiêm STZ kèm theo ăn chất béo 40% tăng cao rõ rệt so với<br /> chứng và so với nhóm ăn chất béo không tiêm STZ ( lô 2) với p < 0,05.<br /> Bảng 3. Sự biến đổi nồng độ cholesterol máu toàn phần của các lô chuột tại các thời điểm nghiên cứu<br /> <br /> Thời gian<br /> Sau 4 tuần<br /> Sau 6 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 8 tuần<br /> % tăng<br /> Sau 10 tuần<br /> % tăng<br /> Sau tiêm STZ<br /> 72h<br /> % tăng<br /> <br /> Cholesterol máu toàn phần (mmol/l) n = 10<br /> Lô 1<br /> Lô 2<br /> Lô 3<br /> 1,81 ± 0,83<br /> 2,67 ± 0,54<br /> 2,70 ± 0,40<br /> 2,16 ± 0,21<br /> 3,32 ± 0,95<br /> 3,28 ± 0,77<br /> 8,00<br /> 28,15<br /> 13,93<br /> 1,80 ± 0,18<br /> 3,20 ± 0,56<br /> 3,06 ± 0,53<br /> - 12,60<br /> 25,00<br /> 15,97<br /> 2,21 ± 0,47<br /> 3,33 ± 0,38*<br /> 3,70 ± 0,60*<br /> 6,80<br /> 40,93<br /> 39,43<br /> 2,29 ± 0,64<br /> <br /> 3,25 ± 0,67*<br /> <br /> 3,39 ± 1,0*<br /> <br /> 12,40<br /> <br /> 25,91<br /> <br /> 25,87<br /> <br /> p so với lô 1<br /> > 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> < 0,05<br /> <br /> p < 0,05: So sánh với thời điểm sau 4 tuần<br /> <br /> Kết quả bảng 3 cho thấy nồng độ cholesterol máu toàn phần ở lô chuột có chế độ ăn giàu lipid<br /> tăng cao rõ rệt so với lô chứng bắt đầu ở thời điểm sau 6 tuần. Tuy nhiên, sự tăng cholesterol rõ<br /> rệt nhất là sau 10 tuần.<br /> * Sự biến đổi nồng độ triglycerid máu của các lô chuột tại các thời điểm nghiên cứu<br /> Kết quả bảng 4 cho thấy nồng độ triglycerid máu của lô ăn chế độ ăn giàu lipid từ tuần thứ 6 trở<br /> đi tăng lên rõ rệt so với lô chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.<br /> <br /> 281<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Bùi Thị Quỳnh Nhung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 279 – 283<br /> <br /> Bảng 4. Sự biến đổi nồng độ triglycerid máu của các lô chuột tại các thời điểm nghiên cứu<br /> Triglycerid máu (mmol/l) n = 10<br /> p so với lô 1<br /> Lô 2<br /> Lô 3<br /> Sau 4 tuần<br /> 2,11 ± 0,21<br /> 2,16 ± 0,33<br /> > 0,05<br /> Sau 6 tuần<br /> 2,54 ± 0,07*<br /> 2,66 ± 0,10*<br /> > 0,05<br /> % tăng<br /> 21,34<br /> 24,78<br /> Sau 8 tuần<br /> 2,50 ± 0,40*<br /> 2,36 ± 0,41<br /> > 0,05<br /> % tăng<br /> 19,18<br /> 11,29<br /> Sau 10 tuần<br /> 3,06 ± 0,78*<br /> 2,88 ± 0,27*<br /> < 0,05<br /> % tăng<br /> 45,49<br /> 35,71<br /> Sau tiêm STZ 72h<br /> 2,76 ± 0,38*<br /> 2,83 ± 0,28*<br /> < 0,05<br /> % tăng<br /> 31,86<br /> 33,02<br /> p < 0,05: So sánh với thời điểm sau 4 tuần<br /> Bảng<br /> 6.<br /> Ảnh hưởng của Vinabetes lên nồng độ<br /> Tác dụng hạ glucose máu của Vinabetes<br /> cholesterol toàn phần của chuột cống trắng<br /> Bảng 5. Ảnh hưởng của Vinabetes lên nồng độ<br /> Nồng độ cholesterol<br /> glucose huyết của chuột cống trắng<br /> Lô chuột<br /> toàn phần (mmol/l)<br /> Nồng độ glucose huyết<br /> To<br /> Tc<br /> Lô chuột<br /> mmol/l (X ± SE)<br /> Lô 1: Chuột bình 2,29<br /> ± 2,03 ± 0,22<br /> thường + Nước cất<br /> 0,64<br /> To<br /> Tc<br /> Lô 2: Chuột ĐTĐ<br /> 3,39 ±<br /> 2,78 ± 0,66<br /> Lô 1: Chuột bình<br /> 6,03 ±<br /> 6,07 ± 1,32<br /> Nước cất<br /> 1,0<br /> p > 0,05<br /> thường + Nước cất<br /> 1,89<br /> Lô 3: Chuột ĐTĐ<br /> 3,51 ±<br /> 2,89 ± 0,84<br /> Gliclazid 20mg/kg<br /> 0,46<br /> p > 0,05<br /> Lô 2: Chuột ĐTĐ<br /> 10,23 ±<br /> 7,78 ± 0,65<br /> Lô<br /> 4:<br /> Chuột<br /> ĐTĐ<br /> 4,22<br /> ±<br /> 2,99<br /> ± 0,39<br /> Nước cất<br /> 2,13<br /> Vinabetes 3 g/kg<br /> 1,98<br /> p > 0,05<br /> Lô 3: Chuột ĐTĐ<br /> 10,21 ±<br /> 5,72 ± 0,67<br /> Bảng 7. Ảnh hưởng của Vinabetes lên nồng độ<br /> Gliclazid 20mg/kg<br /> 0,83<br /> p < 0,05<br /> triglycerid máu của chuột cống trắng<br /> Lô 4: Chuột ĐTĐ<br /> 10,16 ±<br /> 5,72 ± 0,82<br /> Nồng độ triglycerid<br /> Vinabetes 3g/kg<br /> 0,94<br /> p < 0,05<br /> máu<br /> mmol/l (X ± SE)<br /> Lô chuột<br /> To<br /> Tc<br /> Kết quả bảng 5 cho thấy: nồng độ glucose<br /> Lô<br /> 1:<br /> Chuột<br /> bình<br /> 2,34<br /> ±<br /> 0,39<br /> 2,10<br /> ±<br /> huyết ở những lô chuột được tiêm STZ (lô 2,<br /> thường<br /> 0,37<br /> 3, 4) tăng lên rõ rệt so với lô chứng (p <<br /> Nước cất<br /> 0,05). Vinabetes liều 3g/kg thể trọng chuột,<br /> Lô 2: Chuột ĐTĐ + 2,83 ± 0,28<br /> 2,75 ±<br /> Nước cất<br /> 0,37<br /> uống liên tục trong 2 tuần có tác dụng làm hạ<br /> p > 0,05<br /> glucose huyết rõ rệt (p < 0,05), tác dụng của<br /> Lô 3: Chuột ĐTĐ<br /> 3,05 ± 0,51<br /> 2,51 ±<br /> Vinabetes tương đương với gliclazid liều<br /> Gliclazid 20mg/kg<br /> 0,34<br /> p<br /> <<br /> 0,05<br /> 20mg/kg thể trọng chuột (p > 0,05).<br /> Lô 4: Chuột ĐTĐ<br /> 3,37 ± 0,45<br /> 2,96 ±<br /> Bảng 3.6, 3.7 cho thấy: Nồng độ triglycerid ở<br /> Vinabetes 3 g/kg<br /> 0,16<br /> p < 0,05<br /> hai lô uống gliclazid và Vinabetes giảm nhiều<br /> Thời gian<br /> <br /> Lô 1<br /> 1,85 ± 0,84<br /> 2,50 ± 0,07<br /> 18,78<br /> 2,04 ± 0,17<br /> - 4,81<br /> 2,37 ± 0,15<br /> 12,03<br /> 2,34 ± 0,39<br /> 10,85<br /> <br /> so với thời điểm trước uống thuốc với sự khác<br /> biệt có ý nghĩa (p < 0,05), nồng độ cholesterol<br /> ở cả ba lô đều giảm không có sự khác biệt có<br /> ý nghĩa thống kê.<br /> <br /> KẾT LUẬN Vinabetes liều 3 g/kg/ngày liên<br /> tục trong 2 tuần làm giảm nồng độ glucose<br /> máu (44%) trên chuột cống trắng được gây<br /> mô hình đái tháo đường typ 2 bởi chế độ ăn<br /> giàu chất béo kết hợp với STZ liều thấp.<br /> <br /> 282<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Bùi Thị Quỳnh Nhung và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Tạ Văn Bình (2007), “Những nguyên lý nền<br /> tảng bệnh đái tháo đường - tăng glucose máu”,<br /> Nhà xuất bản Y học.<br /> [2]. Nguyễn Thị Hương Giang (2004), Nghiên cứu<br /> tác dụng hạ đường huyết của Mangiferin chiết<br /> xuất từ Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides<br /> bunge) trên chuột nhắt trắng, Luận văn thạc sỹ y<br /> học.<br /> [3]. Phùng Thanh Hương (2010), Nghiên cứu tác<br /> dụng hạ glucose huyết và ảnh hưởng trên chuyển<br /> hóa glucose của dịch chiết lá bằng lăng nước<br /> (Lagertroemia speciosa (L.) Pers) ở Việt Nam,<br /> Luận án tiến sĩ dược học.<br /> [4]. Vũ Ngọc Lộ (2006), “Những dược liệu có tác<br /> dụng hạ đường huyết và trị tiểu đường”, Tạp chí<br /> dược học, (1), tr 5,6,34.<br /> [5]. Đào Văn Phan, Nguyễn Khánh Hòa, Nguyễn<br /> Duy Thuần (2003), “Nghiên cứu sàng lọc tác dụng<br /> hạ đường huyết của Sinh địa, Móng trâu, Giảo cổ<br /> lam và Tri mẫu”, Tạp chí Nghiên cứu y học 21, tr<br /> 1 - 6.<br /> [6]. Viện dinh dưỡng (2007), Bảng thành phần<br /> thực phẩm Việt Nam, Bộ Y tế.<br /> [7]. Huyen VT, Phan DV, Thang P, Hoa NK,<br /> Ostenson CG (2010), “Antidiabetic effect of<br /> Gynostemma pentaphyllum tea in randomly<br /> <br /> 89(01/2): 279 – 283<br /> <br /> assigned type 2 diabetic patients”, Horm Metab<br /> Res 42(5), pp. 353 - 357.<br /> [8]. Barun Kanti Saha, Md. Nurul Huda Bhuiyan,<br /> Kishor Mazumder and K.M. Formuzul Haque<br /> (2009), “Hypoglycemic activity of Lagerstroemia<br /> speciosa L. extract on streptozotocin-induced<br /> diabetic rat: Underlying mechanism of action”,<br /> Bangladesh J Pharmacol (4), pp. 79 - 83.<br /> [9]. Judy WV. (2003), “Antidiabetic activity of a<br /> from<br /> standardized<br /> extract<br /> (GlucosolTM)<br /> Lagertroemia speciosa leaves in type II diabetics:<br /> a<br /> dose-dependence<br /> study”,<br /> Journal<br /> of<br /> ethnopharmacology 87, pp. 115 - 117.<br /> [10]. K. Srinivasan, B. Viswanad, Lydia Asrat, C.<br /> L. Kaul, P. Ramarao (2005), “Combination of<br /> hight-fat diet-fet and low-dose streptozocin-treated<br /> rat: A model for type 2 diabetes and<br /> pharmacological screening”, Pharmacological<br /> Research 52, pp. 313 - 320.<br /> [11]. Norberg A, Nguyen Khanh Hoa, Dao Van<br /> Phan, Nguyen Duy Thuan (2004), “A Novel<br /> Insulin-releasing Substance, Phanoside, from the<br /> plant Gynostemma pentaphyllum”, Journal of<br /> Biologycal Chemistry 279, pp. 41361 – 41367.<br /> [12]. Shi L., Zhang W., Zhou YY. (2008),<br /> “Corosolic acid stimulatetes glucose uptake via<br /> anhancing insulin receptor phosphorylation”,<br /> European Journal of Pharmacology 584, pp. 21 - 29<br /> <br /> SUMMARY<br /> STUDY ON HYPOGLYCEMIC ACTION OF VINABETES IN<br /> EXPERIMENTAL SEWER-RATS WITH TYPE 2 DIABETES<br /> Bui Thi Quynh Nhung*1, Nguyen Trong Thong2,<br /> Pham Thi Van Anh2, Pham Huu Đien3<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> Ha Noi Medical University,<br /> Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy<br /> 3<br /> Ha Noi NationalUuniversity of Education<br /> <br /> Study on hypoglycemic action of Vinabetes in experiments .<br /> Objective: To evaluate hypoglycemic actions of Vinabetes in sewer rats with type 2 diabetes .<br /> Method: sewer rats with type 2 diabetes were taken Vinabetes for 2 weeks to study its<br /> hypoglycemic action.<br /> Results: Vinabetes had hypoglycemic actions in experimental sewer rats with type 2 diabetes .<br /> Key word: Vinabetes, type 2 diabetes , hypoglycemia in, experimental animals.<br /> <br /> *<br /> <br /> 283<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản