intTypePromotion=1

Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước cách mạng tháng tám

Chia sẻ: ViCaracas2711 ViCaracas2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
27
lượt xem
2
download

Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước cách mạng tháng tám

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tô Hoài (1920-2014) là nhà văn luôn ý thức sâu sắc về việc sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong sáng tác nghệ thuật và qua các chặng đường sáng tác, Tô Hoài trở thành một trong những “bậc thầy” về ngôn ngữ văn chương. Nếu ngôn từ nghệ thuật là sự vận dụng ngôn từ của đời sống qua sáng tạo của người nghệ sĩ thì Tô Hoài đã tạo ra những giá trị đặc biệt trong ngôn từ nghệ thuật qua những truyện ngắn trước cách mạng, những truyện đánh dấu thành công trong chặng sáng tác đầu tiên của Tô Hoài.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước cách mạng tháng tám

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2015-00033<br /> Social Sci., 2015, Vol. 60, No. 5, pp. 52-58<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA TÔ HOÀI<br /> TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM<br /> <br /> Vũ Thị Nga<br /> Khoa Khoa học Xã hội, Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương<br /> <br /> Tóm tắt. Tô Hoài (1920-2014) là nhà văn luôn ý thức sâu sắc về việc sử dụng ngôn ngữ<br /> Tiếng Việt trong sáng tác nghệ thuật và qua các chặng đường sáng tác, Tô Hoài trở thành<br /> một trong những “bậc thầy” về ngôn ngữ văn chương. Nếu ngôn từ nghệ thuật là sự vận<br /> dụng ngôn từ của đời sống qua sáng tạo của người nghệ sĩ thì Tô Hoài đã tạo ra những giá<br /> trị đặc biệt trong ngôn từ nghệ thuật qua những truyện ngắn trước cách mạng, những truyện<br /> đánh dấu thành công trong chặng sáng tác đầu tiên của Tô Hoài. Ở những truyện ngắn này,<br /> Tô Hoài đã sử dụng hệ thống từ dân dã, gần với cuộc sống đời thường, ngôn từ hài hước, dí<br /> dỏm pha chút tinh quái và ngôn từ giàu chất thơ. Những đặc điểm này biểu hiện qua cách<br /> kể truyện, cách miêu tả và cách xây dựng nhân vật. Tô Hoài đã lựa chọn từ ngữ một cách<br /> kỹ lưỡng và có nhiều sáng tạo trong việc kể chuyện, tả cảnh, tả phong tục và khắc họa tính<br /> cách nhân vật. Ngôn từ thể hiện cảm quan nghệ thuật, sự tâm huyết của ông đối với nghề<br /> văn, một nghề mà ông gắn bó suốt cuộc đời.<br /> Từ khóa: Ngôn ngữ đời thường, hài hước, giàu chất thơ, gìn giữ ngôn ngữ Tiếng Việt, sáng<br /> tạo ngôn ngữ.<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Tô Hoài (1920-2014) là tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn luôn<br /> ý thức sâu sắc về việc sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong sáng tác nghệ thuật và qua các chặng<br /> đường sáng tác, Tô Hoài trở thành một trong những “bậc thầy” về ngôn ngữ văn chương.<br /> Trong lịch sử nghiên cứu tác giả Tô Hoài, các nhà phê bình văn học trong nước đều quan<br /> tâm đến ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn và đã có những khảo sát khá cụ thể việc<br /> sử dụng ngôn từ của Tô Hoài.Tiêu biểu là các bài viết của tác giả Phan Cự Đệ [2], Hà Minh Đức<br /> [3], Trần Hữu Tá [6], Trần Đăng Suyền [9,10], Đoàn Trọng Huy [4] đã bàn đến một số đặc điểm<br /> trong ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài và lí giải cội nguồn của đặc điểm ngôn ngữ xuất phát từ<br /> cảm quan nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên các bài viết chưa đi sâu vào phân tích từng đặc điểm<br /> trong ngôn từ nghệ thuật của Tô Hoài, càng chưa có sự khảo sát những biểu hiện của đặc điểm đó<br /> trong hệ thống các sáng tác của Tô Hoài. Các nhà nghiên cứu phê bình văn học ngoài nước càng<br /> ít có điều kiện tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài. Một số nhà nghiên cứu<br /> văn học Nga như Niculin, G.Gôlôpnep, Xtơrugatxki [8] mới chỉ bàn tới thành công của Tô Hoài ở<br /> các tác phẩm viết cho thiếu nhi như Dế Mèn phiêu lưu ký, Đảo Hoang. . . Trong bài viết này, người<br /> <br /> Ngày nhận bài: 15/1/2015 Ngày nhận đăng: 09/5/2015<br /> Liên hệ: Vũ Thị Nga, e-mail: vunga.cdhd@gmail.com<br /> <br /> <br /> 52<br /> Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám<br /> <br /> <br /> viết khẳng định những đóng góp của Tô Hoài về ngôn từ nghệ thuật từ chặng sáng tác đầu tiên,<br /> sáng tác trước cách mạng trong đó truyện ngắn giữ vai trò quan trọng. Người viết chỉ ra những đặc<br /> điểm ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài và hiệu quả của việc sử dụng các hệ thống<br /> ngôn ngữ Tiếng Việt trong sáng tác của nhà văn. Ngôn từ nghệ thuật hình thành nên phong cách<br /> nghệ thuật Tô Hoài và những đặc điểm ngôn từ, phong cách nghệ thuật còn được biểu hiện trong<br /> suốt quá trình sáng tác của nhà văn sau cách mạng.<br /> <br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Ngôn từ dân dã, gần với đời thường<br /> Cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài là cảm quan hiện thực đời thường. Cảm quan ấy chi phối<br /> cách lựa chọn đề tài, nhân vật và ngôn từ tương ứng. Những truyện ngắn trước cách mạng của ông<br /> chủ yếu viết về cuộc sống nơi làng quê nghèo ngoại thành Hà Nội trong đó có số phận của những<br /> con người nhỏ bé. Đề tài ông khai thác không mới so với đề tài chung của văn học hiện thực nhưng<br /> sức hấp dẫn trong tác phẩm của ông là cách kể chuyện. Tô Hoài đã kể về những mảnh đời lam lũ,<br /> nghèo khó ở chốn quê bằng chính ngôn từ dân dã, mộc mạc và cách nói tự nhiên của người lao<br /> động.<br /> Trước Tô Hoài, Ngô Tất Tố đã kể về cuộc sống của người lao động bằng lời văn có phần dân<br /> dã khi sử dụng nhiều khẩu ngữ, thành ngữ; Nam Cao cũng đã kể về cuộc sống của những người<br /> ở chốn quê bằng giọng xót xa xen lẫn chiêm nghiệm, suy ngẫm. Đọc truyện ngắn của Tô Hoài, ta<br /> nhận ra một lối kể tự nhiên theo “cách” của người nhà quê bởi ông sử dụng nhiều khẩu ngữ, thành<br /> ngữ, tục ngữ trong lời kể. Thống kê 194 trang truyện (Phần truyện ngắn) của Tuyển tập Tô Hoài,<br /> Tập 1, NXB Văn học Hà Nội 1987có gần 300 khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ. Một trang trung bình<br /> có 1 đến 2 khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ. Sự sáng tạo của nhà văn về mặt ngôn từ là ông sắp xếp<br /> lượng khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ hợp lí trong lời kể để cách kể chuyện của ông tự nhiên mà<br /> không dễ dãi.<br /> Đọc các tác phẩm viết về người nhà quê của Ngô Tất Tố và Nam Cao ta vẫn thấy có khoảng<br /> cách giữa người kể chuyện và chuyện được kể. Dường như người kể chuyện thuật lại những gì đã<br /> quan sát, đã cảm nhận và từ lời kể khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc. Đọc truyện ngắn của Tô<br /> Hoài trước cách mạng, thấy mạch truyện tuôn chảy theo lời trần thuật của người trong cuộc hay tác<br /> giả đã “hóa thân” vào sự việc rất sâu.Người kể dường như đã nhập vai người được kể “Người ta ào<br /> ào kéo đi xem. Hóa ra không phải. Câu chuyện xoay nghiêng ra thế này: chẳng biết có một điều gì<br /> bực dọc, bà Móm giận con trai và nàng dâu. Không giận vừa vừa mà bà giận quá. Thế là cơn tức<br /> bừng bừng lên. Bà xắn hai mép váy, xăm xăm chạy ra ngoài ao giếng. Bà la vang cho cả bốn bên<br /> hàng xóm và cho vợ chồng thằng cả Mí biết rằng bà đương đi đâm đầu xuống ao đây” (Chớp bể<br /> mưa nguồn) [3;170]. Nếu là lời kể của người kể chuyện sẽ không có “vợ chồng thằng cả Mí” chỉ<br /> có bà Móm - người mẹ cùng con trai, con dâu bà xuất hiện trong lời kể khách quan. Khi đưa cụm<br /> từ có tính chất khẩu ngữ “vợ chồng thằng cả Mí”, “đâm đầu xuống ao đây” vào lời kể, Tô Hoài đã<br /> làm bật ra được cơn tức của bà Móm theo cách nói, cách nghĩ mộc mạc của người dân quê.<br /> Không phải lúc nào Tô Hoài cũng mượn lời nhân vật để kể chuyện của làng quê. Có lúc ông<br /> ở vai người kể chuyện nhưng kể chuyện làng xã bằng giọng của người nhà quê chính gốc, không<br /> uốn éo, bắt chước lối văn chương lãng mạn với những từ hoa mĩ mà sử dụng hệ thống ngôn từ của<br /> cuộc sống thường nhật “Ngày ấy, anh yêu một người con gái làng. Cô Pha. Hai người yêu nhau<br /> lăn lóc, mê tơi. Cả làng đồn ầm lên rằng thế nào tay đôi ấy cũng lấy nhau. Và chính cả tay đôi ấy<br /> cũng tin chắc chắn như thế. Yêu nhau rồi lấy nhau. Những ngày tháng sắp đến, bấm đốt ngón tay<br /> <br /> 53<br /> Vũ Thị Nga<br /> <br /> <br /> mà tính trước được” (Một người ở xa về) [3;206]. Trong lời kể có “anh”, có “cô”, có “đôi ấy”, hai<br /> nhân vật và câu chuyện tình của họ nhưng cách dùng khẩu ngữ “lăn lóc, mê tơi”, thành ngữ “bấm<br /> đốt ngón tay” làm cho mối tình chân quê hiện ra như chính cuộc sống nơi đó. Trả về cho sự việc<br /> và những chuyện của chốn quê bản chất thực để từ đó mà gửi gắm niềm thương cảm sâu xa trước<br /> cuộc sống thôn quê, con người ở chốn quê. Đó là cách kể mang nét riêng của Tô Hoài trong đó hệ<br /> thống ngôn từ dân dã đời thường giữ vai trò biểu đạt chính.<br /> Những sáng tạo của Tô Hoài trong việc sử dụng hệ thống ngôn từ dân dã, gần với đời thường<br /> còn được biểu hiện qua nghệ thuật tả cảnh. Trước Tô Hoài, văn chương Tự lực văn đoàn rất chú<br /> trọng tả cảnh. Những cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng làm nền cho cảm xúc lãng mạn của các chàng<br /> và nàng khi đến với tình yêu “Ánh sáng buổi chiều đều đều và êm dịu; tiếng sáo diều ở đâu rất xa<br /> đưa lại, nhẹ như hơi gió. Dũng cảm thấy có một sự hòa hợp nhịp nhàng giữa cảnh chiều và lòng<br /> chàng lúc đó” [5;95]. Khác với các nhà văn lãng mạn, các nhà văn hiện thực ít tả cảnh. Nếu có tả<br /> cảnh cũng bằng nhãn quan hiện thực, cảnh đánh thức những ham muốn bản năng của con người<br /> hơn là khao khát yêu đương thiên về tinh thần như trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Tô Hoài có<br /> biệt tài tả cảnh sinh hoạt ở làng quê. Ông biết tận dụng hệ thống từ láy giàu sức gợi hình để hình<br /> ảnh con người cùng với sinh hoạt quen thuộc chốn quê hiện ra sống động “Bấy giờ khắp làng bày<br /> ra một cảnh lạ mắt. Ở các ngõ lố nhố chạy từng đám người. Đàn ông thì cởi trần trùng trục, đánh<br /> khố đơn. Đàn bà phong phanh cái yếm, đội sùm sụp chiếc nón. Còn trẻ con thì trần truồng như<br /> những viên đá cuội” (Nhà nghèo) [3;154]. Mỗi từ láy gây ấn tượng về một đối tượng đang sống ở<br /> chốn quê: đàn ông, đàn bà, trẻ con.Tất cả đều đơn giản, tuềnh toàng trong cách ăn mặc cũng như<br /> trong lối sống. Cảnh đi xem lễ hội đông đúc ở chốn quê cũng được miêu tả hết sức sinh động và rất<br /> gần gũi qua ngôn từ dân dã “Hôm đó, từ buổi trưa, sân đình đã đông ngộn, ghế người lên. Người<br /> đứng chen nhau, đen ngòm. Không một chỗ hở đủ cho đưa được một bước chân. Nghẹt quá, không<br /> thở được, trẻ con khóc inh ỏi như một đàn lợn bị chọc tiết” (Mùa ăn chơi) [3;225].<br /> Ở truyện ngắn của Tô Hoài trước cách mạng, chủ yếu là các nhân vật ở chốn quê và ông chú<br /> ý khắc họa tính cách “người quê” qua các cuộc đối thoại. Ông “để” họ nói chuyện với nhau theo<br /> kiểu của người nhà quê. Đó là cách nói có vận dụng nhiều khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ dân gian.<br /> Trong số 63 cuộc đối thoại trong truyện ngắn trước cách mạng thì có gần một nửa cuộc đối thoại<br /> có sử dụng khẩu ngữ, thành ngữ. Trong khẩu ngữ, lớp từ thông tục cũng được Tô Hoài “đặt” vào<br /> miệng nhân vật một cách tự nhiên, không chút gượng ép. Tô Hoài thường khơi ra từ những cuộc<br /> cãi cọ thường ngày của các cặp vợ chồng nghèo khó ở chốn quê vấn đề thân phận con người. Chỉ<br /> toàn cái “chẳng đâu vào đâu” mà chồng vợ cãi vã, xỉ vả nhau, làm cho nhau khổ. Không có cái bi<br /> thảm, dữ dội qua cái chết của các nhân vật là nông dân cùng quẫn như anh Đĩ Chuột trong truyện<br /> Nghèo của Nam Cao, chỉ thấy một nỗi xót xa dịu nhẹ, buồn thương mênh mang cho những cuộc<br /> đời mòn mỏi trong cái đói, cái nghèo:<br /> “Lão Múi cười khẩy đấy. Bà lão biết, và bà lão lấy thế làm sốt ruột. Bà cũng cười nhưng<br /> cười nhạt:<br /> - Mát mẻ gì thế?<br /> - Hừm! Ông lại thèm mát mẻ đứa nào à? Này, ông bảo thực. . . Này ông bảo thực cho mà<br /> biết. . .<br /> - Biết cái gì?<br /> - Ông không phải là con chó, biết chửa? Cu soong, Bú dù cái nhà quê nhà mày!<br /> - À! à. . . Ông có là chó đâu, ông có là chó đâu, ông chỉ được ăn hai bát cơm ngữ. Con chó<br /> thì vào nồi rồi (Ông dỗi) [3;239].<br /> <br /> <br /> 54<br /> Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám<br /> <br /> <br /> Có lẽ, trong các nhà văn hiện thực, Tô Hoài là người sử dụng những từ thông tục một cách<br /> rất dễ dàng nhưng lại có chừng mực thể hiện đúng bản chất người nhà quê. Họ thường nói huỵch<br /> toẹt những gì muốn nói, nhất là những lúc tức bực, lớp từ “tục” giúp họ giải tỏa nỗi bực bõ và điều<br /> đó chứng tỏ Tô Hoài không thi vị hóa nhân vật mà luôn quan tâm đến bản tính người trong các<br /> nhân vật của đời thường.<br /> 2.2. Ngôn từ hài hước, dí dỏm pha chút tinh quái<br /> Tô Hoài sống gần với người lao động, hiểu nỗi khổ và hiểu cả tâm tính của họ. Một đặc<br /> điểm trong tính cách của người lao động là tính hài hước. Họ ưa hài hước và biết cách hài hước.<br /> Tô Hoài đã học được từ người lao động cách nói hài hước, dí dỏm và pha chút tinh quái của riêng<br /> ông. Tinh tế và tinh quái, Tô Hoài thường phát hiện những cảnh ngộ trớ trêu trong cuộc sống đời<br /> thường và có biệt tài sử dụng lớp từ gợi hình để liệt kê tỉ mỉ từng chi tiết của những cảnh ngộ trớ<br /> trêu đó. Cái cười ra nước mắt trước cái đói cái no pha trộn, cái buồn liền kề cái vui, bi kịch xen<br /> hài kịch của kiếp người nghèo đã được Nam Cao kể bằng giọng hài hước kín đáo qua truyện Một<br /> bữa no hay Một đám cưới, đến Tô Hoài, chuyện đáng cười của một người “ăn cho bõ tức” đến mức<br /> phải chịu “hậu quả” được kể bằng giọng hài hước, dí dỏm pha chút tinh quái. Ông thấu hiểu được<br /> “điểm yếu” của nhân vật và phô bày nó một cách tự nhiên và có vẻ tinh quái “Quả nhiên. Suốt đêm<br /> đó, lão Múi không chợp được mắt. Những quân vô danh vô thức nổi loạn trong bụng lão, kéo binh<br /> đi rầm rầm, ục ục. . . Lão nằm một tí, lại chạy ra đầu nhà. Lão nằm một tí. Lão lại phải chạy ra<br /> đầu nhà. Cứ thế! Cứ thế! Đến tận sáng bạch. Sáng ngày ra, ông mặt trời ló xuống, xiên vào ngắm<br /> nghía cái mặt tái ngoét của lão già. Những chòm râu vô tri dường như cũng phờ phạc, ngơ ngác.<br /> Lão nhọc quá, mệt quá” (Ông dỗi) [3;243]. Hàng loạt động từ nối tiếp, kết cấu câu lặp lại diễn tả<br /> trạng thái cuống cuồng của một người đi tháo dạ lại phải dấu che sự “trục trặc” của mình với người<br /> thân thành ra trớ trêu, buồn cười. Ta cười mà thương cho “cảnh trớ trêu” của những người trót “dỗi<br /> vợ” để phải rước vạ vào thân.<br /> Tô Hoài rất tinh nhạy khi phát hiện những cái bất bình thường trong những con người của<br /> đời thường. Sự bất bình thường ấy thường do một tác động nào đó của cuộc sống. Không chỉ giỏi<br /> phát hiện mà ông còn dùng ngôn từ hài hước, dí dỏm để miêu tả những cái “hơi trái lẽ thường”<br /> của con người. Đó là cái cách anh Cuông bày tỏ tình yêu với cô Mì trong truyện Lá thư tình đầu<br /> tiên. Nếu Cuông yêu Mì theo kiểu cổ điển như bao đời người quê vẫn yêu thì chuyện tình của anh<br /> chẳng có gì đáng nói. Cách yêu của Cuông khác với trai làng xưa nay là muốn bày tỏ tình yêu theo<br /> lối của người có học và “hiện đại”: viết thư. Điều đáng cười là Cuông “viết thư” nhưng lại chưa<br /> học chữ vỡ “con chữ”. Cái cảnh anh cố gắng dãi bày lòng mình trên trang giấy thật khó nhọc đến<br /> mức đáng thương. “Anh xé ở cuối vở ra một trang giấy. Anh đặt lên trên bìa sách, vuốt hai mép cho<br /> thật phẳng, rồi từ từ nằm bò xuống. Cái bút chấm vào lọ mực tím cứ hí hoáy đưa ngòi bút. Chiếc<br /> ngòi bút sắt, bên ánh đèn, lấp lánh màu mực, đưa đi theo dòng kẻ, như ngượng nghịu reo lên cồn<br /> cột vì được gặp mặt tờ giấy trắng. Một chữ, lại ngừng. Một chữ viết, lại rụt rè xóa. Có khi cố gắng<br /> và đam mê công việc quá, Cuông ngoẹo cổ, trợn lồi mắt lên, méo xệch mồm để đẩy nét chữ o cho<br /> được tròn trịa” (Lá thư tình đầu tiên) [3;180]. Dáng vẻ khổ sở của anh trai si tình muốn “làm mới”<br /> tình yêu được phóng đại đôi chút qua một loạt động từ đặt trong các câu liệt kê hành động khiến<br /> người đọc buồn cười nhưng là cái cười nhẹ nhàng vì chút “gồng mình” của Cuông cũng dễ gặp ở<br /> những ai thích khoe mẽ với đời.<br /> Làng quê của Tô Hoài cũng chịu tác động của quá trình “Âu hóa” nên ông hay nhận ra<br /> những cái khác thường của các nhân vật “mới nổi” ở làng quê. Khi khắc họa chân dung của các<br /> nhân vật “trưởng giả học làm sang” ở chốn quê, ông hay dùng động từ và từ láy. Về điểm này, Tô<br /> <br /> 55<br /> Vũ Thị Nga<br /> <br /> <br /> Hoài có phần giống Nguyễn Công Hoan khi khắc họa chân dung tầng lớp quan lại. Để tạo điểm<br /> nhấn về cái bất bình thường của ngoại hình nhân vật, ông dùng hệ thống động từ: “Ông đi khệnh<br /> khạng với điệu vung vinh ghê. Mặt ông vểnh lên. Hai cánh ria mũi mác đen đen cũng vểnh ra. Hai<br /> cái ria, nom thú vị lạ. Nó tựa như ai viết một chữ bát vào giữa mặt ông nhang Chỉnh. Cái chữ bát<br /> hơi mấp máy, động đậy. Ấy là lúc ông đương hể hả lắm. Ông đương sửa soạn một nụ cười tủm”<br /> (Bức vẽ truyền thần) [3;290]. Trong miêu tả ngoại hình, Tô Hoài thường chú ý tả mặt. Cái thói háo<br /> danh của ông nhang Chỉnh được lột tả qua cái mặt được tô vẽ hào nhoáng mà trơ trẽn “Ông nhang<br /> Chỉnh chít khăn đen nhánh. Cái mặt ông thực hệt là... cái mặt ông. Đủ hai tai, hai mắt, mắt có lông<br /> mày cẩn thận. Trên mồm, chỉnh chện hai cái mác ria đen nhọn hoắt. Sao mà khéo thế, tài thế” (Bức<br /> vẽ truyền thần) [3;291]. Cụm từ “cái mặt ông” được ngắt quãng bởi từ so sánh và dấu ba chấm tạo<br /> nên bất ngờ trong suy nghĩ, hình dung của người đọc về nhân vật “học đòi”. Từ ngữ miêu tả sắc<br /> sảo kết hợp với lời bình tạo nên nét tinh quái, ngụ ý phê phán mỉa mai nhẹ nhàng mà sâu cay<br /> Với cảm quan hiện thực, kết hợp với khả năng quan sát tinh tế và vốn từ học được từ người<br /> lao động, Tô Hoài tả cái gì ra cái nấy, không nhạt nhòa vì đã thoát khỏi công thức miêu tả có sẵn.<br /> Đối với các nhân vật ở làng quê du nhập lối sống “đô thị” ông không có giọng đả kích gay gắt như<br /> Nguyễn Công Hoan, cũng không có giọng cay độc như Vũ Trọng Phụng, giọng mỉa mai chua chát<br /> như Nam Cao mà có giọng nhẩn nha, nhẹ nhàng. Ông tả cụ thể từng chi tiết để từ những chi tiết<br /> lộ ra sự bất bình thường ở người đàn ông nhà quê theo đòi người “kẻ chợ” “Người ấy, đầu đội một<br /> chiếc mũ cát két bằng vải mông ta nhắc, sọc đen sọc trắng lẫn lộn. Cái lưỡi trai lật ngược ra đằng<br /> sau gáy, tỏ vẻ một tay ăn chơi. Chiếc áo bành tô vàng sọng có một chuỗi khuy đồng trước ngực. Ở<br /> cửa tay, ở hai bên cổ, ở những miệng túi, cả ở hai bên ngực, cũng rải rác những khuy nhỏ. Làm gì<br /> mà lủng củng những khuy. Và đến túi cũng lắm. Túi nhỏ, túi lớn. Túi ở hai bên bẹn, túi ở hai bên<br /> ngực, túi ở hai bên trong lườn. Giá mà để đựng tiền thì đựng biết bao nhiêu tiền cho đầy” (Một<br /> người đi xa về) [3;203]. Kiểu liệt kê “ở”; “ở”, “cả ở”, lặp từ “túi” (5 lần), khuy (3 lần) đã hướng<br /> sự chú ý của người đọc đến những cái chướng mắt trong trang phục của “người ấy”. Thêm một từ<br /> thông tục “hai bên bẹn” cho biết “người ấy” trong cách đánh giá của dân làng như thế nào. Anh ta<br /> học làm sang nhưng vẫn lòi cái đuôi thô kệch của dân quê và sự thay đổi của anh ta đáng chê hơn<br /> đáng khen. Giả sử thay từ “bẹn” bằng từ “hông” thì có lẽ tính cách và nhân cách của “người ấy” sẽ<br /> được nhìn ở một góc độ khác.<br /> Tả thế giới loài vật, Tô Hoài vẫn giữ giọng hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Ông phát hiện những đặc<br /> tính của các con vật và miêu tả rất sinh động bằng giọng hài hước pha chút tinh quái khi gắn đặc<br /> tính của loài vật với đặc tính của con người “Con gà ri nhỏ bé cũng đa tình lắm. Nó có cái tật mê<br /> gái, như tính chung của loài gà - cả loài người, khi mới lớn lên. Nó yêu rất ham, mặc dù con đường<br /> tình của nó khó khăn và gặp nhiều trở ngại lớn” (Con gà trống ri) [3;302]. Thủ pháp nhân hóa<br /> phát huy tác dụng bởi tác giả sử dụng hệ thống ngôn từ giàu chất tạo hình và dí dỏm. Thế giới loài<br /> vật hiện lên sinh động và gợi suy ngẫm về tính cách con người trong những hoàn cảnh sống khác<br /> nhau.<br /> 2.3. Ngôn từ giàu chất thơ<br /> Điểm hấp dẫn trong ngôn từ của Tô Hoài trong lời tả là sự kết hợp giữa ngôn từ của đời<br /> thường giản dị, mộc mạc đôi khi khá thô tục nhưng cần thiết để cá thể hóa nhân vật và hệ thống<br /> ngôn từ giàu chất thơ. Hai đặc điểm của ngôn từ tưởng như khác biệt lại cùng thể hiện trong những<br /> trang viết của Tô Hoài tạo được sự bất ngờ, thú vị khi đọc văn của ông.<br /> Tô Hoài có tài quan sát cảnh sắc và truyền hồn vào cảnh sắc qua lối miêu tả đượm chất trữ<br /> tình. Ngôn từ trong các đoạn tả cảnh giàu nhạc điệu vì được sắp đặt rất khéo léo về thanh điệu và<br /> <br /> 56<br /> Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám<br /> <br /> <br /> hình ảnh “Làng ven sông có một phong cảnh khá nên thơ. Chiều chiều rợp nắng, chúng tôi thường<br /> ngồi thuyền mà đi dạo mát trên sông Đuống. Dòng sông Đào lờ đờ chảy giữa hai bên bờ chen<br /> nhau mọc những hàng dâu mát rượi, những rặng tre lả ngọn quyện trên mặt nước. Đằng xa, nổi<br /> lên nền lá xanh một dịp cầu tre mảnh khảnh. Cảnh trí hệt như một bức tranh thủy mặc” (Đi tắm<br /> đêm) [3;183]. Cảnh mùa xuân gợi cảm được khắc họa bằng những chi tiết hết sức nhẹ nhàng, êm<br /> ái. Mạch từ ngữ chậm bởi từng câu ngắn, lặp từ đều đều, gợi cảm giác lâng lâng vì có sự kết hợp<br /> hài hòa của thanh điệu trong câu và đọng ở những từ cuối câu “Đã có mưa bụi. Về buổi sáng, từng<br /> cơn mưa nhỏ rây bụi nước bay vân vân, phủ mịt mờ trong cánh đồng. Cỏ xanh rời rợi. Cây lên ngút<br /> ngàn. Mùa xuân mới sang rồi” (Mùa ăn chơi) [3;223]. Mùa xuân về với làng quê nhưng trong cách<br /> cảm nhận của một tâm hồn phơi phới lúc tuổi dậy thì lại ở các gam màu và đường nét chấm phá<br /> “Mùa xuân đã trở về, sang đầu tháng hai. Mọi làng đều có vào đám. Ngoài vườn, trên các lối xóm,<br /> những cây xoan gầy, thân mốc trắng, giơ lên những cẳng tay đen đủi, trơ trụi, đã trổ từng túm lá<br /> tơ. Trong những đám lá nhỏ, xanh rờn vân vân ấy, nhoi ra từng chùm nụ be bé. Gặp mưa bụi li ti,<br /> những chùm nụ nở hoa. Hoa xoan nhỏ cánh chấu, tim tím, trăng trắng, vừa nở lại vừa rụng phơi<br /> phới trong mưa xuân” (Vợ chồng trẻ con) [3;223].<br /> Giọng điệu nhẹ nhàng, giàu chất thơ làm nên một Tô Hoài lịch lãm mang chất Hà Thành<br /> đặc biệt khi viết về phong tục ở làng quê ngoại ô Hà Nội. Ngay từ những truyện ngắn đầu tiên,<br /> ông đã bộc lộ rõ sở trường đó khi lựa chọn ngôn từ thích hợp cho việc miêu tả phong tục “Năm<br /> ấy, làng Nghĩa Đô vào đám tháng hai. . . Bên góc sân, phía gốc đã dựng lên một rạp chèo. Bốn cái<br /> cọc tre, đỡ một nền sàn bằng ván gỗ vuông vắn, trên phủ một lá cót, che mưa nắng. Đêm đêm có<br /> hát chèo. Ngày mười một, các cụ trong làng phảng sắc vào một cái long đình, gõ chuông coong<br /> coong, rước loanh quanh thôn này qua thôn khác. Người ta nghỉ ngơi, ăn uống và tối đến lũ lượt<br /> ra cửa đình xem hát chèo” (Mùa ăn chơi) [3;224]. Lời văn gợi không khí cổ xưa qua những từ chỉ<br /> thời gian vừa cụ thể vừa ước lệ như trong truyện cổ tích. Cùng với lớp từ chỉ thời gian là từ chỉ<br /> hoạt động của con người nối nhau như điểm lại các sự việc từ bao đời thành nếp sống quen thuộc<br /> ở làng nhưng sao năm nào người ta cũng náo nức đợi chờ. Qua cách tả phong tục, Tô Hoài đã nâng<br /> niu giá trị văn hóa của làng quê.<br /> Bản lĩnh của nhà văn có nghề hiển hiện ngay trong lối tả thành thạo, kĩ càng mà không<br /> rườm rà, không nhạt. Cách tả ấy là điểm mạnh của Tô Hoài khi viết về thế giới loài vật. Ngôn từ<br /> giàu chất thơ đã giúp Tô Hoài viết về thế giới loài vật rất tinh tế và luôn giữ được vẻ hồn nhiên,<br /> trong sáng. Cuộc sống của Đôi ri đá được miêu tả rất lặng lẽ, bình dị: “Gió may trở về từ lâu, hiu<br /> hiu và hiền lành. Sáng hôm sau, trời đổ mưa xuống đều đều, nhưng không to lắm. Vòm không mù<br /> trắng những nước. Và trời cứ mưa đều đều, lai rai, nhỏ nhẻ như thế, hết ngày ấy sang ngày khác.<br /> Đôi chim ri cũng phải ở trong nhà. Chúng nằm do dó mà nhìn ra xem mưa. Chao ôi! Cái thứ trời gì<br /> mà cứ xối mãi nước xuống, xối mãi nước xuống. Mưa ba hôm, đôi chim bắt đầu thấy buồn buồn”<br /> [3;311]. Trong lời văn dịu nhẹ ẩn chứa một nỗi xót xa, ngậm ngùi cho thân phận nhỏ bé của loài<br /> chim và cũng là nỗi xót xa cho những kiếp người thấp cổ bé họng, muốn có sự bình yên cũng khó.<br /> Trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi đầu thế kỉ XX, Tô Hoài cũng như các nhà văn thời kì<br /> 1930-1945 ít dùng lời cảm để tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng tính khách quan của chủ nghĩa<br /> hiện thực. Tuy nhiên vẫn có thể nhận thấy một Tô Hoài đa cảm qua lời cảm xen trong lời kể. Không<br /> có lời triết lí về nhân sinh trong cuộc bể dâu và hay những lời đay nghiến trước đổi thay của lòng<br /> người, đen bạc của cuộc đời mà chỉ thấy những cảm xúc nhẹ nhàng, buồn lặng về một thời bình<br /> yên đã qua. Ngôn từ giàu chất thơ tạo nên giọng điệu hoài niệm vốn là một đặc điểm trong sáng<br /> tác của Tô Hoài.<br /> <br /> <br /> <br /> 57<br /> Vũ Thị Nga<br /> <br /> <br /> 3. Kết luận<br /> Trong cuộc cách tân mạnh mẽ của văn xuôi giai đoạn 1930-1945, Tô Hoài đã chọn một con<br /> đường riêng nhưng vẫn không xa rời trào lưu chung là góp phần hoàn thiện quá trình hiện đại hóa<br /> văn học nhất là ở phương diện ngôn từ nghệ thuật. Ông đã nắm bắt được nguồn mạch vô tận của<br /> ngôn ngữ đời sống và từ đó miệt mài chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với hiện thực mà ông miêu<br /> tả. Ông trở về với làng quê và nói bằng ngôn từ của làng quê nên văn ông rất gần gũi, giản dị. Sự<br /> sâu lắng chứa đựng trong cách nói nhẹ nhàng có sức chinh phục người đọc bởi sự chân thật.<br /> Tô Hoài không trong “tốp đầu” của văn học hiện thực bởi vì trước ông đã có các cây đại thụ<br /> của văn học hiện thực nhưng khi ông xuất hiện, người ta vẫn thấy một phong cách riêng độc đáo.<br /> Ông góp phần gìn giữ sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng Việt. Không phải là quá khi có nhà phê<br /> bình đã ca ngợi ông “Tô Hoài và Nguyễn Tuân đều là chuyên gia tiếng Việt siêu hạng. Họ là hai<br /> nhà văn rất Việt Nam trong số các nhà văn Việt Nam tiền chiến” [8;167]. Truyện ngắn chỉ là một<br /> mảng nhỏ trong các sáng tác của Tô Hoài trước cách mạng nhưng đã lóe lên những tia sáng của<br /> một tài năng.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> [1] Nam Cao, 2005. Tuyển tập truyện ngắn. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> [2] Phan Cự Đệ, 1974. Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Tập 1, Tập 2. Nxb Đại học và Trung học<br /> chuyên nghiệp, Hà Nội.<br /> [3] Hà Minh Đức, 1987. Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, tập 1. Nxb Văn học Hà Nội.<br /> [4] Đoàn Trọng Huy, 2002. Tô Hoài, Lịch sử Văn học Việt Nam. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> [5] Nhất Linh, 1990. Đôi bạn. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> [6] Trần Hữu Tá, 1990. Tô Hoài, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> [7] Ngô Tất Tố, 1987. Tắt đèn. Nxb Văn học, Hà Nội.<br /> [8] Nhiều tác giả, 2001. Tô Hoài về tác gia và tác phẩm. Nxb Giáo dục, Hà Nội.<br /> [9] Trần Đăng Suyền, 2010. Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nxb<br /> Khoa học Xã hội.<br /> [10] Trần Đăng Suyền, 2011. Đặc sắc ngôn ngữ nghệ thuật của Tô Hoài. Tạp chí Nghiên cứu văn<br /> học số 12 năm 2011.<br /> ABSTRACT<br /> The literary language in To Hoai’s short stories before August Revolution<br /> To Hoai (1920-2014) is the writer who was always deeply aware of using Vietnamese<br /> language in literary writing. Going through different stages of his writing career, he became a<br /> master of literary language. Assuming that literary language is the use of the language of life<br /> in the writer’s creation, To Hoai created special values in literary language expressed in his<br /> pre-revolutionary stories marking the success in the first phase of To Hoai’s writing career. In these<br /> short stories, To Hoai used a system of rustic, daily life language with a witty mischievous verbal<br /> humour as well as richly poetic words. These characteristics are shown in his way of storytelling<br /> together with describing and building characters. To Hoai chose his words carefully and showed<br /> his rich creativeness in telling stories, depicting landscapes, describing customs and portraying<br /> characters’ personality. To Hoai’s verbal system expressed his sense of art, and his devotion to the<br /> writing career to which he dedicated his whole life.<br /> Keywords: Daily life language, humour, richly poetic, Vietnamese language preserved,<br /> creativeness language.<br /> <br /> 58<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2