intTypePromotion=1

Nguy cơ động đất ở Việt Nam

Chia sẻ: Trương Thị Thúy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:30

1
276
lượt xem
131
download

Nguy cơ động đất ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần, núi lửa… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẽ động đất là tai họa khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất mà con người luôn phải hứng chịu từ bà mẹ thiên nhiên. bởi vì chỉ trong vài giây đồng hồ cả một thành phố có thể bị sụp đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể bị sụt lún và đôi khi những dòng sông cũng bị đổi dòng do hậu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nguy cơ động đất ở Việt Nam

  1. Luận văn Nguy cơ động đất ở Việt Nam 1
  2. Mục lục I. Đặt vấn đề. ............................................................. 4 II. Nội dung .............................................................. 5 1.Khái niệm: .............................................................. 5 2. Nguyên nhân gây ra động đất................................ 6 2.1. Nguyên nhân nội sinh....................................... 6 2.2. Động lực nhân sinh........................................... 9 3. Các trận động đất lớn xảy ra ở Việt Nam trong những năm gần đây: ................................................ 9 4. Thiệt hại của động đất tại Việt Nam.................. 15 4.1 Đối với con người và xã hội. .......................... 15 Thiệt hại nhà cửa do động đất Tuần Giáo năm 1983 gây ra. ..................................................................... 17 4.2 Đối với môi trường ......................................... 18 5. Phương pháp nghiên cứu và dự báo động đất ở Việt Nam:................................................................ 18 5.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học địa chất. 18 5.2 Nghiên cứu hành vi của động vật:.................. 22 6. Các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu động đất. ................................................................................. 22 Lập phương án phòng, chống động đất............... 26 Trước khi xảy ra động đất:................................... 27 Khi thấy động đất mạnh xảy ra............................ 28 Những việc phải làm sau trận động đất............... 28 III. Kết luận. ........................................................... 29 Tài liệu tham khảo ................................................. 30 2
  3. Động đất ở Việt Nam Nhóm 10 Nguyễn Thị Hường 532427 Trần Duy Khánh 532431 Chử Bảo Long 532437 Đỗ Thị Miền 532440 Trương Thị Thúy 532463 Hoàng Thị Trang 532468 3
  4. I. Đặt vấn đề. Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần, núi lửa… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẽ động đất là tai họa khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất mà con người luôn phải hứng chịu từ bà mẹ thiên nhiên. bởi vì chỉ trong vài giây đồng hồ cả một thành phố có thể bị sụp đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể bị sụt lún và đôi khi những dòng sông cũng bị đổi dòng do hậu quả của những trận động đất cực mạnh. Điều đáng sợ hơn là cho đến nay khoa học và kỹ thuật đương đại vẫn chưa dự báo chính xác thời điểm và địa điểm động đất sẽ xảy ra. Do đó, con người chưa có biện pháp phòng chống chủ động đối với từng trận động đất, như phòng chống bão hay lũ lụt. Tại hội thảo khoa học quốc tế “Nguy cơ động đất tại Việt Nam” diễn ra 12/3/2009 tại Hà Nội, các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đều khẳng định, Việt Nam nằm ở khu vực ít có nguy cơ động đất lớn và tần suất diễn ra động đất cũng thấp. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẽ tránh được những thảm họa khi động đất diễn ra...Đảng và nhà nước rất quan tâm tới công tác dự báo động đất, các phương pháp phòng tránh cũng như cách ứng cứu khi xảy ra động đất nhắm giảm thiểu thiệt hại về người và của do động đất và các tai biến gây ra. 4
  5. II. Nội dung 1.Khái niệm: Động đất là kết quả của hiện tượng đứt gãy thình lình sâu bên dưới mặt đất, do sự di chuyển trái chiều của hai khối địa chất dọc theo một hệ thống đường đứt gãy thẳng đứng hoặc trượt ngang. Động đất tại Việt Nam có kiểu mẫu đứt gãy ngang. Nói một cách đơn giản, động đất là những rung động của mặt đất, mạnh yếu khác nhau và cảm nhận đựơc trên một vùng rộng. Chúng ta có thể so sánh động đất với vụ nổ bên trong lòng đất. Nhưng nói theo ngôn ngữ khoa học, thì động đất là sự giải thoát đột ngột một lượng năng lượng lớn tích tụ trong một thể tích nào đó bên trong Trái đất. Thể tích tích tụ năng lượng đó gọi là vùng chấn tiêu hay lò động đất và tâm của vùng gọi là chấn tiêu. Vị trí hình chiếu trên bề mặt của Trái đất, nằm ngay trên chấn tiêu gọi là chấn tâm. Khoảng cách giữa chấn tiêu và chấn tâm gọi là độ sâu chấn tiêu (hình 1 ). 5
  6. Thời gian để năng lượng giải thoát tại vùng chấn tiêu rất ngắn, tính bằng giây, nên ta coi động đất gần như là một sự bùng nổ tức thời. Bên ngoài vùng chấn tiêu các biến dạng của môi trường đất đá được truyền đi dưới dạng sóng đàn hồi và được gọi là sóng động đất. Chịu tác động của sóng động đất đến bề mặt, mặt đất sẽ rung động. Biên độ của các rung động nói chung nhỏ cỡ phần mười milimet và chu kỳ rung động nằm trong khoảng 1/100 đến 100 giây. Do đó để ghi các rung động này các máy ghi động đất phải có bộ phận khuếch đại. Sóng động đất truyền năng lượng động đất đến các vị trí trên mặt đất (tất nhiên năng lượng sẽ giảm dần !). Đường nối các điểm có năng lượng động đất như nhau biểu thị qua cấp động đất gọi là đường đẳng chấn. 2. Nguyên nhân gây ra động đất 2.1. Nguyên nhân nội sinh Động đất mạnh chỉ xảy ra trong những đới nhất định. Đó là những đới đứt gãy địa chất sâu hoạt động, phân cách các địa khối đang vận động đối với nhau. Đứt gãy càng lớn, chuyển động của các địa khối theo đứt gãy càng nhanh thì động đất xảy ra trong đới càng lớn, càng thường xuyên hơn. Ở nước ta cũng vậy, động đất mạnh hơn 4,0 độ Richter chỉ xảy ra trong những đới đứt gãy sâu đang hoạt động. Nước ta có kiến tạo địa chất tiềm ẩn nhiều nguy cơ động đất cao, tuy không xảy ra thường xuyên, vẫn có những trận mạnh gây phá huỷ lớn. Việt Nam có 4 loại đứt gãy gây ra động đất Loại 1: Gồm các đứt gãy sông Mã, Pu Mây Tun - Sốp Cộp, gắn liền với các hệ đứt gãy cùng tên (thuộc các tỉnh: Thanh Hóa, Ninh Bình, Sơn La, 6
  7. Lai Châu) có thể phát sinh động đất cấp 8 - cấp 9 theo thang MSK; những trận động đất mạnh nhất trên lãnh thổ VN từng xảy ra tại đây. Loại 2: Gồm các đứt gãy sâu Lai Châu - Điện Biên, sông Hồng, sông Chảy, sông Cả - Rào Nậy và đứt gãy Tây biển Đông (từ vĩ tuyến 13 đến vĩ tuyến 19), biểu hiện phát sinh động đất ở đây yếu hơn trong các đứt gãy loại 1 (loại cấp 8) nhưng trong quá khứ đã xuất hiện nhiều trận động đất mạnh. Loại 3 (cấp 7 ): Gồm hệ đứt gãy sâu Đông Triều, dọc theo sông Lô, Hòa Bình, Yên Bái và tại nhiều nơi thuộc khu vực từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam. Loại 4 (cấp 6 ): Gồm các đứt gãy Cao Bằng - Tiên Sơn, Sông Đà, Mường Tè, Mường Nhé, hệ đứt gãy Đăkrông - Huế, Trà Bồng, Ba Tơ - Củng Sơn, sông Ba. (Nguồn: Viện Vật lý Địa cầu) 7
  8. 8
  9. Bản đồ phân bố động đất taị Việt Nam của Nhật: Bản đồ này được làm theo mô hình, mỗi điểm là 1 tâm động đất. Gồm các lớp 0-10km (có 323 tâm động đất), 10-30km (có 374 tâm động đất), 30- 50km (có 507 tâm động đất), 50-100km (có 417 tâm động đất), 100-200km (có 119 tâm động đất): 2.2. Động lực nhân sinh Theo các chuyên gia địa chất. Ở Việt Nam việc xảy ra động đất kích thích ở những vùng hồ chứa lớn sau khi tích nước là hoàn toàn có khả năng. Nguy cơ này cũng đã được nghiên cứu đánh giá cho nhiều vùng hồ như: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Yaly…Các tính toán cho thấy các hồ chứa nói trên khi tích đầy nước sẽ gây ứng suất gia tăng 3 - 5 bar, xấp xỉ một phần trăm ứng suất phá hủy đá núi, ở độ sâu 3 km. Ứng suất gia tăng rất nhỏ nhưng có thể kích thích xảy ra dịch trượt (động đất) ở những nơi ứng suất kiến tạo đã được tích lũy đến mức tới hạn 3. Các trận động đất lớn xảy ra ở Việt Nam trong những năm gần đây: Trong lịch sử đã ghi nhận những trận động đất mạnh 6,7 - 6,8 độ Richter tại khu vực Tây Bắc, trong khi ở ngoài khơi, trên thềm lục địa đông nam đất nước cũng đã xuất hiện động đất mạnh 6,1 độ Richter. Vùng phía Nam cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của động đất. Tính đến năm 2003, nước ta có hơn 1.600 trận động đất mạnh từ 3 độ richter trở lên Trận động đất lớn nhất ở Việt Nam trong vòng 100 năm qua là trận động đất 6,8 độ Richter ở Tây Nam Điện Biên Phủ xảy ra lúc 23 giờ 22 phút 9
  10. ngày 1 tháng 11 năm 1935 với cấp động đất bề mặt là 8-9. Tại Lai Châu, chấn động xảy ra ở cấp 7. Bản đồ đẳng chấn của trận động đất Điện Biên năm 1935 do Robert vẽ lần đầu vào năm 1935, theo đó thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâm là cấp 9. Sau đó, qua công tác điều tra động đất trong nhân dân, Nguyễn Hữu Thái đã vẽ lại vào năm 1966. Theo kết quả này thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâm chỉ đạt cấp 8-9 thang MSK-64. Và như vậy, chấn cấp động đất khoảng 6,8 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 25 km. 1953 và 1954, tại vùng Lục Yên, Yên Bái đã xảy ra hai trận động đất có cường độ chấn động cực đại tại vùng chấn tâm là cấp 7 (thang MSK). Vùng chấn động cấp 7 này kéo dài tới 30 km theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, hẹp và trùng với đứt gãy Sông Hồng. Dựa trên cơ sở đường đẳng chấn, các nhà địa chấn của Viện Vật lý địa chấn xác định được thông số của động đất như sau: chấn cấp là 5,4 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 16 km. Hai trận động đất này không được ghi nhận bởi mạng lưới trạm địa chấn quốc tế. Nó được phát hiện hoàn toàn bằng công tác điều tra động đất trong nhân dân. Đây cũng là một trong số những trận động đất mạnh nhất đã xảy ra dọc đứt gãy Sông Hồng trong phạm vi lãnh thổ nước ta. Ngày 12/6/1961 tại Tân Yên, cách thị xã Bắc Giang 11 km về phía Đông Bắc. Cường độ chấn động ở vùng chấn tâm đạt cấp 7, làm hư hại vừa một số nhà cấp 4. Vùng chấn động cấp 7 rất hẹp, trong khi vùng chấn động cấp 6 và cấp nhỏ hơn lại rất rộng. Điều này có thể lý giải là do hiệu ứng cục bộ của chấn tiêu nằm gần sát mặt đất. Độ sâu chấn tiêu của động đất này được xác định là 28 km. Chấn cấp của động đất theo các nhà địa chấn Việt Nam là 5,3 - 5,9 độ Richter, trong khi theo tài liệu của Cục Địa chấn Trung Quốc và USGS thì chỉ nằm ở mức 4,3 - 5,0 độ Richter. 10
  11. Năm 1968, trận động đất 5,5 độ richter xảy ra ở Nhã Nam, Yên Thế (Bắc Giang). Hai trận động đất xảy ra ngày 12-4-1970 và 24-5-1972 ở phía Tây thị xã sông Cầu (Phú Yên). Đều có cường độ chấn động cấp 7 tại vùng chấn tâm, được phát hiện bằng quan trắc động đất và cả bằng điều tra động đất trong nhân dân. Hai chấn tâm này cách nhau 20 km theo phương kinh tuyến, vì vậy khi điều tra khó tách biệt được đường đẳng chấn nên bị gộp lại thành một đường đại diện chung. Độ sâu chấn tiêu 13 km và chấn cấp M = 5,3 độ Richter là đặc trưng chung cho cả hai động đất này. 11
  12. 14h18 ngày 24/6/1983 Trận động đất 6,7 độ Richter trong vùng núi cách thị trấn Tuần Giáo ( Điện Biên ) về phía bắc khoảng 11 km. Chấn cấp của động đất được xác định là Ms = 6,7±0,2 độ Richter. Cường độ chấn động trong vùng cực động I0 = 8-9 (thang MSK). Động đất gây chấn động mạnh trên những vùng rộng lớn ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Lào và Trung Quốc. Chấn động cấp 8 và mạnh hơn xảy ra trên diện tích 1.500 km2, cấp 7 và mạnh hơn là 13.000 km2. Sau chấn động chính là hàng loạt dư chấn đã xảy ra. Dư chấn mạnh nhất xảy ra vào ngày 15/7/1983 ngay trong vùng cực 12
  13. động và có chấn cấp bằng 5,4 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 8 km và gây chấn động trên bề mặt tại vùng chấn tâm với I0 = 7-8. Bản đồ đường đẳng chấn của trận động đất Tuần Giáo (*) Nơi đứt đoạn của mội trường đất đá dẫn tới sự dịch chuyển tương đối ở hai bên. Ngày 23/5/1989 Ở vùng hồ Hòa Bình ( tỉnh Hòa Bình) chỉ bốn tháng sau khi tích nước hồ chứa đến cao trình 86m xảy ra trận động đất mạnh 4,9 độ richter 13
  14. Ngày 23/6/1996 tại xã Mường Luân thuộc huyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên) đã xảy ra động đất với chấn cấp xấp xỉ 5,0 độ Richter. 22 giờ 52 phút Ngày 19/1/2001, động đất 5,3 độ richter xảy ra giáp ranh biên giới Việt – Lào( cách thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên khoảng 12km). 21h25 ngày 7/1/2005 tại toạ độ 19,02 độ vĩ bắc và 105,3 độ kinh đông, cách Đô Lương (Nghệ An) 10 cây số về phía bắc. Trận động đất có độ mạnh 4,7 độ Richter, gây chấn động cấp 6-7 trên mặt đất ở vùng chấn tâm 12h45 ngày 17/7/2005, một trận động đất mạnh 4,5 độ Richter đã xuất hiện tại cao nguyên Đồng Văn (tỉnh Hà Giang). 0h15 sáng, ngày 8/11/2005 trận động đất cường độ là 5,1 độ richter xảy ra tại khu vực Nam Bộ, tọa độ trận động đất ở 10 độ vĩ Bắc, 108 độ kinh Đông, ngoài khơi Biển Đông cách bờ biển Vũng Tàu 100 km, nằm trong vùng giao nhau của các đới đứt gãy Nam Côn Sơn, Thuận Hải - Minh Hải - Cà Mau và đứt gãy kinh tuyến 110 ngoài khơi Biển Đông. 14h55 chiều 8/11/2005 trận động đất với cường độ 5,5 độ richter là ở tọa độ 9,72 độ vĩ Bắc, 108,22 độ kinh Đông 22h Đêm 28/11/2007, một trận động đất cường độ 4,5 đến 5 độ richter tại tâm chấn xảy ra trên đới đứt gãy Bình Thuận - Vũng Tàu 13h27 giờ ngày 3/3/2008, một trận động đất có cường độ 4,5 độ Richter đã xảy ra tại vị trí có tọa độ 22,62 vĩ độ Bắc, 102,36 kinh độ Đông (thuộc địa phận huyện Mường Tè, Lai Châu) với độ sâu chấn tiêu là 4,4 km. 14
  15. 11h50 phút trưa Ngày 26/11/2009 trận động đất mạnh 4,2 độ richter ở huyện Bắc Yên, thuộc đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên-Sơn La. Tâm chấn nằm ở độ sâu 10-15 km, cách thành phố Sơn La 38 km về phía Đông Đông Nam và cách công trình thủy điện Sơn La 37 km về phía Đông Nam". 8h57 sáng 23/6/2010 xảy ra trận động đất 4,7 độ richterở đoạn đứt gãy trũng Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tỉnh Vũng Tàu đã gây ra dư chấn từ cấp 2 đến cấp 4 ở Sài Gòn 16h chiều 19/9/2010, một trận động đất đã xảy ra tại huyện Quan Sơn, Thanh Hóa Trận động đất mạnh 3,6 độ richter, tâm chấn nằm ở độ sâu 10 km dưới lòng đất. Nguyên nhân gây ra trận động đất là do đới đứt gẫy sông Mã. Tần suất sảy ra động đất trên toàn lãnh thổ trung bình 6 năm có 5 lần động đất cấp 6 với M 4,5 độ Richter 7 năm có 2 lần xảy ra động đất cấp 7 – 8 với M 5,5 độ Richter >29 năm xảy ra 1 lần động đất cấp 8 với M 6 độ Richter. Vùng Tây Bắc là nơi động đất xảy ra thường xuyên nhất. 2 năm xảy ra một lần động đất cấp 6 với M 4,5 độ Richter 5 năm xảy ra 1 lần động đất cấp 7 với M 5 độ Richter 13 năm xảy ra 1 lần động đất cấp 7 – 8 với M 5,5 độ Richter. >30 năm xảy ra 1 lần động đất cấp 8 với M 6 độ Richter. 4. Thiệt hại của động đất tại Việt Nam. 4.1 Đối với con người và xã hội. 15
  16. Động đất đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về người làm chết và bị thương. Ảnh hưởng đến kinh tế: phá hủy các công trình vật chất, nhà cửa, đường giao thông… Động đất xảy ra lúc ngày 1/11/1935 Điện Biên Phủ có độ lớn M = 6,75 độ Richter. Động đất này đã gây hư hại nặng nhà xây ở thị trấn Điện Biên, còn ở Sơn La các tường nhà bị nứt nẻ. Trận động đất năm 1983 đã gây thiệt hại nặng nề nhất cho thị trấn Tuần giáo: 30% nhà gạch cấp 4 bị hư hại nặng, tường nứt rộng từ vài xentimet đến gần 10 cm. Chỉ nhà gỗ, nhà tre mới ít bị hư hại. Động đất cũng gây hư hại nhẹ và vừa đối với nhà xây gạch ở các thị xã Lai Châu, Điện Biên và một số nơi khác. Động đất này đã làm sụt lở lớn ở các dãy núi trong vùng chấn tâm, vùi lấp 200 ha ruộng lúa trong thung lũng và nhiều đoạn đường giao thông đất nứt rộng đến 10 – 15 cm, kéo dài từng đoạn từ vài chục mét đến vài trăm mét trên chiều dài gần 20 km nhiều mạch nước bị mất đồng thời xuất hiện nhiều mạch nước mới. Đá lở đã làm hàng chục người chết và bị thương, nhiều ruộng lúa bị vùi lấp phải 8 tháng sau vùng Tuần giáo mới trở lại yên tĩnh. Đây là sự kiện nổi bật trong hoạt động địa chấn hiện đại ở nước ta. 16
  17. Thiệt hại nhà cửa do động đất Tuần Giáo năm 1983 gây ra. Chỉ tính riêng trận động đất ngày 19/2/2001 với chấn cấp đạt 5,3 độ Richter ở khu vực thị xã Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu đã làm thiệt hại gần 200 tỷ đồng, nhiều người bị thương và đã gây ra sự hoang mang cao độ cho nhân dân. 17
  18. 4.2 Đối với môi trường Theo đánh giá của các nhà khoa học, động đất là một trong những tác nhân gây ra thảm hoạ sóng thần, sạt lở đất. Sóng thần xảy ra tại vùng biển Nha Trang vào năm 1923. Dự cố này liên quan đến động đất 6,1 độ Richter ở đảo Hòn Tro. Động đất ở Điện Biên năm 1935 làm cho vùng chấn tâm đất nứt rộng đến 20 cm, có đoạn dài đến 50 m. Động đất 1983 tại Tuần Giáo gây ra sụt lở các núi ở vùng chấn tâm, lở đá. 5. Phương pháp nghiên cứu và dự báo động đất ở Việt Nam: 5.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học địa chất. 18
  19. Nghiên cứu địa chất ( Ghi sóng địa chấn, theo dõi sự dao động mực nước giếng, nước ngầm, theo dõi sự bốc khí radon, thay đổi bề mặt địa hình, ứng dụng công nghệ GIS trong nghiên cứu địa chất...) Phương pháp nghiên cứu khoa học địa chất là sử dụng các trạm quan trắc. Trạm quan trắc động đất ở Từ Liêm-Hà Nội Từ năm 1976 trên phạm vi miền Bắc Việt Nam đã có 5 trạm quan trắc động đất hoạt động liên tục và đồng bộ (Phù Liễn, 1924; Sa Pa, 1961; Bắc Giang, 1962; Tuyên Quang và Hoà Bình, 1972). Các trạm địa chấn này đã ghi nhận được khá đầy đủ số liệu về các trận động đất trên lãnh thổ Bắc Việt Nam và vùng lân cận. Ở miền Nam Việt Nam, trạm địa chấn Nha Trang đã được khôi phục lại vào năm 1978 (xây dựng năm 1957) và xây dựng thêm trạm Đà Lạt vào năm 1980. Các trạm địa chấn Điện Biên, Lai Châu, Vinh và Hà Nội được xây dựng năm 1990. Sau đó, trong 1994-1995 xây dựng thêm các trạm Sơn La và Huế. Sau năm 1996, nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà 19
  20. nước, Viện Vật lý Địa cầu lại mở rộng thêm mạng lưới trạm và đến hết năm 2007, tổng số trạm thuộc mạng lưới quốc gia đã tăng lên thành 24. Với hệ thống trạm như vậy, có khả năng ghi đầy đủ động đất có chấn cấp Ms  3,0 trên phạm vi miền Bắc và Ms  4,0 trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ở miền Tây Bắc Bộ, mật độ trạm dày hơn, nên có thể ghi nhận được động đất có chấn cấp lớn hơn 1,0 độ Richter. Ngoài ra, tại các vùng hồ chứa lớn như Hoà Bình, Ya Ly, Sơn La, dọc theo đới đứt gãy Sông Hồng còn có những trạm địa chấn tạm thời nhằm nghiên cứu sự thay đổi môi trường địa chấn trong quá trình xây dựng và vận hành nhà máy thuỷ điện Động đất mạnh chủ yếu xảy ra ở Miền Bắc nên 23 trong tổng số 26 trạm quan trắc động đất (đo địa chấn) ở Việt Nam được đặt ở miền Bắc, trong đó có một trạm ở Vinh. Ba trạm còn lại được đặt ở Huế, Nha Trang và Đà Lạt. chỉ cần thêm 24 trạm nữa là đủ khả năng theo dõi toàn bộ chấn động trong lòng đất tại Việt Nam. Ðể tăng cường năng lực cho hoạt động quan trọng này, năm 2009 Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã triển khai dự án với tổng kinh phí khoảng 90 tỷ đồng, tuy vậy trong tương lai còn phải tiếp tục đầu tư. Phấn đấu đến năm 2012, xây dựng được một hệ thống gồm 30 trạm địa chấn và trung tâm xử lý số liệu động đất, có khả năng ghi nhận đầy đủ, nhanh chóng và xác định kịp thời thông số của các trận động đất với các quy mô khác nhau, góp phần ứng phó, giảm nhẹ thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tại Việt Nam hệ thống máy móc của Trung tâm Động đất và Cảnh báo Sóng thần (Viện Vật lý Địa cầu) đã được kết nối với thế giới. Khi một trận động đất ở bất cứ nơi đâu diễn ra Trung tâm sẽ nhận được thông tin sau 3-5 phút về độ mạnh, thời gian, khu vực... Trên cơ sở các kết quả xử lý dữ 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2