intTypePromotion=1

Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam - Nam Bộ 1945-1975: Phần 1

Chia sẻ: Hoa La Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
134
lượt xem
35
download

Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam - Nam Bộ 1945-1975: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Nam Bộ 1945-1975 - Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam của tác giả Hà Minh Hồng được chia làm 2 phần. Phần 1 sau đây tương ứng với nội dung phần mở đầu - Nam Bộ với 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), Phần 1 – Nam Bộ mở đầu chiến tranh cách mạng Việt Nam và Phần 2 – Chống phá bình định ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ 1954- 1975 trong Tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam - Nam Bộ 1945-1975: Phần 1

  1. HÀ MINH HỒNG NAM BỘ 1945-1975 NHỮNG GÓC NHÌN TỪ LỊCH SỬ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG VIỆT NAM NHÀ XUẤT BẢN ðẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH, 2008
  2. NAM BỘ 1945-1975 NHỮNG GÓC NHÌN TỪ LỊCH SỬ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1
  3. MỤC LỤC Lời giới thiệu -------------------------------------------------------------------------------------- 4 Lời dẫn --------------------------------------------------------------------------------------------- 5 Mở ñầu – Nam Bộ với 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) ----------------- 6 Phần 1 – Nam Bộ mở ñầu chiến tranh cách mạng Việt Nam --------------------------- 13 1. Sự lựa chọn hòa bình giữa nguy cơ chiến tranh ---------------------------------- 14 2. Vài suy nghĩ về Hội nghị Cây Mai ngày 23 tháng 9 năm 1945 ---------------- 21 3. ðặc ñiểm xây dựng chính quyền cách mạng ở Nam Bộ trong buổi ñầu kháng chiến (giai ñoạn 1945-1946) ------------------------------------------------ 25 4. Chiến thắng ðiện Biên Phủ và chiến trường Nam Bộ --------------------------- 32 5. Cao trào tiến công và nổi dậy ở Nam Bộ trong và sau chiến dịch ðiện Biên Phủ ------------------------------------------------------------------------------- 38 Phần 2 – Chống phá bình ñịnh ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ 1954- 1975 ------------------------------------------------------------------------------------------------- 43 1. Chiến tranh giành dân trong chiến tranh xâm lược của ñế quốc Mỹ ở Nam Bộ những năm 1954–1975 ----------------------------------------------- 44 2. Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhìn từ trận tuyến chống phá bình ñịnh ------------------------------------------------------------------ 55 3. Những phương thức chủ yếu chống phá bình ñịnh ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ------------------------------------------------------- 62 4. Chống phá bình ñịnh – ñòn phối hợp với tiến công quân sự trong Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở ðồng bằng sông Cửu Long -------------- 77 5. Chống phá bình ñịnh ở vùng ven Sài Gòn–Chợ Lớn–Gia ðịnh trong những năm chống Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973) --------------------- 84 6. Vai trò của lực lượng vũ trang ñịa phương trên trận tuyến chống phá bình ñịnh ở Nam Bộ giai ñoạn 1972-1973 ---------------------------------------------- 92 Phần 3 – Những mốc son của chiến tranh chống Mỹ trên ñất Nam Bộ thành ñồng ------------------------------------------------------------------------------------------------- 99 1. Tua Hai với sự lựa chọn con ñường vũ trang khởi nghĩa------------------------ 100 2. Chiến thắng Bình Giã với trận tuyến chống phá bình ñịnh trong qúa trình ñánh bại chiến tranh ñặc biệt -------------------------------------------------------- 104 3. Những giá trị của chiến thắng Bắc Tây Ninh ñánh bại cuộc hành quân Junctioncity ---------------------------------------------------------------------------- 108 4. Sức tiến công ở thành phố trọng ñiểm Tết Mậu thân 1968 --------------------- 114 5. Tầm vóc của chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ xuân hè 1972 ----------------- 120 6. ðấu tranh công khai hợp pháp ở Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)---------------------------------------------------------------- 124 2
  4. 7. Phản ứng Phước Long ---------------------------------------------------------------- 128 8. Trận Xuân Lộc trong thế trận Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 ---- 134 9. Trận ñánh Cầu Rạch Chiếc trong ðại thắng mùa xuân 1975 - Ý nghĩa lịch sử và ý tưởng về một di tích --------------------------------------------------------- 139 Lời kết – Dấu ấn chiến tranh trong ñặc trưng văn hóa vùng ở Nam Bộ ------------- 148 Phụ lục --------------------------------------------------------------------------------------------- 153 3
  5. LỜI GIỚI THIỆU Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xâm lược Mỹ ñể bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền ñộc lập, tự do và thống nhất non sông. Trên dặm dài 30 năm kháng chiến ấy (1945-1975), cùng cả nước, quân và dân Nam Bộ ñã chiến ñấu bền bỉ, anh dũng, mưu trí, sáng tạo, làm nên bao chiến công, viết nên những trang sử oai hùng, thực sự là nơi “ñi trước, về sau”, xứng ñáng là mảnh ñất THÀNH ðỒNG TỔ QUỐC ! Cuộc chiến ñã lùi xa ngót 1/3 thế kỷ kể từ khi chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Từ ñó ñến nay, ñã có nhiều công trình, cuốn sách, bài báo, hội thảo khoa học về cuộc chiến tranh này, bao gồm trong ñó cuộc ñấu tranh anh dũng của quân và dân ta trên ñịa bàn Nam Bộ ròng rã 30 năm. Là một người lính thời chống Mỹ trước khi trở thành một nhà nghiên cứu, một người giảng dạy môn lịch sử Việt Nam cận hiện ñại tại một ñại học lớn ở phía Nam, Hà Minh Hồng ñã có những năm tháng cùng ñồng ñội xông pha trong lửa ñạn trên chiến trường. Kinh nghiệm trận mạc, ký ức chiến tranh, bản lĩnh và phương pháp của một nhà nghiên cứu có “thâm niên”, chắc chắn là sự “hối thúc”, là ñộng lực ñể Hà Minh Hồng gắn bó và dồn tâm sức vào chủ ñề lịch sử Nam Bộ kháng chiến. Ngót chục năm trước, anh ñã cho ra mắt bạn ñọc chuyên khảo dày dặn về Phong trào chống phá bình ñịnh nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1969-1972 (Nxb Quân ñội nhân dân H.2000). Tại công trình này, mặt trận ñấu tranh chống phá bình ñịnh âm thầm nhưng rất quyết liệt và ñẫm máu của quân dân Nam Bộ trong giai ñoạn nhiều thử thách hy sinh của cách mạng miền Nam, ñược tái hiện khá thuyết phục và hấp dẫn bởi chiều sâu của những vấn ñề ñặt ra và cách thức giải quyết của tác giả. Ở tầm mức bao quát hơn, lần này, trong nghiên cứu của mình, Hà Minh Hồng ñặt cuộc ñấu tranh của quân và dân ta ở Nam Bộ trên nền chung 30 năm chiến tranh cách mạng ñể trình bày, ñể xem xét… Một cách tiếp cận như thế cho phép tác giả, tại chuyên khảo này, có ñiều kiện ñi sâu hơn nữa vào các chiều cạnh thuộc về hoặc liên quan tới cuộc ñấu tranh của con người và mảnh ñất nơi ñây trong cuộc ñấu tranh sinh tử với kẻ thù hung bạo. Bạn ñọc sẽ thấy ở ñây một số những vấn ñề cốt lõi, một số nhân tố cơ bản tạo ra và nhân lên sức mạnh Việt Nam trong 30 năm chiến tranh cách mạng; thấy ở ñây cuộc ñấu tranh bền bỉ, kiên cường, ñầy mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ - cuộc ñấu tranh vừa mang tính phổ quát, vừa có nét ñặc thù không thể lẫn. ðành rằng, với cuộc chiến kéo dài ñằng ñẵng 30 năm trên một ñịa bàn rộng lớn, vẫn còn ñó biết bao vấn ñề khoa học ñặt ra cho giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam; còn ñó biết bao nội dung cần dày công sưu tầm tư liệu ñể tái hiện chuẩn xác và ñầy ñủ hiện thực lịch sử một thời trận mạc nhiều gian khổ, hy sinh, nhưng cũng ñầy chiến công vang dội… nhưng dù vậy, với chuyên luận này, tác giả Hà Minh Hồng ñã cung cấp một tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử hiện ñại Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn ñọc. Hà Nội, mùa Thu 2008 ðại tá, PGS-TS Hồ Khang Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam 4
  6. LỜI DẪN Nam Bộ là vùng ñất ñược khai phá sau cùng của Tổ quốc Việt Nam. Nếu giới hạn Nam Bộ là vùng ñất lục tỉnh xưa, thì ñịa bàn này chỉ gồm dải ñất liền từ miền ðông qua thành phố Sài Gòn xuống ñến miền Tây cực nam ñất nước, tổng cộng khoảng hơn 60 ngàn cây số vuông. Kiến tạo ñịa chất của vùng Nam Bộ là khi biển ñã lùi dần thì con người vươn tới. Người Việt, người Hoa và cư dân văn hóa Ốc Eo lấn xuống duyên hải, khai mở miền châu thổ, tạo dựng cuộc sống mới, chế ngự thiên nhiên; mấy trăm năm ñi theo hướng ñó ñã lập nên xứ sở Nam Bộ trù phú và sống ñộng. Từ giữa thế kỷ XIX, khi thực dân phương Tây gây chiến tranh xâm lược, Nam Bộ ñã giương cao ngọn cờ cứu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc. Và cuộc chiến chống chủ nghĩa thực dân trên ñất Nam Bộ ñã không ngừng nghỉ suốt 1 thế kỷ. Lớp lớp người dân Nam Bộ vừa thấm nhuần cái tự do dân chủ, vừa khao khát nền ñộc lập thống nhất quốc gia, năng ñộng với những ñổi thay của thời cuộc, nhưng kiên ñịnh con ñường ñấu tranh cách mạng. Trong 30 năm chiến tranh kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Bộ là chiến trường diễn ra nhiều tình huống gay go, phức tạp và cũng mang nhiều nét ñộc ñáo của chiến tranh nhân dân. Nam Bộ ñi trước và về sau từ kháng chiến chống thực dân Pháp ñến kháng chiến chống Mỹ cứu nước; những bước thăng trầm của chiến tranh cách mạng diễn ra trên ñịa bàn này luôn luôn có ảnh hưởng sâu sắc ñến toàn cục; ngược lại bất cứ sự kiện nào của ñất nước và toàn miền trong chiến tranh cũng ñều có tác ñộng ở nhiều mức ñộ khác nhau ñến chiến trường Nam Bộ. Chiến tranh trên ñất Nam Bộ ác liệt và kéo dài, những tổn thất về người và của trên ñất Nam Bộ suốt 30 năm không thể tính ñược. Nam Bộ có sào huyệt của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, nhưng Nam Bộ cũng là ñầu mối và bàn ñạp, nơi quyết ñịnh cuối cùng của thế trận chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam. Người Nam Bộ cương trực và kiên quyết, dũng cảm và mưu trí; ñất Nam Bộ thấm ñượm nghĩa tình và rộng mở khoan dung. Ra khỏi chiến tranh là Nam Bộ lại vươn lên ñi ñầu trong chống ñói nghèo và lạc hậu, ñi trước trong mở cửa, hội nhập với thế giới và khu vực. Những bài viết trong tập sách này ñược nghiên cứu trong nhiều thời gian khác nhau của quá trình nghiên cứu và giảng dạy lịch sử chiến tranh Việt Nam thời hiện ñại. ðó là những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng về một số lĩnh vực quen thuộc nhưng cần nhấn mạnh của Nam Bộ thời kỳ 30 năm (1945-1975). Việc cùng trao ñổi với các giới nghiên cứu trong và ngoài quân ñội, lý giải những vấn ñề chiến tranh với các thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ñã giúp sáng tỏ thêm nhiều vấn ñề khoa học về chiến tranh trên miền ñất chiến trường xưa, ñó là cách thức chính hình thành lên những bài viết. Tuy vậy nhiều vấn ñề của chiến tranh ở nhiều ñịa phương Nam Bộ chưa thể ñề cập tới; nhiều sự kiện và diễn biến trong 30 năm còn chưa ñược phản ảnh; những bài viết trong tập sách này cũng không phải ñã ñược chọn lọc tiêu biểu; ñây chỉ là những nghiên cứu bước ñầu về một chủ ñề quá rộng lớn ñối với một người còn chưa nhiều kinh nghiệm sống trên vùng ñất Nam Bộ. Hy vọng rằng tập sách này sẽ góp thêm một góc nhìn tham khảo về lịch sử và văn hóa chiến tranh ở Nam Bộ, làm thành niềm khích lệ cho nhiều nghiên cứu về sau cũng những vấn ñề của thời chiến tranh hào hùng ấy. Thành phố Hồ Chí Minh, Hè – Thu 2008 TÁC GIẢ 5
  7. MỞ ðẦU NAM BỘ VỚI 30 NĂM CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG (1945 – 1975) Nam Bộ - bộ phận phía Nam của Tổ quốc Việt Nam gồm 18 tỉnh, thành: An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau, Cần Thơ, ðồng Nai, ðồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Với diện tích khoảng 64.400 km2, Nam Bộ gồm 3 phần: các tỉnh rừng núi trung du miền ðông, các tỉnh ñồng bằng miền Tây và ðô thị Sài Gòn - Chợ Lớn. Miền ðông rộng 27.920 kilômét vuông 1 với những cao nguyên thấp và những ngọn ñồi lượn sóng vốn là vùng của những núi lửa ñã tắt và của các thềm sông ñã lùi xa. ðất ñỏ từ phún thạch và ñất xám từ phù sa cổ làm cho rừng và các loại cây công nghiệp lâu niên quanh năm xanh tốt, ñem lại nhiều nông thổ sản. Những cánh ñồng hẹp nhỏ ven các con sông ðồng Nai, Sài Gòn, Sông Bé ñem ñến cho rừng núi miền ðông lúa và hoa màu của chính ñất ñai miền ðông. Những ngọn núi vừa như Chứa Chan (cao 858 m), Bà Rá (cao 736 m), Bà ðen (cao 986 m) ñứng ở miền ñất thoai thoải phía nam Trường Sơn như trở nên cao hơn, tầm nhìn xa của nó thật là rộng và có giá trị nhiều mặt. Miền Tây là miệt ñồng bằng châu thổ rộng 39.950 kilômét vuông2 do hai hệ thống sông Cửu Long và ðồng Nai bồi ñắp, ñó là sản phẩm của sự lùi dần của biển và sự tiến tới của con người. Dấu tích của kiến tạo còn sót lại ở Rừng Sác, ðồng Tháp Mười, U Minh như muốn tô bảy ngọn Thất Sơn ở Châu ðốc - Hà Tiên thêm vòi vọi. Trên ñộ cao trung bình chỉ 1 – 2 m so với mực nước biển của vùng ñồng bằng này, những sống ñất (giồng ñất) rộng hàng triệu héc-ta dọc sông Tiền, sông Hậu và miền duyên hải, chúng ñược hình thành bởi sự lắng tụ phù sa trong môi trường nước ngọt. ðó chính là vùng lý tưởng của việc cư trú và trồng trọt. Nằm giữa khu vực ñất mới ñang phát triển và nối hai phần ðông - Tây là thành phố Sài Gòn. Từ ñầu thời kỳ mở mang khai phá, ñất Sài Côn, Bến Nghé ñã ñón ñợi những sự tụ họp. Hầu như sông - biển ñều gặp nhau ở ñây, ñường ñi muôn nẻo cũng chụm ñầu mối về ñây. Chỉ riêng ñường bộ ñã thấy thật thuận chiều, từ Sài Gòn ra miền Trung xuống miền Tây bằng quốc lộ 1, lên miền ðông và sang Campuchia bằng quốc lộ 13, ra biển bằng quốc lộ 15 (nay là quốc lộ 51), lên Cao nguyên bằng quốc lộ 20... Trước khi trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị, Sài Gòn ñã từng là “cái chợ” của cả miền Lục tỉnh Nam Kỳ, cửa ngõ giao thương của cả vùng ñất mới với bên ngoài. Với diện tích hơn 2.000 km2, Sài Gòn còn là nơi tụ về của nhiều khối quần cư, nơi sinh dưỡng những tiềm năng kinh tế kinh tế công - thương nghiệp - xuất nhập khẩu - dịch vụ mà hai miền ðông - Tây không thể nào tự có ñược. Nói cách khác, Sài Gòn vừa dung hòa vừa bổ sung phần thiếu của mỗi miền Rừng - Biển - ðồng bằng của Nam Bộ. Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra ñời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm ñảo lộn tất cả trật tự của hệ thống thuộc ñịa của chủ nghĩa ñế quốc ở khu vực này. 1 Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng ñất Nam Bộ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr 17. 2 Huỳnh Lứa (chủ biên), Lịch sử khai phá vùng ñất Nam Bộ, Sñd, tr 19. 6
  8. Hình ảnh “Nước Việt Nam từ trong máu lửa, rũ bùn ñứng dậy sáng lòa” (Thơ Nguyễn ðình Thi) làm cho chủ nghĩa ñế quốc ñiên cuồng chống lại, trong ñó ñế quốc Mỹ nhìn thấy Việt Nam và cả ðông Dương là “phần thưởng ñặt cho một trò chơi lớn”1. Thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, ñế quốc Mỹ muốn lấy Việt Nam làm phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan tràn xuống vùng ðông Nam Á. Chính vì thế nhân dân Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm, mà trong quá trình ñó Nam Bộ luôn luôn là một chiến trường quan trọng với những ñặc ñiểm như sau. Nam Bộ - chiến trường có vị trí chiến lược quan trọng Khi triển khai chiến lược toàn cầu tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ ñã coi Việt Nam nhất là Nam Việt Nam, là nơi tập trung nhiều quyền lợi quân sự, chính trị, Nam Việt Nam là một ñầu cầu lục ñịa lợi hại thuận lợi cho việc mở rộng không gian chiến lược ở khu vực này. Biển Việt Nam có thể sử dụng những căn cứ không quân, hải quân ở ðông Nam Á ñể khống chế Nam Thái Bình Dương và eo biển Ma-lắc-ca, con ñường tiếp thức ăn cho nền công nghiệp Nhật Bản. ðất liền Nam Việt Nam nối sang Campuchia, Thái Lan, Miến ðiện, kéo dài sang hàng loạt các nước vùng Nam Á, Trung Cận ðông. ðường bộ, ñường biển, ñường không của Nam Việt Nam ñều có vị trí ñầu mối và nối liền gần nhất với nhiều quốc gia. Nằm giữa vùng chiến lược ấy, Nam Bộ có những ñặc ñiểm rất quan trọng, mà bất cứ bên nào trong chiến tranh ñều không thể không quan tâm. Phía Bắc tiếp liền với Tây Nguyên, phía ðông là biển Nam Hải, phía Nam là vịnh Thái Lan, phía Tây giáp Campuchia, Nam Bộ như một ñầu cầu nối liền các vùng ñất, vùng biển có vị trí số 1 của phía Nam ðông Dương. ðịa hình ñịa thế Nam Bộ chia ra các bộ phận với những ñặc ñiểm khác nhau. Miền ðông Nam Bộ thuận lợi cho hoạt ñộng không quân, pháo binh, bộ binh từ quy mô nhỏ ñến quy mô lớn, còn miền Tây Nam Bộ có thể sử dụng hải quân chiến thuật. Miền ðông thuận lợi cho việc cơ ñộng và tác chiến lớn. Miền Tây thích hợp với hoạt ñộng của chiến tranh du kích và tác chiến nhỏ và vừa. Sài Gòn là ñô thị lớn nhất miền Nam, một trong những sào huyệt của nền ñô hộ Pháp trước ñây và là sào huyệt lớn nhất của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam những năm 1954 - 1975. Có thể nói Nam Bộ, gồm cả ñô thị, rừng núi, trung du, ñồng bằng, rừng sác duyên hải, là một chiến trường có ý nghĩa chiến lược sống còn ñối với chế ñộ thực dân cũ và mới ở miền Nam. Mặt khác Nam Bộ còn là một “kho của, kho người”, nơi có tiềm lực lớn về nhân tài vật lực cho chiến tranh, nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh ở miền Nam. Nguồn vật lực của Nam Bộ rất dồi dào. Chỉ tính riêng lúa gạo, ñồng bằng sông Cửu Long ñã có diện tích canh tác gần 2.000.000 ha, sản lượng lúa chiếm 86% toàn Nam Bộ, chiếm 72% toàn miền Nam (sản lượng năm 1965 = 3.126.052 tấn, năm 1973 = 4.005.000 tấn)2. Ngoài ra còn nhiều nông lâm thổ sản và sản phẩm của các hoạt ñộng kinh tế khác của rừng núi, ñồng bằng, ñô thị và sông, biển Nam Bộ với tiềm năng không nhỏ. Về dân số, năm 1954, Nam Bộ có 9,5 triệu người (miền ðông có gần 3 triệu, Sài 1 Nhuận Vũ, Những bế tắc của Lầu Năm góc sau Việt Nam, Nxb. Quân ñội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 8. 2 Ban Tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của ñế quốc Mỹ và quy luật hoạt ñộng của Mỹ ngụy trên chiến trường B2 (Dự thảo), Phòng Tổng kết ñịch, Lưu hành nội bộ, 1984, tr. 28. 7
  9. Gòn có 1,5 triệu, miền Tây có khoảng 5 triệu)1. Năm 1974, Nam Bộ có 13,3 triệu dân, vhiếm 65,5% dân số toàn miền Nam; trong ñó miền ðông và Sài Gòn 6,1 triệu dân, chiếm 30% toàn miền Nam và 45,9% toàn Nam Bộ; miền Tây có 7,2 triệu dân, chiếm 35,5% toàn miền Nam và 54,1% toàn Nam Bộ)2. Dân số bình quân toàn Nam Bộ 21 năm chiến tranh (1954-1975) là 11,4 triệu người, chiếm 66,5% dân số bình quân toàn miền Nam. Tốc ñộ tăng dân số bình quân khá lớn, riêng ñồng bằng sông Cửu Long trong vòng 43 năm (1936-1979) tăng 7,4 %/năm3. Phân bố dân cư trong chiến tranh ở Sài Gòn là 2.500 người/km2, ở ñồng bằng miền Tây từ 200-400 người/km2, ở vùng trung du miền ðông từ 100-200 người/km2, thưa nhất là vùng rừng núi miền ðông và vùng ðồng Tháp Mười, U Minh chỉ khoảng 50 người/km2. Như vậy Nam Bộ, nhất là ñồng bằng miền Tây có thể cung cấp nhiều nhân tài vật lực phục vụ cho chiến tranh, kể cả khi chiến tranh kéo dài. Về chính trị và xã hội, Nam Bộ có một số tôn giáo ñịa phương như: Cao ðài có gần 1 triệu tín ñồ (phát triển mạnh ở miền ðông), Hòa Hảo có khoảng 70 vạn tín ñồ (phát triển mạnh ở miền Tây). Trong chiến tranh, Hoà Hảo và Cao ðài ñều có lực lượng vũ trang riêng ñông hàng vạn người. ðạo Phật và ñạo Thiên Chúa, Tin Lành cũng có hàng triệu tín ñồ với hệ thống chùa chiền, nhà thờ khá hoàn chỉnh, mật ñộ khá dầy (Sài Gòn có 526 nhà thờ, ñồng bằng miền Tây có 300 ngôi chùa của 8.000 sư sãi người Việt gốc Miên)4. Thành phần dân tộc ở Nam Bộ, ngoài người Việt là chủ yếu, cũng có một số tộc người khác ñông dân cư như: Hoa có hơn nửa triệu người (chủ yếu ở Sài Gòn, Chợ Lớn), Khmer có gần 1 triệu người (chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ), S’tiêng, M’nông... có hàng vạn người (chủ yếu ở miền ðông Nam Bộ). Nhìn chung có khá nhiều những vấn ñề dân tộc, tôn giáo ở Nam Bộ có thể dễ dàng khai thác phục vụ cho các vấn ñề chính trị, quân sự. Như vậy, Nam Bộ có vị trí chiến lược rất quan trọng về nhiều mặt, mà bất cứ bên nào trong chiến tranh ñều không thể không quan tâm. Mọi vấn ñề chiến lược, chiến thuật về quân sự, cũng như các nhân tố ñảm bảo cho một cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh kéo dài, chiến tranh leo thang, ñều có thể tìm thấy ở Nam Bộ những thuận lợi lớn ñể tiến hành và giành thắng lợi. Nam Bộ - chiến trường mở ñầu và chiến trường quyết ñịnh kết thúc chiến tranh cách mạng Việt Nam Năm 1945, cùng với toàn dân tộc nổi dậy trong bão táp Cách mạng tháng Tám, Nam Bộ tổng khởi nghĩa lật ñổ ách thống trị của Nhật, Pháp, giành chính quyền về tay nhân dân, ñưa bộ phận phía Nam của Tổ quốc về lại trong lòng dân tộc sau hơn 80 năm bị chia cắt. Nhưng ngay sau ñó thực dân Pháp lại gây chiến tranh tái xâm lược Việt Nam, mở ñầu bằng cuộc ñánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung bộ. Nhất ñịnh không chịu trở lại cuộc ñời nô lệ, Sài Gòn ñã ñứng lên, các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung bộ ñã ñứng lên kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Hai chữ Nam Bộ từ sau ngày 23-9-1945 từ ñó trở nên thân thiết và thiêng liêng ñối với mọi người dân Việt Nam, bởi nó ñã là một bộ phận không thể tách rời khỏi thân thể Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Sau khi mở ñầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, Nam Bộ chuyển thành chiến trường sau lưng ñịch, phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ. Trên 1 Ban Tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược Sñd, tr. 24-27. 2 Ban Tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược Sñd, tr. 28. 3 Lê Bá Thảo, ðịa lý ñồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Tổng hợp ðồng Tháp, 1986, tr. 62. 4 Ban Tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược Sñd, tr. 24. 8
  10. ñịa bàn này, chiến tranh du kích ñã phát triển, các lực lượng cách mạng ở Nam Bộ ñã từng bước trưởng thành và ñẩy mạnh kháng chiến, uy tín và ảnh hưởng của cách mạng ñã ăn sâu vào cuộc sống hàng triệu người, nhất là nông dân ñồng bằng sông Cửu Long. Chính sách ruộng ñất và các chính sách kinh tế - xã hội khác của chính phủ kháng chiến ñã sớm ñược thực hiện, ñem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống của nhiều tầng lớp dân cư Nam Bộ. Có thể nói trong cuộc ñấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng diễn ra khá quyết liệt ở Nam Bộ, kết quả là hàng triệu người dân yêu nước ñã một lòng hướng cả về ðảng và Bác Hồ; tham gia hết mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc; cho ñến trước khi Mỹ xâm lược miền Nam và giành giật lấy người dân Nam Bộ, thì ở ñây cách mạng ñã chiếm trọn rồi. Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, Nam Bộ và cả miền Nam vẫn chưa có hòa bình tự do mà phải tiếp tục ñương ñầu với cuộc chiến tranh thực dân mới của ñế quốc Mỹ. Trong cuộc chiến lần này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ñã xây dựng ở miền ðông và miền Tây Nam Bộ nhiều căn cứ, kho tàng, hệ thống thiết bị chiến trường, biến rừng núi và ñồng bằng Nam Bộ thành các “vùng chiến thuật” có ñầy ñủ lực lượng và vũ khí trang bị hiện ñại. Mỹ xây dựng Sài Gòn thành “Thủ ñô” của cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa”. ðồng thời xây dựng nhiều căn cứ, kho tàng, bến cảng, hệ thống giao thông mạng nhện, cùng một hệ thống chỉ huy chỉ ñạo chiến tranh rất ñồ sộ, vừa thuận lợi cho việc bảo vệ thành phố, vừa bảo ñảm cho việc tiến hành chiến tranh thực dân mới. Nhiều chính sách và kế hoạch chiến tranh của Mỹ, nhất là từ sau năm 1960 ñã ñược triển khai thí ñiểm ở Nam Bộ trước khi triển khai ồ ạt ra toàn miền Nam. Càng về cuối cuộc chiến tranh, Mỹ và chính quyền tay sai càng có sự thống nhất với nhau trong nhận thức cuộc chiến, trong ñó chúng ñã nhận ra ñiều quan trọng là tính chất quyết ñịnh cuối cùng của chiến trường Nam Bộ. Về phía cách mạng, Nam Bộ là phần rộng lớn nhất ở chiến trường B2, nơi hội tụ ñầy ñủ nhất những ñặc ñiểm tiêu biểu của chiến tranh cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là chiến trường trọng ñiểm nhất của cuộc chiến tranh giữa ta và ñịch. Phong trào quần chúng ở Nam Bộ chống Mỹ-Diệm sớm ñi theo con ñường cách mạng bạo lực ñể lật ñổ chế ñộ tàn bạo ấy. ðầu năm 1960, từ ñốm lửa nổi dậy ở Bến Tre, toàn bộ nông thôn và rừng núi Nam Bộ rồi lan nhanh ra khắp miền Nam, ñã vùng lên phong trào ðồng Khởi ñập vỡ từng mảng lớn hệ thống chính quyền ñịch ở cơ sở, giành lại quyền làm chủ cho hàng triệu dân, giải phóng ñại bộ phận nông thôn và rừng núi, tiến tới thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chuyển thế cho cách mạng miền Nam từ giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bước vào chiến tranh cách mạng chống chiến lược Chiến tranh ñặc biệt, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh Việt Nam hóa, nhân dân và các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ ñã cùng toàn miền Nam từng bước phát triển thế chiến lược tiến công, ñánh lui từng bước, ñánh ñổ từng bộ phận, tiến tới ñánh ñổ hoàn toàn chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, kể cả lúc chúng có hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ cùng ñạo quân của 5 nước chư hầu tham chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chiến trường nào ở miền Nam là không quan trọng hay ít quan trọng, nhưng dù sao thắng lợi ở chiến trường Nam Bộ, ñặc biệt là Sài Gòn, vẫn có ý nghĩa quyết ñịnh nhất ñối với việc tiêu diệt hoàn toàn ñạo quân xâm lược và ý chí xâm lược của kẻ thù. Chính vì thế, trong ñại thắng mùa xuân 1975, khi chuyển từ tiến công chiến lược sang Tổng tiến công, lực lượng vũ trang cách mạng ñã sớm chọn mục tiêu ñánh vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ ñể kết thúc chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Quyết tâm ñó ñã ñược thực hiện bằng chiến 9
  11. dịch Hồ Chí Minh lịch sử, khiến ñịch phải ñầu hàng không ñiều kiện ngày 30-4-1975. Như vậy chiến tranh cách mạng bắt ñầu nổ những tiếng súng ñầu tiên ở Nam Bộ; và 30 năm sau, những tiếng súng kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ cũng tại chiến trường Nam Bộ. Nam Bộ sáng tạo và làm phong phú những phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam Là một trong những chiến trường trọng ñiểm của chiến tranh 30 năm (1945-1975), nhất là trong giai ñoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 -1975), Nam Bộ cũng là nơi có phong trào chiến tranh nhân dân phát triển sớm, ngày càng rộng lớn và quyết liệt. Ngay từ những ngày ñầu Nam Bộ kháng chiến, nhân dân và các lực lượng cách mạng ở Nam Bộ ñã có nhiều hình thức kết hợp cả ñấu tranh chính trị với ñấu tranh vũ trang. Lực lượng kháng chiến ñã nhanh chóng tấn công quân Pháp bằng những “mặt trận quân sự” hình thành xung quanh ñô thị Sài Gòn, ñồng thời tổ chức những cuộc tuần hành, biểu dương lực lượng, bãi khóa, bãi thị, bãi công ở ngay trong các thành phố, thị xã, thị trấn... Trong cuộc kháng chiến sau ñó, nhất là từ sau ðồng khởi 1960, cuộc chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ ñã tiếp tục sáng tạo ra nhiều hình thức và nội dung mới ñể chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới. Những khái niệm “hai chân, ba mũi, ba vùng” ñược hình thành trong phong trào toàn dân ñánh giặc, ñược áp dụng phổ biến và bổ sung ngày càng phong phú sau ñó ñược khái quát thành phương châm và phương thức tiến hành chiến tranh. ðó là cách ñánh ñịch bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, với các hình thức ñấu tranh chính trị kết hợp với ñấu tranh vũ trang; ñánh bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận); ñánh trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn ñồng bằng, ñô thị)... Trong cuộc chiến tranh một mất một còn ở miền Nam những năm 1954-1960, ñịch muốn phá vỡ mối quan hệ cùng bản chất (giữa các lực lượng cách mạng với quần chúng nhân dân yêu nước) rồi tạo cho nó mối quan hệ mới khác bản chất (giữa cách mạng và phản cách mạng). Chúng ñã thực hiện bằng nhiều cách: Tố cộng, diệt cộng ñể gây oán thù lẫn nhau, Cải cách ñiền ñịa ñể lừa bịp và tạo lòng tin mới, gom dân quy khu lập ấp ñể “tát nước bắt cá” cách ly cá với nước, bom ñạn, chất ñộc hóa học, càn quyết, ñánh phá ác liệt ñể gây sự khiếp sợ bi quan, phát triển kinh tế - văn hóa ñể lung lạc, lôi kéo dụ dỗ mua chuộc... Phải tìm mọi cách ñể giữ cho bằng ñược mối liên hệ mật thiết giữa cách mạng với quần chúng nhân dân, do ñó bám trụ là vấn ñề sống còn của sự tồn tại phát triển phong trào cách mạng cơ sở. Lực lượng cách mạng ở xã ấp gồm các chi bộ ðảng, các cơ sở quần chúng cách mạng, lực lượng dân quân du kích; các lực lượng này cùng bám trụ ñịa bàn và dựa vào nhau mà tồn tại hoạt ñộng. Khi cán bộ du kích bám trụ thì cũng có dân và quần chúng bám trụ, cụ thể là khi cán bộ bám dân, thì dân bám xã ấp, từ ñó du kích tồn tại bám ñịch mà diệt ñịch. Bám trụ như trên cũng chính là quyết tâm thực hiện ba bám: cán bộ cách mạng bám dân - dân chúng bám xã ấp - du kích bám ñánh ñịch. Khi thực hiện ñược ba bám thì có làng xã chiến ñấu và thực hiện ñược phương thức ñánh giặc bằng “hai chân, ba mũi, ba vùng”. Có một thực tế khác là càng về cuối cuộc chiến tranh ñịch càng coi giành dân là một cuộc chiến tranh thực sự; và ñịch dồn mọi lực lượng, mọi nỗ lực vào việc giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh ở làng xã. Nam Bộ ñã có quá trình tiến hành cuộc chiến 10
  12. tranh nhân dân du kích từ thời kỳ chống Pháp nên bước vào thời chống Mỹ, nhất là từ sau ðồng khởi, phong trào nhân dân du kích chiến tranh Nam Bộ càng có ñiều kiện phát triển mạnh. Trên cơ sở phong trào nhân dân du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ thì lực lượng vũ trang ñịa phương (gồm bộ ñội ñịa phương và dân quân du kích) mới có thể xây dựng trưởng thành nhanh chóng ñược. Mặt khác, sự phát triển của chiến tranh cách mạng làm cho chiến tranh nhân dân du kích ñịa phương càng ngày ñược sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang chính quy. ðối tượng chính của chiến tranh nhân dân du kích ñịa phương là chống càn quét bình ñịnh, chống các lực lượng kìm kẹp của ñịch ở xã ấp gồm ñồn bót, các lực lượng chiếm ñóng, tề xã ấp, các cuộc cảnh sát, các ñoàn bình ñịnh... Trận ñịa tốt nhất của chiến tranh nhân dân du kích là các làng xã chiến ñấu. Chính ở ñây ñã sáng tạo thêm ra nhiều phương thức mới, vũ khí mới, lối ñánh mới mà kẻ thù không sao hiểu nổi và không sao chống ñỡ nổi. Các hầm chông, mìn, “bãi tử ñịa”, các “ñạo quân ong vò vẽ”, các loại vũ khí mới như súng “ngựa trời”, mìn ñạp... ñó là sản phẩm mà không ñạo quân viễn chinh nào có ñược, còn nhân dân thì từ anh du kích, chị dân quân, ñến ông già bà lão và em nhỏ ai cũng làm ñược, sử dụng ñược. Vì thế ở xã ấp chiến ñấu ai cũng ñánh giặc, ai cũng là chiến sĩ và kẻ ñịch gọi họ chung là “Việt cộng”. Chiến tranh du kích ở xã ấp phát triển sẽ kết hợp với các hoạt ñộng ñấu tranh chính trị, vũ trang của các lực lượng cấp trên và các ñịa phương với nhau, làm cho hình thái chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ càng có nội dung phong phú. Lực lượng vũ trang từng bước hình thành và tiến hành những chiến dịch tiến công diệt từng tiểu ñoàn, trung ñoàn, chiến ñoàn ñịch, gây thối ñộng lớn ñến lực lượng chủ yếu của chiến tranh xâm lược của Mỹ, thúc ñẩy mạnh mẽ phong trào chống phá bình ñịnh ở nông thôn. Các ấp chiến lược, ấp tân sinh của ñịch sau khi bị phá tan, quần chúng nhân dân trong ñó giành ñược quyền làm chủ hoàn toàn, thì sẽ diễn ra quá trình “biến hóa” thành xã ấp chiến ñấu tùy theo quy mô cần thiết. Các xã ấp chiến ñấu hình thành lại nối với nhau thành hệ thống liên hoàn, trong ñó du kích và nhân dân cùng sáng tạo ra các cách thức ñánh giặc. * Như vậy, chiến tranh cách mạng 30 năm (1945-1975) là cuộc chiến trường kỳ gian khổ chống chiến tranh xâm lược ñể bảo vệ Tổ quốc, giải phóng miền Nam, thống nhất ñất nước; ñó cũng là cuộc chiến tranh của dân, vì dân và do dân. Sức sáng tạo của nó nằm trong bản chất sáng tạo cách mạng của quần chúng nhân dân. Ba mươi năm - chỉ chiếm 1/10 thời gian của lịch sử 300 năm khai phá và phát triển vùng ñất mới, nhưng là khoảng thời gian vô cùng quan trọng của lịch sử Nam Bộ. Bởi ñó là 3 thập niên Nam Bộ chuyển biến trên mọi lĩnh vực, một mặt nó chịu sự tác ñộng liên tục, ngày càng mạnh của quá trình thực dân hóa từ bên ngoài, mặt khác nó gắn liền với cuộc chiến ñấu gian khổ trường kỳ của dân tộc vì ñộc lập, vì tự do của Tổ quốc. Nam Bộ ñã góp phần quyết ñịnh vào thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân trên mảnh ñất “Thành ñồng của Tổ quốc”. Nó sẽ trở thành sức mạnh lịch sử to lớn của Nam Bộ trong công cuộc chống nghèo nàn và tụt hậu ñã và ñang diễn ra từ sau năm 1975. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của ñế quốc Mỹ và quy luật hoạt ñộng của Mỹ ngụy trên chiến trường B2 (Dự thảo). Phòng tổng kết ñịch. Lưu hành nội bộ, 1984. 2. Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của ðảng, vì ñộc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, H.1970. 11
  13. 3. Cửu Long, Mấy vấn ñề chiến tranh du kích ở nông thôn miền Nam trong giai ñoạn ñánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Tài liệu lưu trữ phòng Khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7. 4. Cao Văn Lượng - Phạm Quang Toàn - Quỳnh Cư, Tìm hiểu phong trào ðồng khởi ở miền Nam Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, H.1981. 5. Huỳnh Lứa (Chủ biên), Lịch sử khai phá vùng ñất Nam Bộ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1987. 6. Quân Giải phóng miền Nam, Hội nghị dân quân Nam Bộ tổng kết về phần xã chiến ñấu (1962). Tài liệu lưu trữ phòng Khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7. 7. Quân Giải phóng miền Nam, Một số kinh nghiệm về xã chiến ñấu ở ñồng bằng nông thôn (Báo cáo kết luận hội nghị dân quân du kích Nam Bộ tháng 11/1962). Tài liệu lưu trữ phòng Khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7. 8. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của ñế quốc Mỹ ở Việt Nam, H.1991. 9. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Tập I, Nxb. Sự thật, H.1990. 10. Nhuận Vũ, Những bế tắc của Lầu Năm Góc sau Việt Nam, Nxb. Quân ñội nhân dân, H.1981. 12
  14. PHẦN 1 NAM BỘ MỞ ðẦU CHIỀN TRANH CÁCH MẠNG VIỆT NAM 13
  15. SỰ LỰA CHỌN HÒA BÌNH GIỮA NGUY CƠ CHIẾN TRANH 1. Nền ñộc lập trứng nước giữa nguy cơ chiến tranh Cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và giành thắng lợi trọn vẹn: chỉ 15 ngày kể từ khi quyết ñịnh Tổng khởi nghĩa (13-8-1945) ñến khi Côn ðảo ñược giải phóng (28-8-1945), nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam, từ ñất liền ñến hải ñảo ñã nổi dậy lật ñổ bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến, phát xít, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân từ Trung ương ñến ñịa phương. Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 dẫn ñến sự ra ñời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nền dân chủ cộng hòa ñầu tiên trên ñất nước ñã trải qua hàng ngàn năm ñấu tranh dựng nước và giữ nước. Tuyên ngôn ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh ñọc tại vườn hoa Ba ðình ngày 2-9-1945 ñã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân ñồng bào và toàn thế giới về nền ñộc lập của Việt Nam. Từ ñây toàn dân tộc Việt Nam bước vào xây dựng, củng cố nền ñộc lập dân chủ. Tuy nhiên, nền ñộc lập tự do của dân tộc Việt Nam vừa hình thành trên căn bản sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, chưa phải là sự thất bại của chủ nghĩa thực dân. Thắng lợi của ðồng minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ II mới chỉ là thắng lợi của phe dân chủ ñối với chủ nghĩa phát xít, tạo ñiều kiện cho các dân tộc có quyền tự quyết ñịnh tương lai và vận mệnh lịch sử của mình, nhưng chủ nghĩa thực dân sau chiến tranh lại tìm thấy cơ hội ñể phục hồi và phát triển ở hệ thống thuộc ñịa. Nước Pháp ngay sau khi ñược giải phóng (cuối năm 1944) và nhất là khi Chiến tranh thế giới lần thứ II ñi vào giai ñoạn cuối, ñã phục hồi các thế lực thực dân với ý ñồ muốn trở lại chế ñộ thuộc ñịa ở ðông Dương. Tuyên bố ngày 24-3-1945 của De Gaulle ñã nói rõ: Liên bang ðông Dương sẽ gồm 5 xứ riêng biệt: Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, Cao Miên, Ai Lao; Liên bang ðông Dương sẽ có một chính phủ Liên bang do một viên toàn quyền cầm ñầu và gồm có một số bộ trưởng Pháp và bản xứ chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền, viên toàn quyền là ñại diện của nước Pháp1. Pháp bị Nhật ñảo chính, chế ñộ cai trị của Pháp ở ðông Dương bị lật ñổ, nhưng thực dân Pháp không ñi với Việt Minh ñể chống phát xít Nhật, vì biết Việt Minh là lực lượng ñộc lập chống chế ñộ thuộc ñịa, còn Nhật sẽ bị quân ðồng minh tiêu diệt và phải rời khỏi ðông Dương, do ñó Pháp chấp nhận tạm thời thua Nhật ñể chuẩn bị lực lượng ñưa sang ðông Dương khi ñiều kiện cho phép. Thực hiện âm mưu lập lại chế ñộ thuộc ñịa, ngay khi chiến tranh chưa chấm dứt, thực dân Pháp quyết ñịnh ñưa “Sư ñoàn giải phóng ðông Dương” nhảy dù xuống nhiều nơi ở Việt Nam, Lào, Campuchia. Khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, theo sự phân công của lực lượng ðồng Minh, từ ngày 6 ñến 11-9-1945, phái ñoàn Anh do tướng Gracey cầm ñầu ñưa một lữ ñoàn vào Sài Gòn dưới danh nghĩa là thay mặt lực lượng ðồng minh ñể giải giáp quân ñội Nhật. Theo chân quân Anh và ñược quân Anh tạo ñiều kiện thuận lợi, quân Pháp cũng trở lại nhiều vị trí trước ñây bị Nhật ñảo chính ngày 9-3- 1945. ðặc biệt là Pháp lén lút ñưa tiểu ñoàn biệt kích thuộc trung ñoàn bộ binh thuộc ñịa số 5 (5eR.I.C) gồm 120 lính Pháp ñi theo quân Anh. 1 Nam Bộ và Nam Trung bộ trong hai năm ñầu kháng chiến (1945-1946), Nxb. Văn Sử ðịa, H.1957, tr. 11. 14
  16. Quân Anh có nhiệm vụ vào ðông Dương giải giáp quân Nhật, ñồng thời tìm cách giúp quân Pháp lập lại chế ñộ thuộc ñịa ở ñây, nhằm giữ ổn ñịnh cho cả hệ thống thuộc ñịa của chủ nghĩa thực dân phương Tây ở miền Viễn ðông giàu có này. Tướng Gracey chỉ huy 6.000 quân Anh ngay khi vào ñến Sài Gòn ñã phối hợp với quân Pháp trong nhiều hoạt ñộng nhằm giành lại quyền lực cho các thế lực thực dân. Dưới danh nghĩa ðồng minh vào ðông Dương giải giáp quân Nhật, quân Anh ñã tích cực giúp quân Pháp thực hiện âm mưu lập lại chế ñộ thuộc ñịa: ngay khi ñặt chân lên Sài Gòn, Gracey ra lệnh thả tù binh Pháp bị Nhật bắt giữ trước ñây, ñòi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thả những tên Pháp bị bắt trong vụ khiêu khích ngày 2-9-1945, cho phép quân Nhật tiếp tục làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố, ñồng thời chúng ñòi chiếm trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và công nhận tên Cédile làm Thống ñốc Nam kỳ. Từ ngày 14-9-1945 ñến 22-9-1945, quân Anh, Pháp liên tục can thiệp vào nội bộ chính quyền cách mạng như cấm nhân dân mang vũ khí ñi biểu tình, ñòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang cách mạng, ra lệnh giới nghiêm ban ñêm, cấm báo chí xuất bản, giao vũ khí và xe vận tải cho quân ñội Pháp, tổ chức họp báo tuyên bố “Việt Minh không ñại diện cho nhân dân Việt Nam”, “Pháp có nhiệm vụ thành lập chính phủ mới”… Phái bộ Anh còn tuyên bố giữ quyền kiểm soát thành phố, buộc lực lượng vũ trang Việt Minh rút khỏi thành phố, ñòi ñặt “Quốc gia tự vệ cuộc” (lực lượng công an cách mạng) dưới sự chỉ huy của chúng và làm áp lực ñể kiểm soát quận 2, quận 3. Lực lượng của Anh, Pháp và Nhật ở Sài Gòn lúc bấy giờ ñông khoảng hơn 10.000 tên1. Quân Tưởng mặc dù phải ñối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc ñang lớn mạnh, nhưng không bỏ lỡ cơ hội ñược Mỹ cho khoác áo ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ñể thực hiện tham vọng chính trị ở ðông Dương. Tướng Lư Hán và Tiêu Văn tranh thủ thời gian ngay khi chiến tranh thế giới vừa kết thúc, ñưa 200.000 quân vào Việt Nam hòng thực hiện mục tiêu trước mắt là sắp ñặt chế ñộ chính trị ở Việt Nam với các nhiệm vụ cụ thể: phá tan Mặt trận Việt Minh, giải tán ðảng Cộng sản ðông Dương, kiềm chế và bắt cóc lãnh tụ Hồ Chí Minh. Phát xít Nhật ñã thất trận trong chiến tranh, nhưng 50.000 quân Nhật rời khỏi ðông Dương trong tâm trạng thù hằn với cách mạng Việt Nam, sẵn sàng tiếp tay cho Anh, Pháp lập lại chế ñộ thuộc ñịa ở ðông Dương Mỹ có một bộ phận quân ñội ở ðông Dương, liên hệ cả với Việt Minh và các lực lượng ðồng minh, trước mắt là tạo ñiều kiện cho quân Tưởng vào ðông Dương thực hiện ý ñồ sắp xếp lại vùng ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực này. Như vậy nền dân chủ cộng hòa còn trong trứng nước thì các thế lực ngoại xâm và nội phản ñã rình rập. Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, hàng chục vạn quân Tưởng với những mục tiêu cụ thể, có nhiều công cụ và lực lượng hỗ trợ ñể thực hiện dã tâm xâm lược. Ở phía Nam vĩ tuyến 16, quân Pháp, Anh ñã khiêu khích trắng trợn và chúng quyết tâm thực hiện dã tâm xâm lược bằng biện pháp chiến tranh. Ngày 2-9-1945, khi người dân Sài Gòn ñang mít tinh mừng ñộc lập, quân Pháp thực dân ở Sài Gòn ñã khiêu khích bắn vào ñoàn người dự mít tinh làm 47 người chết. 2. Sự lựa chọn hòa bình và phản ứng của nền ñộc lập tự do Thắng lợi vừa giành ñược trong Tổng khởi nghĩa cũng bao hàm cả việc tạo dựng nền hòa bình làm môi trường, ñiều kiện ñảm bảo cho công cuộc kiến thiết ñất nước. Chiến tranh thế giới chấm dứt, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; thắng lợi của quân ðồng 1 Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia ðịnh kháng chiến (1945-1975), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr. 50. 15
  17. minh trong chiến tranh ñã kiến tạo nền hòa bình mới cho nhân loại, ñồng thời tạo ñiều kiện khách quan cho nhiều quốc gia dân tộc nổi dậy giành quyền làm chủ, xây dựng nền ñộc lập, tự chủ, trong ñó có Việt Nam. Từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt, nhân dân Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ có nguyện vọng chung là hòa bình. Bởi chiến tranh ñã tàn phá và hủy hoại nhiều tài sản, của cải của nhiều quốc gia trên thế giới; làm chết hàng chục triệu người (riêng Liên Xô có 25 triệu) và hàng chục triệu người khác bị thương. Tổn thất to lớn do chiến tranh gây ra không chỉ là hậu quả nặng nề mà các dân tộc phải chịu ñựng trong và sau chiến tranh (có nơi như nước Nhật do bị bom nguyên tử nên hậu quả chiến tranh sẽ kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ), mà còn gây ra sự khiếp sợ của tất cả các quốc gia tham chiến... Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi ra ñời lựa chọn con ñường hòa bình là sự lựa chọn tất yếu ñể xây dựng và kiến thiết nền dân chủ cộng hòa của ñất nước. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh ñứng ñầu ngay sau ngày ñộc lập ñã ñề ra 6 biện pháp cấp bách: cứu ñói – chống dốt – tổng tuyển cử tự do – chống hủ hóa dân tộc và thực hiện cần, kiệm, liêm, chính – bỏ các thứ thuế vô lý – tự do tín ngưỡng1. ðó là những chủ trương và biện pháp hòa bình ñầu tiên của chế ñộ mới ñể xây dựng nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nước Việt Nam mới, làm cơ sở của nền dân chủ cộng hòa, làm nên sức mạnh bảo vệ hòa bình và ñộc lập tự do của dân tộc. Mặc dù nguy cơ chiến tranh trên cả nước là rất lớn và rất phức tạp, nhưng Chính phủ Hồ Chí Minh vẫn tìm mọi cách tránh những mâu thuẫn dẫn ñến xung ñột, nhất là xung ñột với lực lượng vũ trang các nước ñang có âm mưu thôn tính Việt Nam. Ở phía Bắc, Chính phủ Hồ Chí Minh cho thực hiện nhiều biện pháp thiết thực làm mất mục tiêu ñánh phá của quân Tưởng, buộc quân Tưởng phải chú ý ñến nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và phải hợp tác với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Tuyên bố giải tán ðảng Cộng sản, nêu cao khẩu hiệu Hoa – Việt thân thiện, hoan nghênh quân ðồng minh và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, chấp nhận cung cấp lương thực thực phẩm cho quân Tưởng, chấp nhận cho Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ và chuyển thành Chính phủ liên hiệp… ðối sách ấy làm cho hàng chục vạn quân Tưởng không thể có hành ñộng gây xung ñột và cũng không thể có nguyên cớ trực tiếp ñể gây chiến ở Việt Nam. Ở phía Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bước ñầu thi hành nhiều chủ trương của chính sách ñể xây dựng củng cố hệ thống chính quyền cách mạng, tăng cường sự lãnh ñạo của ðảng và Chính phủ ở Nam Bộ... Tuy vậy cuộc chiến ñã bùng nổ ở Sài Gòn và lan nhanh ra Nam Bộ. ðược sự giúp ñỡ ñắc lực của quân Anh, ñêm 22 rạng ngày 23-9-1945, quân Pháp nổ súng ñánh chiếm các công sở của cách mạng như Ủy ban Hành chánh Nam Bộ, Sở Cảnh sát, Sở Bưu ñiện, ðài Phát thanh, ngân hàng, nhà ñèn, Khám lớn Sài Gòn, rồi tiến qua cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Mac Mahon (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) mở rộng vùng ñánh chiếm. Ngay sáng ngày 23-9-1945, Xứ ủy và Ủy ban Hành chính Nam Bộ (sau là Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ), họp khẩn cấp tại Cây Mai quyết ñịnh phát ñộng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Những cuộc bãi công, bãi thị, bãi khóa nổ ra, thực hiện bất hợp tác với ñịch; nhân dân khênh giường, tủ, bàn, ghế, xe cộ ra ñường và hạ cây chắn ngang ñường ñể chặn bước tiến của giặc. Với khẩu hiệu “ðộc lập hay là 1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2000, tr. 7-9. 16
  18. chết”, nhiều tổ chức vũ trang, bán vũ trang nhanh chóng hình thành, sẵn sàng bước vào công cuộc bảo vệ cách mạng, chống xâm lược. Theo hiệu triệu của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, khắp nơi nổ ra các cuộc tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa, tản cư khỏi thành phố, kiên quyết bất hợp tác với giặc… Mọi sinh hoạt chợ búa, giao thông, trường học trong toàn thành phố ñều ngừng hẳn. Công nhân nghỉ việc, nhà máy bị phá. Mọi vật dụng như bàn ghế, quầy hàng, xe kéo, xe thổ mộ… ñược ñẩy ra ñường. Cây bị cưa, cột ñèn bị ñập gãy, vật cản, chiến lũy ñược dựng lên khắp nơi. Các lực lượng kháng chiến ở Sài Gòn hình thành 4 mặt trận ở 4 phía Bắc (Mặt trận cầu Thị Nghè) – Nam (Mặt trận cầu Bình ðiền) – ðông (Mặt trận cầu chữ Y) – Tây (Mặt trận cầu Tham Lương), tạo thành thế “trong ñánh ngoài vây”, giam chân quân ñịch và tiêu diệt chúng trong thành phố. Chiến sự tiếp diễn từng ngày ở trung tâm thành phố, dọc ñường Verdun, quanh ga xe lửa, chợ Bến Thành, cầu Ông Lãnh, khu bến tàu, Cầu Muối, chợ Bàn Cờ, sở Cứu hỏa ở ñường Galliéni (nay là ñường Trần Hưng ðạo), sở Công an, xưởng Vật liệu cao su Labbé ở Cầu Muối, Chợ Lớn… Ngày 24-9-1945, lực lượng cách mạng tấn công bót Thương Khẩu ở ñường Giăng Ê-ñen (nay là ñường Nguyễn Tất Thành). Hàng nghìn ñồng bào Xóm Chiếu, Khánh Hội, Tân Thuận, Tân Quy, lực lượng Công ñoàn xung phong, công nhân các hãng Faci, Caric, Nisaki, tấn công bót số 6. Ngày 25-9-1945, lực lượng cách mạng ñánh ñịch ở ñường Mayer (nay là ñường Võ Thị Sáu), bến Tắm Ngựa (nay là ñường Huỳnh Tịnh Của), Khám Lớn… Ngày 26-9-1945, du kích ñốt cháy cầu Lái Thiêu, tập kích ñoàn xe chở vũ khí của Anh tiếp tế cho quân Pháp tại ngã ba Nhà Làng (nay là xã Thạnh Mỹ Tây). Ngày 27-9- 1945, lực lượng cách mạng phục kích quân Pháp và quân Nhật từ Khánh Hội ñịnh nống qua cầu Thị Nghè. Ngày 30-9-1945, lực lượng cách mạng tập kích trên ñường Catinat (nay là ñường ðồng Khởi), nhà máy rượu, kho gạo, kho vải ở Tân Bình… Trước tình hình hình ñó, ñịch dùng kế hoãn binh chờ lực lượng chi viện. Lợi dụng thời gian ngừng bắn, Pháp ñưa 5.000 quân và nhiều vũ khí từ chính quốc chi viện sang và tổ chức hành quân ra ngoại thành ñể phá thế bao vây của quân cách mạng. Dựa vào quân số ñông, vũ khí tối tân, lại ñược quân ñội Hoàng gia Anh và tàn quân Nhật tích cực hỗ trợ, vào cuối tháng 10, ñầu tháng 11-1945, thực dân Pháp phá vòng vây, tiến ñánh các tỉnh khác của Nam Bộ. Từ tháng 11-1945 ñến tháng 2-1946, quân Pháp ñánh chiếm hầu hết các tỉnh thành Nam Bộ, Nam Trung bộ, ñường giao thông chiến lược, các vị trí quan trọng và khu vực xung yếu về quân sự từ Nam Trung bộ trở vào. Chúng lấy ñó làm bàn ñạp ñể thực hiện tiến quân ra Bắc ñánh chiếm lại toàn bộ Việt Nam và ðông Dương, như chúng ñã làm hồi cuối thế kỷ XIX. Cuộc chiến bùng nổ sớm ở Sài Gòn là phản ứng ñầu tiên của nền ñộc lập - một phản ứng tự nhiên và tức thời của người dân và lãnh ñạo cách mạng ở thành phố Sài Gòn ñã thấm nhuần cái thiêng liêng của nền tự do ñộc lập, dù mới 28 ngày ñược hưởng thụ. Sài Gòn và Nam Bộ kháng chiến làm cho tình hình diễn biến thêm phức tạp và nguy cơ chiến tranh thêm nóng bỏng, nhưng không phá vỡ xu thế phát triển của nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, không ñi ngược lại sự lựa chọn con ñường hòa bình của Chính phủ Hồ Chí Minh ñang thực hiện. Nó chỉ càng làm cho nguyện vọng hòa bình của nhân dân ở Nam Bộ cũng như cả nước trở thành hiện thực, với quyết tâm và hành ñộng cụ thể ñể giữ 17
  19. nền hòa bình ñộc lập. 3. Những nỗ lực cứu vãn hòa bình – Chiến tranh không tránh khỏi Nhiệm vụ cấp bách của ñất nước: cứu vãn nền hòa bình, ñẩy lùi nguy cơ chiến tranh. So với tình hình nóng bỏng của chiến sự ở Nam Bộ, thì nguy cơ chiến tranh ở phía Bắc vĩ tuyến 16 còn nguy hiểm hơn nhiều. Bởi 20 vạn quân nước ngoài ñã ñứng chân ngay tại Thủ ñô Hà Nội và các ñịa phương xung quanh; những công cụ và thủ ñoạn của chúng thì nhiều và nham hiểm; những mục tiêu của chúng thì cụ thể và rất hệ trọng; chúng lại có danh nghĩa quân ñồng minh. Việc ñối phó với nguy cơ chiến tranh ở phía Bắc vì vậy không chỉ là bằng tinh thần và lực lượng vật chất, mà còn ñòi hỏi mưu và trí, với giải pháp trước mắt không thể giống như Nam Bộ. Nhất là khi quân Pháp ở Nam Bộ ñã mở rộng vùng chiếm ñóng và ñang tìm ñường ñưa quân ra Bắc; sức ép của nguy cơ ñối ñầu cùng lúc với nhiều loại kẻ thù ngày càng lớn. Tổ quốc lâm nguy, Hồ Chí Minh cùng ðảng, Chính phủ hóa giải nguy cơ chiến tranh bằng những nguyên tắc: Tránh ñối ñầu với nhiều loại kẻ thù cùng một lúc; thỏa hiệp, nhân nhượng có nguyên tắc với từng loại kẻ thù; thực hiện “hòa ñể tiến”… Các hiệp ñịnh ñược ký kết: Hiệp ñịnh Sơ bộ ký ngày ngày 6-3-1946 (cho phép 15.000 quân Pháp ra Bắc thay quân Tưởng), chấp nhận Hội nghị trù bị ðà Lạt (chuẩn bị cho ñàm phán chính thức Việt-Pháp tại Paris), Ký bản Tạm ước ngày 14-9-1946 (ñảm bảo quyền lợi cho Pháp và mở lại ñàm phán ñể giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp). Những hoạt ñộng ngoại giao sáng ngời thiện chí hòa bình của nền dân chủ cộng hòa ñược tiến hành: Hồ Chủ tịch gửi thư cho những người ñứng ñầu các nước ðồng minh ñề nghị kiến lập quan hệ ngoại giao, xin gia nhập Liên Hiệp quốc (tháng 9-10/1945), Hồ Chủ tịch nhiều lần gặp riêng các Cao ủy Pháp và Tư lệnh quân ñội Pháp ở Việt Nam (ñầu năm 1946), cử Phái ñoàn Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thăm Quốc hội Pháp (tháng 5-1946), cử ñoàn ñại biểu chính thức sang Pháp dự ñàm phán chính thức Việt-Pháp ñể giải quyết mối quan hệ hai nước bằng con ñường hòa bình (tháng 5-9/1946), Hồ Chủ tịch với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp sang thăm nước Pháp và làm việc với một số chính giới Pháp (từ 31-5-1946 ñến 14-9-1946)… Ở trong nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sau ngày ñộc lập ñã ñưa ra các chính sách, sắc lệnh và nhiều thông báo, thông tư, thư kêu gọi ñồng bào các giới các ngành, cả ngoài Bắc lẫn trong Nam, phải có thái ñộ ñúng ñắn với quân ðồng minh, xây dựng mối quan hệ thân thiện, hợp tác, giúp ñỡ lẫn nhau, tình hữu hảo hữu nghị với kiều dân và quân ñội nước ngoài ở Việt Nam, không gây thù oán với ai… Như thế, thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam ñã ñược thể hiện trong thực tế ngay từ ñầu khi cách mạng thành công, ñược nhân dân trong nước ñồng tình ủng hộ, ñược nhân dân và nhiều chính giới Pháp thừa nhận, quân ðồng minh ở ðông Dương không thể chối cãi. Song thiện chí hòa bình của Việt Nam ñang bị các thế lực thực dân và phản ñộng áp chế ngày càng mạnh bằng những thủ ñoạn và biện pháp chiến tranh. Những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Hồ Chủ tịch nhằm cứu vãn nền hòa bình không thể có hiệu quả lâu dài ñược, bởi nguy cơ chiến tranh của chủ nghĩa thực dân ñế quốc trong khu vực này còn rất lớn. Việt Nam và bán ñảo ðông Dương năm 1945-1946 trở thành nơi tập trung quyền lợi của chủ nghĩa thực dân phương Tây (ñại diện là Pháp) ở khu vực này – nơi Mỹ ñang cố gắng gây dựng vai trò mới, Tưởng ñang có tham vọng chính trị, Nhật tiếc nuối với ảnh 18
  20. hưởng của chính sách ðại ðông Á mới gây dựng trong 5 năm vừa qua. Quyền lợi ấy cũng mâu thuẫn với quyền ñộc lập tự do của nhân dân Việt Nam và các dân tộc ðông Dương Cuộc xung ñột quyền lợi tay ba (Việt Nam – Pháp – Mỹ) ở ðông Dương sẽ không dễ dàng ñược giải quyết khi thực lực của mỗi bên ñều ñang ñược tập hợp và phát huy sức mạnh trong cuộc tranh giành quyền lợi cho mình. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra ñời ñang cần có ñiều kiện hòa bình và sự giúp ñỡ của các nước ñể kiến thiết ñất nước. Pháp cũng ñang cần có thuộc ñịa ñể góp phần vào việc phục hồi và phát triển tư bản sau chiến tranh. Mỹ ñang tìm cách gây dựng ảnh hưởng ở ðông Nam Á… Mỹ không ủng hộ Pháp trở lại ðông Dương lúc này, nhưng cũng không tạo ñiều kiện cho nhân dân Việt Nam chống âm mưu của Pháp lập lại chế ñộ thuộc ñịa ở ñây. Thái ñộ của Mỹ lúc này có ý nghĩa quan trọng ñối với nền hòa bình ở ðông Dương, cụ thể là Mỹ thừa nhận thực tế Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính phủ ñộc lập, sẽ có giá trị lớn ñối với việc ñảm bảo sự lựa chọn hòa bình tránh nguy cơ chiến tranh ở ðông Dương, và vì vậy cũng sẽ có ý nghĩa quan trọng ñối với việc thiết lập quan hệ Việt Nam – Pháp, Việt Nam – Mỹ cả trước mắt và lâu dài. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ñã cố gắng hết mức ñể cứu vãn nền hòa bình, tránh chiến tranh, tha thiết với việc kiến lập quan hệ ngoại giao với các nước, kêu gọi sự trợ giúp của các nước, trước hết là các nước ðồng minh. Trong khi ñó Mỹ không chìa tay ra, còn Pháp thì rắp tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa. Trong tình thế chiến tranh không thể tránh khỏi, việc xây dựng lực lượng cho một cuộc kháng chiến ñể bảo vệ thành quả cách mạng là cần thiết và tất yếu. Một mặt, những biện pháp cứu vãn hòa bình vẫn ñược thực thi, mặt khác Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa triển khai những công việc chuẩn bị và giành quyền chủ ñộng ñể phát ñộng toàn dân ñứng lên chống xâm lược. Những lực lượng chính trị và vũ trang ñược khẩn trương xây dựng, củng cố. Những phương án ñược hình thành ñể ñối phó với các tình huống bất trắc do thực dân Pháp gây ra. Cả nước ủng hộ và tiếp tay cho Nam Bộ kháng chiến ñể nêu cao quyết tâm và ý chí chiến ñấu chống xâm lược, có tác dụng tích cực ñối với việc chuẩn bị tinh thần và tư tưởng cho cả dân tộc bước vào chiến tranh. Khi thực dân Pháp ñã ñưa ra những tối hậu thư và chuẩn bị hành ñộng chiến tranh xâm lược trên quy mô lớn, việc cứu vãn hòa bình ñã không thể tiếp tục ñược nữa, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ñã buộc phải phát lệnh tuyên chiến. ðêm 19-12-1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi với quyết tâm lớn: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất ñịnh không chịu mất nước, nhất ñịnh không chịu làm nô lệ”. ðêm ấy, từ Thủ ñô Hà Nội, cuộc kháng chiến bùng nổ và lan nhanh ra toàn quốc. Sự lựa chọn con ñường hòa bình và tránh nguy cơ chiến tranh sau gần 2 năm thực hiện (1945-1946), ñến ñây bước sang một giai ñoạn mới: kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ ñể giành lại hòa bình. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. A. Patti, Tại sao Việt Nam, Người dịch Lê Trọng Nghĩa, Nxb. ðà Nẵng, 1995. 2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000. 3. Jean Sainteny, Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân. H.2003. 4. Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia ðịnh kháng chiến (1945-1975), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994. 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2