intTypePromotion=1
ADSENSE

Những thách thức của việc dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ

Chia sẻ: DanhVi DanhVi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

51
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày một số những thách thức có thể gặp trong quá trình triển khai và hoàn thiện mô hình CLIL, dựa trên quá trình phát triển thực tế của mô hình này. Nội dung bài viết được chia làm hai phần. Phần đầu của bài viết nêu ra định nghĩa về cách tiếp cận theo mô hình CLIL và những khác biệt của nó so với các cách tiếp cận song ngữ khác, phần thứ hai nêu những thách thức của mô hình CLIL, phân chia thành bốn nhóm chính: các yếu tố về quản lí, yếu tố về giáo viên, yếu tố về học sinh và yếu tố liên quan đến tài liệu giảng dạy.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những thách thức của việc dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 1 tháng 5/2018, tr 169-175<br /> <br /> NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH HỢP<br /> NỘI DUNG VÀ NGÔN NGỮ<br /> Chu Thu Hoàn - Trường Trung học phổ thông Chuyên ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội<br /> Ngày nhận bài: 14/11/2017; ngày sửa chữa: 22/11/2017; ngày duyệt đăng: 21/12/2017.<br /> Abstract: The aim of this research is to investigate the challenges that might be encountered in the<br /> implementation and accomplishment of content and language integrated learning (CLIL)<br /> programs, based on their actual development process. The research paper consists of two parts.<br /> The first part identifies the differences between CLIL and other bilingual education approaches,<br /> from which the causes of the difficulties in implementing CLIL programs are pinpointed. The<br /> second part details the challenges which are categorized into four main groups, namely the<br /> administration factor, teacher factor, learner factor and teaching-learning resource factor. The<br /> paper aims to indicate that implementing CLIL is possible only if these challenges are discussed<br /> and solved reasonably.<br /> Keywords: Content and language integrated learning (CLIL), challenge, bilingual instruction.<br /> 1. Mở đầu<br /> Xu hướng sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện<br /> để giảng dạy các bộ môn đã phát triển mạnh mẽ trong<br /> một vài thập kỉ gần đây. Mô hình học tích hợp nội dung<br /> và ngôn ngữ (Content and Language Integrated Learning<br /> - CLIL) là một trong những cách tiếp cận xuất hiện gần<br /> đây nhưng được đánh giá là một cách tiếp cận có nhiều<br /> cơ hội phát triển.<br /> Tiềm năng của CLIL là rất cao trong việc tối đa hóa<br /> kiến thức của học sinh về ngoại ngữ. Tuy nhiên, chúng<br /> ta cũng cần nhìn nhận những thách thức mà nó mang lại,<br /> do CLIL là một mô hình linh hoạt và cần có sự điều chỉnh<br /> thích ứng với những môi trường học cụ thể. Những điều<br /> chỉnh này có thể liên quan đến cơ chế quản lí, yếu tố giáo<br /> viên (GV), yếu tố học sinh (HS) và nguồn tài liệu hỗ trợ.<br /> Trong thời gian tới, CLIL vẫn được dự đoán sẽ tiếp tục<br /> lan rộng ra nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, do đó<br /> việc giải quyết những thách thức này là thiết yếu nhằm<br /> triển khai CLIL một cách toàn diện và hiệu quả.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Tiếp cận theo mô hình CLIL và sự khác biệt với<br /> các cách tiếp cận khác?<br /> CLIL bắt nguồn từ sự xuất hiện của mô hình giáo dục<br /> song ngữ, với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã được đưa<br /> ra trong giai đoạn hiện nay. Giáo dục song ngữ là việc sử<br /> dụng hai hay nhiều ngôn ngữ làm phương tiện giảng dạy<br /> Toán và khoa học. Các ngôn ngữ được sử dụng để giảng<br /> dạy những nội dung liên quan đến môn học hơn là tập<br /> trung vào cấu trúc của ngôn ngữ [1]. Tuy nhiên, nhiều<br /> học giả cho rằng từ “giáo dục song ngữ” chỉ là một cách<br /> nói đơn giản cho một hiện tượng giáo dục phức tạp hơn<br /> thế, bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau như lớp học<br /> ngoại ngữ hoàn toàn, mô hình giáo dục dựa nội dung<br /> <br /> (Content-Based Instruction - CBI và CLIL, tất cả đều<br /> mang hình thức của giáo dục song ngữ. Tuy nhiên, các<br /> lớp học ngoại ngữ hoàn toàn và mô hình CBI nhắm đến<br /> việc tăng cường khả năng thông thạo nội dung môn học<br /> và giao tiếp cho HS bằng việc dạy bộ môn cho họ thông<br /> qua song ngữ. Mặt khác, chúng cung cấp các kĩ năng<br /> ngôn ngữ để HS sử dụng trong tương lai, trong khi CLIL<br /> cung cấp những kĩ năng ngôn ngữ mới đáp ứng nhu cầu<br /> sử dụng hiện tại.<br /> Các mô hình học kiểu ngoại ngữ hoàn toàn hay CBI<br /> đôi khi được dùng như một cách nâng cao khả năng ngôn<br /> ngữ tốt nhất đối với các ngôn ngữ không phải tiếng Anh<br /> đã cố gắng đưa ra những kết luận chung nhất về những<br /> điểm khác biệt chính giữa CLIL và các cách tiếp cận<br /> khác, cụ thể là với các lớp ngoại ngữ hoàn toàn. Họ cho<br /> rằng giữa chúng có nhiều điểm tương đồng, rất ít khác<br /> biệt và sự phân biệt vẫn chưa thể được nhìn nhận rõ ràng<br /> so với những quan niệm được chỉ ra trong các nghiên cứu<br /> trước đó. Một trong những điểm khác biệt chính giữa<br /> những cách tiếp cận này là mục tiêu mà chúng hướng<br /> đến: các lớp học hoàn toàn hướng đến việc đạt được khả<br /> năng ngoại ngữ tốt và thông thạo ngoại ngữ như ngôn<br /> ngữ chính của mình, trong khi các chương trình CLIL<br /> hướng đến xây dựng sự thành thạo về mặt kĩ năng [2].<br /> March và Maljers giới thiệu về CLIL đầu tiên vào<br /> giữa những năm 1990. Đó là một cách tiếp cận kiến thức<br /> giảng dạy thông qua ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ phụ. Nói<br /> cách khác, cách tiếp cận này tập trung vào cả mặt ngôn<br /> ngữ và bộ môn được học. Hơn nữa, nó còn cung cấp<br /> những cách học linh hoạt hơn [3].<br /> Coyle (2007) cho rằng CLIL là cách tiếp cận rất linh<br /> hoạt, nó khuyến khích việc dạy theo những chương trình<br /> học nhất định. Trong mô hình này, các chương trình học<br /> <br /> 169<br /> <br /> Email: chuthuhoan2011@gmail.com<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 1 tháng 5/2018, tr 169-175<br /> <br /> được thiết kế nhằm chuẩn bị về yếu tố chuyên môn kĩ<br /> thuật, dựa vào đó mục tiêu của bài giảng sẽ tập trung hơn<br /> vào mặt ngôn ngữ, nhờ đó xây dựng thái độ của HS với<br /> việc học. Do đó, CLIL cho thấy một cách tiếp cận hiệu<br /> quả hơn rất nhiều để phổ biến ngoại ngữ tại các lớp học<br /> mà không loại bỏ sự quan trọng của các bộ môn khác.<br /> Mô hình này còn tăng cường thêm hiểu biết sâu hơn về<br /> bộ môn, nâng cao các kĩ năng ngôn ngữ, thúc đẩy động<br /> lực cho HS - một cách tiếp cận đồng thời đặt trọng tâm<br /> cả mặt ngôn ngữ và kiến thức [4]. Cùng với đó, Bruton<br /> (2011) cho rằng CLIL có những đặc điểm phát triển từ<br /> cách dạy ngôn ngữ giao tiếp và cả hai đều nhấn mạnh<br /> vào những hoạt động giao tiếp có ý nghĩa. Gần đây, CLT<br /> (Communicative Language Teaching) được áp dụng rất<br /> nhiều trong các buổi luyện tập giảng dạy bởi CLIL có<br /> nhiều nét chung với CLT, các GV hoàn toàn có thể dựa<br /> vào đó để triển khai mô hình CLIL trong giảng dạy.<br /> Việc sử dụng CLIL sẽ gia tăng mức độ thành thạo của<br /> HS với ngôn ngữ đích Nó mang đến cho họ cơ hội sử<br /> dụng ngoại ngữ trong lớp học. Bên cạnh đó, HS còn có<br /> thể sử dụng ngoại ngữ trong nhiều trường hợp khác, một<br /> cách để cải thiện năng lực ngôn ngữ của HS. CLIL không<br /> chỉ gia tăng mức độ thành thạo ngôn ngữ đích mà đồng<br /> thời mở rộng nhận thức trong cả ngôn ngữ phổ thông của<br /> HS. Bởi HS luôn cần dùng ngoại ngữ để làm phương tiện<br /> học một bộ môn cụ thể, CLIL biến việc giảng dạy chú<br /> trọng ngôn ngữ chuyển sang tập trung hơn vào nội dung<br /> bộ môn.<br /> Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm việc<br /> của một GV song ngữ bao gồm các khía cạnh chính: xã<br /> hội, cộng đồng, trường học, lớp học và các yếu tố liên<br /> quan khác (bảng dưới). Các yếu tố này quyết định rất<br /> nhiều đến sự thành công hay thất bại của việc triển khai<br /> CLIL ở bất kì môi trường học nào.<br /> Bảng 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công việc<br /> của giáo viên song ngữ<br /> Xã hội<br /> <br /> Cộng<br /> đồng<br /> <br /> - Các chính<br /> sách thuộc<br /> khu vực<br /> - Các điều<br /> khoản,<br /> quyết định<br /> về luật<br /> pháp<br /> - Cấu trúc<br /> chương<br /> trình song<br /> ngữ<br /> - Nguồn tài<br /> chính<br /> <br /> - Cha<br /> mẹ<br /> - Công<br /> việc<br /> - Các<br /> dịch vụ<br /> sức khỏe<br /> và xã hội<br /> - Các cơ<br /> quan<br /> liên<br /> quan<br /> khác<br /> <br /> Trường học<br /> - Ban giám<br /> hiệu (hiệu<br /> trưởng, hội<br /> đồng quản<br /> lí, người<br /> giám sát)<br /> - Tính chất<br /> GV (song<br /> ngữ/ đơn<br /> ngữ)<br /> - Người hỗ<br /> trợ<br /> - HS<br /> - Cơ sở vật<br /> chất<br /> <br /> Lớp học<br /> - Tính chất HS<br /> (song ngữ/ đơn<br /> ngữ)<br /> - Chương trình<br /> học<br /> - Công cụ phục<br /> vụ chương trình<br /> học<br /> - Các giờ luyện<br /> tập giảng dạy<br /> - Việc luyện tập<br /> đánh giá<br /> - Môi trường<br /> chung<br /> <br /> - Các công<br /> trình<br /> nghiên cứu<br /> - Chất<br /> lượng GV<br /> <br /> - Chương<br /> trình học<br /> <br /> - Đặc trưng về<br /> ngôn ngữ và văn<br /> hóa<br /> <br /> Từ thống kê trên đây, có thể nhận thấy những lí do<br /> tạo nên tính thách thức của CLIL, cụ thể là:<br /> - Đây là một mô hình phức tạp;<br /> - Không có một khuôn mẫu cụ thể nào cho CLIL –<br /> tất cả đều được quyết định bởi môi trường học;<br /> - Các GV bộ môn cần thêm sự hỗ trợ về ngôn ngữ;<br /> - Một cách tiếp cận mới lạ thường khó để được chấp<br /> nhận;<br /> - Sự quá tải của GV, sự thiếu động lực, thiếu công cụ<br /> giảng dạy; - Thiếu tính đồng nhất trong phương pháp<br /> đánh giá.<br /> Trên cơ sở đó, bài viết nêu ra một số những thách<br /> thức trong việc triển khai mô hình CLIL trong bối cảnh<br /> hiện tại, chia theo bốn loại yếu tố, sắp xếp theo quy trình<br /> từ trên xuống (top-down process): yếu tố quản lí, yếu tố<br /> GV, yếu tố HS, và yếu tố về nguồn tài liệu hỗ trợ.<br /> 2.2. Các thách thức<br /> 2.2.1. Yếu tố quản lí<br /> CLIL, cũng giống như bất kì một hình thức giáo dục<br /> nào hiện thời, có thể bị cản trở bởi các tổ chức chính trị<br /> và những quyết định từ bộ giáo dục ở nơi chúng được<br /> triển khai. Việc chuyển hóa chương trình giảng dạy của<br /> một quốc gia từ tiếng phổ thông sang một ngoại ngữ khác<br /> rõ ràng không thể nào được nhìn nhận một cách hời hợt<br /> bởi các nhà nghiên cứu về giáo dục.<br /> Để mô hình CLIL hoạt động hiệu quả, bất kì một kế<br /> hoạch nào được đưa ra phải được dựa trên những phân<br /> tích dữ liệu cụ thể [5]. Việc thiếu những hiểu biết cần<br /> thiết của các bên liên quan đối với mục đích họ đề ra<br /> trong triển khai mô hình CLIL cũng gây ảnh hưởng đến<br /> quá trình giảng dạy của GV [3].<br /> Các GV đôi khi không biết họ cần phải làm gì, đặc<br /> biệt khi mô hình CLIL yêu cầu họ tích hợp giảng dạy cả<br /> nội dung môn học và ngoại ngữ với nhau. Có thể lấy ví<br /> dụ như, Mehisto [6] nhận ra rằng ở các lớp học CLIL chỉ<br /> được giảng dạy bởi các GV bộ môn và việc học ngoại<br /> ngữ hầu như chỉ thông qua những lời dịch không cần<br /> thiết. Thực tế cho thấy rằng trong khi giảng dạy, các GV<br /> thường chỉ đặt mình vào một vai trò nhất định hoặc là<br /> giảng dạy nội dung hoặc là giảng dạy ngôn ngữ. Điều<br /> này gây ra khó khăn khi thực hiện dạy nhóm và đối với<br /> việc tạo sự tiếp cận một cách đầy đủ ở cả hai mặt nội<br /> dung và ngôn ngữ. Hơn nữa, các GV luôn cảm thấy khó<br /> khăn khi kết hợp nội dung bài dạy với phương pháp,<br /> phương tiện dạy học.<br /> <br /> 170<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 1 tháng 5/2018, tr 169-175<br /> <br /> Như Mehisto đã trình bày, các bên liên quan, đặc<br /> biệt là những người quản lí trường học, phải đóng vai<br /> trò quan trọng trong việc triển khai CLIL bởi đây là một<br /> quy trình cần thực hiện tuần tự từ trên xuống [6]. Những<br /> người quản lí trường học thường không có sự chuẩn bị<br /> sẵn cho việc phát triển thêm đội ngũ GV, một việc có<br /> thể hỗ trợ rất nhiều cho cả các GV bộ môn và ngôn ngữ<br /> để họ có thể hợp tác giảng dạy và giải quyết những vấn<br /> đề trong bộ môn mà họ chưa được đào tạo bài bản. Nếu<br /> như điều này không được tiến hành, các GV nội dung<br /> thường thiếu kinh nghiệm ngôn ngữ sẽ dần bị nghiêng<br /> về mặt nội dung và xao nhãng đi mặt ngôn ngữ trong<br /> bài giảng và không có sự liên kết với GV ngôn ngữ [7;<br /> tr 194]. Trong trường hợp này, những người định hướng<br /> mô hình CLIL có thể đóng vai trò liên lạc giữa HS, phụ<br /> huynh và các GV [8; tr 54] để đảm bảo có được sự cân<br /> bằng về phương pháp giảng dạy và công cụ hỗ trợ cho<br /> việc học đồng thời nội dung và ngôn ngữ để tạo dựng<br /> tính tích hợp chặt chẽ hơn. Tổng quát lại, việc giảng dạy<br /> theo nhóm vẫn là một hạn chế lớn còn tồn tại ở mô hình<br /> CLIL cần được giải quyết.<br /> Một nguyên nhân khác gây ra sự tách biệt giữa các<br /> GV đó là vấn đề liên quan đến hệ thống thi cử. Về lí<br /> thuyết, mô hình CLIL tập trung đồng thời vào hai mặt<br /> kiến thức và ngôn ngữ, trong khi đó các bài thi quốc gia<br /> (trừ các bài thi ngoại ngữ) chỉ đơn thuần tập trung vào<br /> nội dung môn học, điều này tạo nên sự rời rạc trong hệ<br /> thống chung. Nói cách khác, trong khi quy trình học<br /> chung bao gồm nhiều mục tiêu khác nhau, hệ thống bài<br /> thi lại được định theo một hướng hoàn toàn khác. Điều<br /> này chỉ ra một sự cần thiết phải xem xét sâu vào môi<br /> trường lớp học để biết được rằng các GV đang làm gì, từ<br /> việc giới thiệu nội dung môn học cho tới khi việc đánh<br /> giá được tiến hành, những công cụ nào được sử dụng<br /> trong quá trình đó, để từ đó nhận biết những quy tắc và<br /> quyết định nào được hình thành trong lớp học.<br /> Các nghiên cứu đều đưa ra quan điểm rằng, sự thiếu<br /> tính chặt chẽ này sẽ ảnh hưởng đến cách đánh giá CLIL<br /> trên toàn diện. Giáo dục theo CLIL có thể bị coi như một<br /> cách sàng lọc trường chuyên, bởi đôi khi chỉ những HS<br /> xuất sắc nhất từ các lớp học phổ thông được chọn tham<br /> gia vào các lớp học CLIL. Điều này đôi khi sẽ làm lệch<br /> đi các kết quả nghiên cứu thu được, bởi những HS này<br /> thường đã đạt được trình độ chuyên môn và ngôn ngữ tốt<br /> trước khi bắt đầu học theo mô hình CLIL. Thực tế này<br /> cũng cho thấy nhu cầu đối với các lớp học không nên có<br /> sự phân hóa HS dựa trên trình độ ngôn ngữ hay học vấn<br /> trước đó của họ.<br /> <br /> Thử thách lớn cho bất kì người tiên phong cho mô<br /> hình CLIL nào đó là tạo nên “tính phổ biến toàn trường”.<br /> Khi CLIL được triển khai, các GV bộ môn sẽ lo lắng về<br /> khả năng chuyên môn của mình, còn các phụ huynh sẽ<br /> nghi ngờ tính hữu dụng của việc giảng dạy bằng ngoại<br /> ngữ. Ngay từ ban đầu, những người quản lí trường học<br /> cần thống nhất về mặt tư tưởng cho tất cả mọi người, đảm<br /> bảo rằng tất cả đều nhận thức được mục tiêu mà mô hình<br /> này đề ra và những cơ hội mà nó có thể mang lại. Nhiều<br /> nghiên cứu gợi ý rằng lượng kiến thức giảng dạy cho HS<br /> theo mô hình CLIL không hề kém đi so với các HS học<br /> đơn ngữ thông thường. Vì vậy, các trường học cần được<br /> khuyến khích công bố những kết quả điều tra của họ đến<br /> với HS và phụ huynh, giải đáp những băn khoăn của họ<br /> và có thể công bố dưới dạng các tài liệu nghiên cứu làm<br /> nguồn phục vụ sau này.<br /> Các nhà quản lí và phát triển mô hình cũng cần phải<br /> làm việc để đưa ra một chương trình học tập phù hợp.<br /> Các GV giảng dạy mô hình CLIL cần lượng thời gian lớn<br /> để chuẩn bị và vì vậy một chương trình học đáp ứng được<br /> nhu cầu thời gian của họ là rất quan trọng.<br /> 2.2.2. Yếu tố giáo viên<br /> Hoàn thiện mô hình CLIL để tạo thành một môi<br /> trường tiếp thu ngoại ngữ gặp phải rất nhiều thách thức.<br /> Để sử dụng hiệu quả CLIL, đội ngũ GV phải là những<br /> người đạt chất lượng và có khả năng giải quyết những<br /> vấn đề liên quan đến cả mặt ngôn ngữ cũng như nội dung<br /> kiến thức. Chính vì lí do đó, một trong những thách thức<br /> lớn nhất chính là khả năng của người GV có thể áp dụng<br /> các phương pháp giảng dạy dành cho mô hình này được<br /> hay không. Những GV khi mới vào trường trước hết<br /> buộc phải thích ứng bản thân với hệ thống trường lớp<br /> mới và những quy định của trường, và điều này thường<br /> đòi hỏi một đến hai học kì tùy theo khả năng của mỗi<br /> người. Vì vậy, rất khó có cách để kiểm tra khả năng và<br /> kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy trước đó mà họ có.<br /> Trên thực tế, việc đánh giá quá trình thực hành của họ<br /> cũng rất mất thời gian và không có những chỉ dẫn cụ thể.<br /> Khi các học viện chọn GV để triển khai CLIL, họ thường<br /> chọn những người có chuyên môn tiếng Anh xuất sắc và<br /> những người có thể bắt kịp được những cách dạy mới.<br /> Thông thường, các trường học sẽ không bỏ qua việc xem<br /> xét trình độ GV chỉ để bù đắp đủ nhân sự cho mình.<br /> Lorenzo (2008) tranh biện rằng lí do các GV chưa có<br /> một hiểu biết sâu rộng về những lí thuyết cũng như cách<br /> vận hành của mô hình CLIL là bởi việc đào tạo cho GV<br /> còn chưa đủ và gặp nhiều hạn chế [9]. Do đó, GV CLIL<br /> nên được trang bị kiến thức về đầu vào, về quy trình lọc<br /> <br /> 171<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 1 tháng 5/2018, tr 169-175<br /> <br /> ý, định hình, các yếu tố đầu ra và cách sử dụng các<br /> phương pháp khác nhau. Việc thiếu sự đào tạo phù hợp<br /> cũng sẽ khiến các GV rơi vào tình trạng không thoải mái<br /> [10]. GV thậm chí còn cảm thấy “mệt mỏi, căng thẳng<br /> và sợ hãi” khi họ cố gắng sử dụng cách giảng dạy lấy<br /> ngoại ngữ làm trung gian. Những cảm giác này sẽ làm họ<br /> càng trở nên bối rối và nhanh chóng từ bỏ. Có lẽ đây là<br /> một trong những lí do chủ yếu tại sao các GV nước ngoài<br /> khi đến giảng dạy tại một nước khác thường xin nghỉ<br /> trước khi họ hoàn thành khóa dạy của mình.<br /> GV đôi khi có thể gặp vấn đề về ngôn ngữ. Họ<br /> thường cho thấy sự thiếu tự tin với trình độ ngôn ngữ<br /> của mình, trong khi họ buộc phải trình bày và giải thích<br /> bài giảng một cách rõ ràng và chính xác. Bên cạnh đó,<br /> họ luôn phải kiểm tra cách phát âm cũng như học cách<br /> sử dụng ngôn ngữ trong lớp học hợp lí để đưa ra đánh<br /> giá, hướng dẫn hay giới thiệu. Các GV có thể khắc phục<br /> điều này bằng việc sử dụng các chương trình từ điển<br /> online có tích hợp file âm thanh để kiểm tra mặt phát<br /> âm của mình, cùng với sách ngữ pháp để có thể liên tục<br /> luyện tập ngôn ngữ. Bên cạnh đó, họ cũng có thể trao<br /> đổi chủ đề bài giảng với các GV ngôn ngữ để học hỏi<br /> thêm kinh nghiệm.<br /> Có thể thấy rằng, lượng GV đạt tiêu chuẩn để sử<br /> dụng mô hình CLIL vào giảng dạy là không nhiều. Hơn<br /> nữa, trình độ của GV và cách họ tiến hành giảng dạy<br /> cũng trở nên quan trọng trong các lớp học CLIL. Điều<br /> này cho chúng ta thấy rằng nhiệm vụ lớn đầu tiên trong<br /> việc triển khai CLIL phải bắt nguồn là đào tạo và phát<br /> triển đội ngũ GV, hơn nữa cách tốt nhất là bắt đầu từ<br /> đội ngũ GV mới. Hiển nhiên rằng, các trường học cũng<br /> nên có kế hoạch rõ ràng khi họ kí hợp đồng giảng dạy<br /> với GV. Kế hoạch này phải bao gồm quá trình đào tạo<br /> và những thành tích mong muốn đạt được trong thời<br /> gian họ giảng dạy. Điều này cho tạo điều kiện cho các<br /> GV mới có thể kéo dài thời gian làm việc khi họ thấy<br /> có nhiều cơ hội được đào tạo hơn.<br /> Như đã đề cập ở trên, việc thiếu sự đào tạo sẽ dẫn đến<br /> tình trạng thiếu thoải mái với các GV [10]. Việc đào tạo<br /> GV cũng sẽ giúp các trường có thể quản lí nhân sự tốt<br /> hơn, giữ lại được các GV hiện tại thay vì phải liên tục tìm<br /> kiếm GV mới. Việc đào tạo phải nhằm mục tiêu phát<br /> triển những kĩ năng cần có cho GV để họ triển khai mô<br /> hình CLIL một cách đúng hướng. Mỗi GV sẽ được phân<br /> bổ cùng một người quản lí bộ môn trong suốt quá trình<br /> làm việc tại trường. Điều này giúp cho GV nhận được và<br /> tiếp thu những kiến thức chuyên môn nhiều hơn. Các GV<br /> phụ trách cả bộ môn lẫn ngoại ngữ có thể hợp tác và tham<br /> <br /> gia giải quyết các vấn đề họ gặp phải cùng với lớp học<br /> của mình [6], [3].<br /> Pena Díaz và Porto Requejo (2008) cũng đưa ra thêm<br /> nhiều mối bận tâm khác của các GV trong bài báo cáo<br /> của mình, dựa trên dự án nghiên cứu quá trình triển khai<br /> các chương trình song ngữ-CLIL tại 150 trường tiểu học<br /> ở Madrid [11]. Để có thể hiểu được những yếu tố mà các<br /> GV chạm phải khi luyện tập trong hệ thống này, một<br /> nhóm các GV ngẫu nhiên được phỏng vấn với những câu<br /> hỏi đã định sẵn. Kết quả chỉ ra rằng các GV đều cho rằng<br /> việc giảng dạy của họ có thể được cải thiện nếu họ có thể<br /> phát triển hơn tiếng Anh của mình, một mối băn khoăn<br /> cũng đã được chỉ ra ở các nghiên cứu của Pavón Vázquez<br /> và Rubio [8] và của cả Butler [5], ủng hộ cho nhận định<br /> rằng việc thiếu đi kiến thức chuyên môn của GV ảnh<br /> hưởng đến chất lượng giảng dạy CLIL. Nói cách khác,<br /> các GV đều quy chất lượng của CLIL phụ thuộc vào trình<br /> độ Anh ngữ và chuyên môn hiện tại của mình. Tuy nhiên,<br /> thực tế bất ngờ rằng, những người tham gia trong bài<br /> khảo sát của Pena Díaz và Porto Requejo [11] đều thiếu<br /> sự đào tạo bài bản những phương pháp sư phạm trong<br /> giảng dạy song ngữ, và hơn hết họ hoàn toàn không nghĩ<br /> rằng mình cần đào tạo thêm về lí thuyết sư phạm. Họ<br /> luôn cho thấy sự phụ thuộc vào các GV bộ môn và khi<br /> đề cập đến những kiến thức thực tế không thuộc về<br /> chuyên môn của họ. Nói đơn giản hơn, một vấn đề<br /> thường xuyên xảy ra chính là làm cách nào để tổ chức<br /> những chương trình đào tạo GV cả trước và trong khi<br /> giảng dạy mà ở đó đề cập cho các GV hiểu kĩ về cả hệ<br /> thống quy trình của CLIL, lấy đó làm cơ sở để tuyển<br /> dụng GV sau này.<br /> 2.2.3. Yếu tố học sinh<br /> HS cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên thành công<br /> của CLIL. Khi điều kiện học tập được cung cấp đầy đủ,<br /> các HS cũng sẽ phát triển tối đa việc học tập của mình. Với<br /> CLIL, không có HS nào là phù hợp hơn HS khác, bởi đây<br /> là mô hình dành cho tất cả các đối tượng HS và sẽ không<br /> cần thiết phải có sự sàng lọc nào với HS. Tuy nhiên, hiện<br /> nay các lớp học CLIL lại đa phần tuyển chọn từ những HS<br /> giỏi, và điều này cần được các quốc gia xem xét lại.<br /> HS thông thường có xu hướng so sánh với các hệ<br /> thống khác được sử dụng trong trường và đặt câu hỏi tại<br /> sao họ phải học bằng tiếng Anh thay vì tiếng phổ thông<br /> như các lớp khác. Chính vì lẽ đó, cần phải tổ chức các<br /> cuộc hội thảo về mô hình CLIL để cung cấp thông tin<br /> cho HS cũng như giúp họ nhận thức được lợi ích của mô<br /> hình này, giải quyết tất cả những băn khoăn của họ. Các<br /> HS cũng sẽ được thông báo rằng họ sẽ được xếp cùng<br /> <br /> 172<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 1 tháng 5/2018, tr 169-175<br /> <br /> nhóm với những người cùng chuyên môn. Các lớp học<br /> kết hợp sẽ không còn được sử dụng. Các HS của cùng<br /> một chuyên ngành sẽ cùng nhau tham gia vào mô hình<br /> CLIL và vẫn đảm bảo trọng tâm vào nội dung bên cạnh<br /> những đặc trưng về ngôn ngữ. Không có lí do gì để sắp<br /> xếp một sinh viên kĩ thuật vào lớp học IT ngay cả khi đó<br /> là một lớp học ngoại ngữ, bởi sinh viên kĩ thuật sẽ hứng<br /> thú hơn với các thuật ngữ liên quan đến chuyên ngành<br /> của họ trong khi sinh viên IT sẽ thích thú hơn khi được<br /> học về các ngôn ngữ liên quan đến công nghệ và lập<br /> trình. Giới thiệu CLIL đến với các HS là cách để tạo cho<br /> họ nhận thức đúng đắn cùng với việc học bộ môn và cách<br /> chúng mở ra điều kiện mới cho việc học của họ. Điều này<br /> có thể được định hướng ngay từ khoảng thời gian đầu<br /> học kì thông qua các GV quản lí. Thông báo cho sinh<br /> viên về cách triển khai mô hình CLIL sẽ thu hút hơn sự<br /> chú ý của họ và tránh những hiểu nhầm có thể, nhờ đó<br /> tạo nên chất lượng cho mô hình CLIL.<br /> Vấn đề ngôn ngữ cũng là một vấn đề thường mắc<br /> phải với HS. Họ thường phải yêu cầu sự trợ giúp về ngôn<br /> ngữ trong hai năm đầu học theo mô hình CLIL. Các GV<br /> có thể giúp đỡ họ bằng việc sử dụng hình ảnh và đơn giản<br /> hóa ngôn từ khi giải thích một khái niệm mới, xây dựng<br /> cho họ tính tự học và cung cấp đủ nguồn tài liệu, công cụ<br /> học tập (phòng thí nghiệm, các workshop, bảng từ<br /> vựng,…) đồng thời tạo ra sự tương tác giữa HS vào trong<br /> các phần của bài giảng.<br /> Cummins (2000) nhận định rằng cần phải ít nhất 7<br /> năm đào tạo để những HS sử dụng ngôn ngữ thiểu số có<br /> thể đạt được trình độ ngôn ngữ tương đương với những<br /> HS tiếng phổ thông. Cũng cần bổ sung rằng, Cummins<br /> nói tới những HS sống và học tập trong một cộng đồng<br /> sử dụng ngôn ngữ bản địa của họ và coi tiếng Anh như<br /> một “ngôn ngữ thứ hai”. Trong khi đó, các HS CLIL<br /> thường thuộc về các nhóm người sử dụng đơn ngữ và<br /> học tiếng Anh như một ngoại ngữ. Môi trường sống của<br /> họ không phải là một cộng đồng nói tiếng Anh và chỉ một<br /> số ít trong họ có cơ hội may mắn được học tập trong môi<br /> trường sử dụng tiếng Anh để giảng dạy.<br /> Vậy, số giờ học lí tưởng cho một tuần là bao nhiêu?<br /> Ở Bulgary, sau 18 tiếng học tiếng Anh mỗi tuần, các học<br /> sinh tiến tới năm thứ hai sẽ tiếp tục học thêm 1,2 tiếng<br /> với các môn học khác (Địa lí, Lịch sử, Khoa học) bằng<br /> tiếng Anh cũng như tiếp tục tham gia các lớp học tiếng<br /> Anh mới, khoảng 6 lớp một tuần. Dự án HTL ở Áo yêu<br /> cầu tốt thiểu 72 tiếng - khoảng 2 lớp học một tuần trong<br /> suốt năm học. Các HS cũng được phép tự tăng cường<br /> thời gian học của mình bằng cách tham gia các lớp học<br /> <br /> kết hợp, lên tới 6 hoặc nhiều hơn số lớp học mỗi tuần, và<br /> rõ ràng số giờ không bao giờ nhỏ hơn con số 72.<br /> Chúng ta đều biết rằng, thu nhận càng nhiều kiến thức<br /> là càng tốt. Tuy vậy, số giờ HS tham gia bài giảng không<br /> quá quan trọng, mà điều HS cần có là sự tiếp nối về cả<br /> nội dung học và ngôn ngữ, đòi hỏi chương trình học cần<br /> có kế hoạch sắp xếp thật cẩn thận để hài hòa với môi<br /> trường học và kiến thức ngôn ngữ có thể được áp dụng<br /> vào thực tế. Chương trình học cũng cần có sự phối hợp<br /> để dựa vào đó, các GV ở các bộ môn khác nhau có thể<br /> bổ sung hỗ trợ cho nhau, từ đó giúp đỡ HS phát triển tốt<br /> nhất trong mô hình CLIL.<br /> 2.2.4. Yếu tố về nguồn tài liệu hỗ trợ<br /> Các HS khác nhau sẽ theo học các chuyên ngành<br /> khác nhau mà họ lựa chọn. Hiện tại, vẫn có những lớp<br /> học kết hợp nơi mà sinh viên theo các chuyên ngành khác<br /> nhau học chung cùng với nhau cho tới khi họ hoàn thành<br /> khóa học và bắt đầu nghiên cứu chuyên ngành của mình.<br /> Một điều rõ ràng rằng mỗi chuyên ngành sẽ yêu cầu<br /> những công cụ đặc trưng của riêng, chúng bao gồm sách<br /> giáo khoa, hỗ trợ giảng dạy và phương pháp đánh giá<br /> được thiết kế riêng. Hơn thế nữa, các HS cần phải được<br /> xếp vào các lớp học thiết kế cho chuyên ngành của mình,<br /> tức sinh viên kĩ thuật sẽ học cùng nhau và sinh viên IT sẽ<br /> học cùng nhau. Dalton-Puffer (2007) cho rằng các lớp<br /> học CLIL không được thiết kế cho mục tiêu ngoại ngữ<br /> nhưng chắc chắn sẽ có những nhu cầu về ngoại ngữ nhất<br /> định trong các lớp học. Vấn đề ở các công cụ CLIL là<br /> chúng cần phải bao gồm cả khía cạnh nội dung và ngôn<br /> ngữ [12]. Điều này đồng nghĩa rằng chương trình học<br /> hiện tại cần phải được xem xét và các cuốn sách giáo<br /> khoa mới cần phải được thiết kế để hợp với nhu cầu và<br /> định hướng của từng chuyên ngành. Theo như<br /> Lasagabaster và Sierra, “các công cụ sử dụng trong<br /> những chương trình hoàn toàn đều hướng tới người bản<br /> ngữ, trong khi các GV CLIL thường sử dụng các công cụ<br /> ít yếu tố văn bản hơn” [2].Điều này cho thấy một sự khác<br /> biệt khác giữa CLIL và các cách tiếp cận giáo dục song<br /> ngữ khác.<br /> Hầu hết các GV hiện tại đều biết rất ít về CLIL và<br /> mục đích của CLIL là gì. Do đó, nội dung của chương<br /> trình học mới và việc đặt trọng tâm vào mặt ngôn ngữ<br /> hay nội dung là một vấn đề cần phải được thảo luận và<br /> giải quyết. Ví dụ như khi nội dung học quá khó, HS sẽ<br /> nghiêng về sử dụng đơn ngữ. Do đó, cơ hội để sử dụng<br /> song ngữ sẽ bị hạn chế (Bruton, 2011; Seikkula-Leino,<br /> 2007). Cùng với đó, Lorenzo khẳng định các GV tại các<br /> lớp CLIL thường dành thời gian nhiều về mặt nội dung<br /> <br /> 173<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=51

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2