Nước lợ
Nước lợ là loại nước có độ mặn cao hơn độ mặn của nước ngọt, nhưng
không cao bằng nước mặn. Nó có thể là kết quả của sự pha trộn
giữa nước biển với nước ngọt, chẳng hạn như tại các khu vực cửa
sông hoặc nó có thể xuất hiện trong các tầng ngậm nước hóa thạch lợ.
Một số hoạt động nhất định ca con người cũng có thể tạo ra nước lợ, cụ
thể là trong một số dự án kỹ thuật xây dựng dân sự như các dạng đê
điều ven biển hay việc làm ngập lụt các vùng đất lầy lội ven biển để tạo ra
các ao hồ nước lợ để nuôi tôm nước l. Nước lợ cũng có thể là chất thải
chủ yếu của công nghnăng lượng gradient độ mặn. Do nước lợ là không
thích hợp với sự phát triển của phn lớn các loài thực vật trên đất liền, cho
nên nếu không có sự quản lý và kiểm soát thích hợp thì nó có thể gây ra
các tổn hại cho môi trường (xem bài về trang trại nuôi tôm).
Khái niệm nước lợ cũng thay đổi tùy theo các quan điểm nhìn nhận. Về
mặt kỹ thuật, người Anh-Mỹ cho rằng nước lợ chứa từ 0,5[1][2] hoặc 1[3] tới
17[1] hoặc 30[2] gam muối hòa tan trong mỗi lít nước—thông thường được
biểu diễnới dạng 0,5/1 tới 17/30 phần nghìn (ppt hay ‰). Vì thế, nước
lợ bao phủ một khoảng chế độ mặn và nó không thể coi là một điều kiện
có thể định nghĩa chính xác. Tuy nhiên, Bách khoa Toàn thư Việt Nam[4] coi
nước lợ là nước có độ mặn từ 1 tới 10 g/L hay 1 tới 10 ppt. Một đặc trưng
của nhiều bề mặt nước lợ là độ mặn của chúng có thể dao động mạnh
theo thời gian và/hoặc không gian.
Độ mặn của nước dựa trên các muối hòa tan theo ppt (Việt Nam)
Nước ngọt Nước lợ Nước mặn Nước muối
< 1[5] 1 - 10 >10 hoặc >1[6] > 50[7]
Độ mặn của nước dựa trên các muối hòa tan theo ppt (Anh-Mỹ)
Nước ngọt Nước lợ Nước mặn Nước mui
< 0,5/1 0,5/1 - 17/30 1 - 35[8] > 40[3]/50[2]
Môi trường sống nước lợ
Cửa sông
Cá chim trắng nước lợ (Monodactylus argenteus), một loài cá nước lợ.
Nước lợ có thể coi là hn hợp của nước biển và nước ngọt, và các khu
vực cửa sông là các vùng nước trong đó nước biển và nước ngọt từ sông
đổ ra pha trộn với nhau. Các môi trường sống nước lợ rộng lớn nhất trên
thế giới vì thế chính là các khu vực cửa sông, nơi các conng tiếp giáp
với biển.
Chẳng hn đoạn sông Thames chảy qua London là một vùng cửa sông
kinh điển. Thị trấn Teddington nằm cách vài dặm về phía tây London đánh
dấu giới hạn của vùng có tác động của thủy triều trên sông Thames, mặc
dù con sông này vẫnn là sông nước ngọt cho tới tận vùngBattersea,
gần London hơn (cũng phía tây) do độ mặn trung bình vẫn còn rất thấp và
quần cá vẫn bao gồm chủ yếu là các loài cá nước ngọt như
dầy (Rutilus rutilus), cá đác (pn họ Leuciscinae của họ Cyprinidae),
chép, cá peca (Perca spp.) và cá c (Esox spp.). Cửa sông Thames chỉ
trở thành vùng nước lợ thật sự trong đoạn nằm giữa Battersea
Gravesendsự đa dạng của các loài cá nước ngọt trở nên ít đi, chủ
yếu chỉ còn lại cá dầy và cá đác, các loài cá biển chịu độ mặn mềm như
bơn mắt phải, sói biển châu Âu (Dicentrarchus labrax),đối
ốtme trở nên phổ biến hơn. Xa hơn về phía đông, độ mặn tăng dần lên và
các loài cá nước ngọt bị thay thế hoàn toàn bằng các loài cá biển chu độ
mặn mềm, cho tới khi con sông này chảy tới Gravesend, tại điểm này các
điều kiện trở thành mang tính biển nhiều hơn và quần cá của nó là tương
tự như quần cá của biển Bắc cận kề và bao gồm cả các loài cá biển chu
độ mặn mềm lẫn chịu độ mặn cứng. Một kiểu thay thế tương tự cũng có
thể quan sát thấy với các loài thực vật thủy sinh hay các loài động vật
không xương sống sinh sống trong con sông này[9][10].
Kiểu kế tiếp sinh thái này từ các dạng của hệ sinh thái nước ngọt sang
nước mặn là thông thường và điển hình cho các cửa sông.Các cửa ng
tạo thành các điểm quan trọng trong sự di cư của các dạng cá ngược
dòng vào song hay xuôi dòng ra biển để đẻ trứng, chng hạn như cá
hồicá chình, tạo cho chúng một khoảng thời gian để tụ tập thành bầy
cũng như để thích nghi dần với sự thay đổi độ mặn. Các loài cá hồi là
dạng cá nợc dòng vào song để đẻ, nghĩa là chúng sinh sống ngoài biển
nhưng lại bơi vào sông để đẻ trứng trong khi các loài cá chình là dạng
xuôi dòng ra bin để đẻ, do chúng sinh sống trong các sông suối nước
ngọt nhưng phải ra biển để đẻ trứng. Bên cạnh các loài di cư xuôi hay
ngược thông qua vùng cửa sông, tại đây còn nhiều loài cá khác sử dụng
môi trường cửa sông này như là "vườn ương" để đẻ trứng hay để cá bột
có thể nuôi dưỡng và phát triển trước khi chúng đ cứng cáp để bơi vào
các vùng nước khác. Cá trích (Clupeidae) và cá bơn sao châu
Âu (Pleuronectes platessa) là hai nhóm cá có tầm quan trọng thương mại
sử dụng cửa sông Thames vào mục đích này.
Các cửa sông cũng được sử dụng phổ biến như là nơi đánh bắt cá hay
nơi nuôi trồng thủy hải sản. Chẳng hạn các trại nuôi cá hồi Đại Tây
Dương (Salmo salar) thông thường hay nằm tại các cửa sông, mặc dù
điều này gây ra các tranh cãi, do khi làm như vậy, các trang trại nuôi cá
đặt cá hoang dã di cư vào tình trạng dễ bị lây nhiễm một lượng lớn ký sinh
trùng, chng hạn như rận biển, thoát ra từ các khu quây kín để nuôi cá[11].
Rừng đước
Một môi trường sống nước lợ quan trọng khác là các đầm lầy sú vẹt.
Nhiều, mặc dù không phải tất cả, đầm lầy sú vẹt bám quanh các cửa sông
và các p, trong đó độ mặn thay đổi theo mỗi lần thủy triều. Trong số các
cư dân chun biệt hóa của các rừng đước là cá bống bùn, các loài cá tìm
kiếm các loại thức ăn trong vùng đất lầy lội hay cá măng rổ (họToxotidae),
các loài cá tương tự như cá vược có cách thức "bắn hạ" côn trùng và các
loi động vật nhỏ khác sống trên cây bằng cách phun các giọt ớc từ
phần miệng chuyên biệt hóa của chúng vào các loại con mồi để chúng rơi
xuống nước. Giống như các cửa sông, các đầm lầy sú vẹt là môi trường
sinh sản cực kỳ quan trọng cho nhiều loài cá, chẳng hạn như
hồng (Lutjanidae), lìm kìm (Hemiramphidae) và cá cháo lớn (Megalopidae)
đẻ trứng hay phát triển tại đây. Bên cạnh cá, hàng loạt các động vật khác
cũng sử dụng các rừng đước, chẳng hạn như cá sấu Mỹ (Crocodylus
acutus), khỉ mũi dài (Nasalis larvatus), rùa lưng kim cương (Malaclemys
terrapin) hay ếch ăn cua (Fejervarya cancrivora/Rana cancrivora. Mặc dù
thường là các ổ gây bnh dịch do muỗi hay các loại côn trùng khác và
điều đó làm cho các khu rừng đước này trở thành không dễ chu để viếng
thăm, nhưng chúng lại là các vùng đệm rất quan trọng giữa đất liền và
biển cả cũng như đóng vai trò quan trọng như là rừng phòng hộ tự nhiên
để giảm bớt tác hại của các trận bão hay sóng thần[12].
Biển và hồ nước lợ
Một số biểnhồ chứa nước lợ. Biển Baltic là mọt vùng biển nước lợ nằm
cận kề biển Bắc. Ngun thủy nó là sự hợp lưu của hai hệ thống sông
chính trước thế Pleistocen và kể từ đó nó đã bị ngập lụt bởi nước từ biển
Bắc dâng lên nhưng vẫn nhận được quá nhiều nước ngọt từ các vùng đất
cận kề cho nên nước của nó vẫn là nước lợ. Do nước mặn từ biển vào là
nặng hơn so với nước ngọt nên nước trong biển Baltic bị phân tầng, với
nước mặn ở phía đáy còn nước ngọt ở bề mặt. Sự pha trộn hạn chế xảy
ra do tại đây không có thủy triều cùng các cơn giông bão, với kết quả là
quần cá tại vùng nước bề mặt mang tính chất cá nước ngọt trong thành
phần trong khi ở phía dưới thì nó lại mang tính chất cá biển nhiều hơn.
tuyết (Gadus spp.) là ví dụ về loài cá chỉ tìm thấy tại các vùng nước sâu
của biển Baltic, trong khi cá chó lại gắn với các vùng nước bề mặt ít mặn
hơn[13].
Biển Caspi có thể gọi là hồ lớn nhất thế giới và chứa nước lợ với độ mặn
chỉ bằng khoảng một phn ba độ mặn của nước biển thông thường. Biển
Caspi đáng c ý vì quần động vật khác thường của nó, bao gồm một
trong số ít loài hải cẩu không sống ngoài biển là hải cẩu Caspi (Pusa
caspica) và cá tầm lớn, nguồn cung cấp chính của món trứng cá muối Nga
nổi tiếng.
Trong biển Đen thì nước bề mặt là nước lợ với độ mặn trung bình khoảng
18 phần nghìn, so với độ mặn từ 30 tới 40 của đại dương. Vùng nước sâu,
thiếu ôxy ca biển Đen có nguồn gốc từ nước mặn và ấm của Địa Trung
Hải.
Các vùng nước lợ đáng chú ý
Biển nước lợ
Biển Baltic (vùng nước lợ lớn nhất thế giới)
Biển Caspi (hồ lớn nhất thế giới)
Biển Đen
Hồ nước lợ
Bản đồ hồ Chilka, hồ lớn nhất tại Ấn Độ, được phân loại như là một vùng nước lợ
Hồ Charles cận kề thành ph Lake Charles, Louisiana, Hoa Kỳ.
Hồ Chilka nằm tại bang Orissa, Ấn Độ
Hồ de Oviedo tại Cộng hòa Dominicana
Hồ Maracaibo tại bang Zulia, Venezuela
Hồ Monroe tại Florida, Hoa Kỳ.
Pangong Tso tại Ladakh, bang Jammu và Kashmir, Ấn Độ
Hồ Van tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Hồ Long, Scotland
Hồ Stenness, Scotland
Hồ Bee, Scotland
Hồ Obisary, Scotland
Hồ an Duin, Scotland
Hồ Scavaig, Scotland
Phá, đầm lầy và châu thổ duyên hải
Hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai
Các hồ Burgas gần vùng duyên hải biển Đen của Bulgaria
Phá Fleet, Dorset, Anh
Hồ Kaliveli gần Pondichery, Ấn Độ