intTypePromotion=1

Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương

Chia sẻ: Dau Con | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:85

0
196
lượt xem
81
download

Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự cần thiết của đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển, các Công ty chứng khoán trên thị trường không ngừng tăng cường chất lượng dịch vụ, chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ, nhân viên. Xu hướng hiện nay của nền kinh tế Việt Nam là làm quen với nguồn với mới, các doanh nghiệp Nhà nước đang nhanh chóng chuyển đổi thành hình thức công ty cổ phần, đây chính là bước đầu để đưa các doanh nghiệp lên sàn giao dịch, đáp ứng được nhu cầu của thị trường....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương

  1. Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương
  2. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển, các Công ty chứng khoán trên thị trường không ngừng tăng cường chất lượng dịch vụ, chất lượng chuyên môn c ủa đội ngũ cán bộ, nhân viên. Xu hướng hiện nay của nề n kinh tế Việt Nam là làm quen với nguồn với mới, các doanh nghiệp Nhà nước đang nhanh chóng chuyển đổi thành hình thức công ty cổ phần, đây chính là bước đầu để đưa các doanh nghiệp lên sàn giao dịch, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Các công ty chứng k hoán muốn phát triển phải cải tạo được mạng lưới khách hàng rộng, chất lượng dịch vụ ngày càng cao, cán bộ nhân viên có chuyên môn sâu, xây dựng hình ả nh đẹp trong lòng nhà đầu tư và các doanh nghiệp. V ì vậy, các công ty đều muốn tận dụng cơ hội của mình, đẩy mạnh hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp – đây là hoạt động tiền đề cho các hoạt động khác phát triển, xây dựng nền tảng với khách hàng. Từ thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam, đ ứng trước nhu cầu đang khan hiếm hàng hóa cho thị trường, các dịch vụ hỗ trợ việc đưa các doanh nghiệp thành công ty đại chúng và các dịch vụ liên quan đến tài chính doanh nghiệp đang trở thành nhu cầu cấp thiết tác đ ộng tới các công ty chứng khoán nói chung và công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương nói riêng phát triển hoạt động này. Chính vì lẽ đó, em đã chọn đề tài: “Phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp cuối khoá của mình. 1 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  3. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP 2. Mục tiêu nghiên cứu - Chuyên đề sẽ hệ thống hóa các vấn đề và đi sâu vào tìm hiểu lý thuyết về hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp - Đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động này tại công ty chứng khoán Công thương - Bước đầu vận dụng các kiến thức đã học để đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chuyên đề chỉ tập trung vào phân tích hoạt động tư vấn Tài chính doanh nghiệp của công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương, trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Chuyên đề sử dụng các phương pháp phân tích như: tổng hợp, logic, diễn giải. 5. Kết cấu của chuyên đ ề Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1: “Tổng quan về hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp của Công ty chứng khoán” Chương 2: “Thực trạng hoạt dộng tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công th ương” Chương 3: “Giải pháp phát triển hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp tại công ty chứng khoán Ngân hàng Công th ương” 2 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  4. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Trong thực tế luôn xảy ra tình huống: những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn để thực hiện, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không biết đầu tư vào đâu, hoặc không có cơ hội đầu tư. Từ đó thị trường tài chính ra đời để chuyển vốn từ nơi “thừa” sang nới “thiếu”, chuyển đổi tiết kiệm thành đầu tư. Người “thiếu” vốn sẽ phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu... để huy động vốn, còn người “thừa” vốn sẽ đầu tư vốn của mình bằng cách nắm giữ những công cụ tài chính đó. Lúc này hình thành khái niệm Thị trường chứng khoán. Th ị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành thị trường tài chính, là nơi diễn ra các giao dịch mua baá, trao đổi các chứng khoán – các hàng hóa và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo nh ững quy tắc ấn định trước (tr15, giáo trình Thị trường hứng k hoán, Đại học Kinh tế Quốc Dân). Trong đó chứng khoán được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật (Điều 3, Nghị định số 144/2003/NĐ-CP). Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều sự biến động, đến nay nó đã trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu đ ược trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Để thúc đẩy thị trường phát triển, hoạt động hiệu quả và có trật tự nhất thiết phải có sự ra đời của các Công ty chứng khoán. 3 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  5. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP Nền kinh tế ở Việt Nam đang mở cửa, những nguồn vốn mới được hình thành, thị trường chứng khoán phát triển như một nhu cầu tất yế u. Và sự ra đời của các công ty chứng khoán cũng vậy. 1.1.2. Khái niệm và chức năng của công ty chứng khoán Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn, không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian, trong đó có các công ty chứng khoán. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông tấp nập trên thị trường vốn, qua đó, một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng. V ì vậy, có thể hiểu: C ông ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian th ực hiện nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán (tr120, Giáo trình Thị trường Chứng Khoán, Đại học Kinh tế Quốc Dân) Thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn non trẻ, bộc lộ nhiều yếu kém, vì vậy, các công ty chứng khoán ra đời sẽ là một động lực quan trọng thúc đẩy sự p hát triển của nền kinh tế, cũng như của thị trường chứng khoán. Từ khi ra đời, các công ty chứng khoán đã có những chức năng cơ bản sau: - Thông qua các nghiệp vụ của mình (như hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán), các công ty chứng khoá n đã tạo ra một phương thức huy động vốn linh hoạt, là cầu nối giữa những người có tiền nhàn rỗi với những chủ thể cần huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh, các công ty chứng khoán đã cung cấp một cơ chế giá cả cho giá trị của các khoản đầu tư. - Trên thị trường chứng khoán, nhờ có công ty chứng khoán, nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển tiền thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư c ủa mình. 4 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  6. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP - Thông qua hoạt động tự doanh chứng khoán, công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp vào thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán. 1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường chứng khoán. Đối với mỗi chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, vai trò c ủa các Công ty chứng khoán cũng được nhìn nhận d ưới những góc độ khác nhau.  Đối với các tổ chức phát hành Thị trường chứng khoán là một sân chơi mới cho tất cả các doanh nghiệp, một cơ chế huy động vốn mới. Các doanh nghiệp hiện nay không còn phải lệ thuộc hoàn toàn vào vốn đi vay từ các ngân hàng thương mại, họ có thể chủ động tìm được nguồn vốn mới thông qua việc p hát hành các chứng khoán trên thị trường. Công ty chứng khoán là một trung gian tài chính với vai trò huy động vốn, sẽ giúp tổ chức phát hành tìm được nhà đầu tư và phân phối chứng khoán đến tận tay những người có nhu cầu nắm giữ loại chứng khoán đó. Nhà đầu tư và nhà phát hành không phải mua bán trực tiếp c hứng khoán với nhau, điều này giúp giảm chi phí huy động cho nhà phát hành.  Đối với các nhà đầu tư Sân chơi mới này c ũng dành cho tất cả các nhà đầu tư, từ nhà đầu tư có tổ chức đến nhà đầu tư cá nhân. Họ tạm thời có một khoản tiền nhàn rỗi, nhưng sẽ rất khó khăn khi ra quyết định đầu tư. Như vậy, nhờ lợi thế của một tổ chức trung gian, chuyên môn hoá cao làm cầu nối cho các bên mua bán gặp nhau, các Công ty chứng khoán giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức trong từng giao dịch, giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường.  Đối với thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán phát triển không thể thiếu sự tham gia của các Công ty chứng khoán. Hoạt động của các Công ty chứng khoán đã giúp 5 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  7. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP công chúng và nhà đầu tư quen dần với thị trường. Công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường và làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Trên thị trường thứ cấp, Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác giá trị khoản đầu tư của mình. Toàn bộ các lệnh mua bán chứng khoán được tập hợp tại các thị trường giao dịch tập trung thông qua các Công ty chứng khoán, và trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra, chính hoạt động tự doanh của các Công ty chứng khoán cũng góp phần điều tiết giá chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, Công ty chứng khoán đã thực hiện xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Các Công ty chứng khoán thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi phát hành, vì vậy giúp người đầu tư dễ dàng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại, làm tăng tính thanh khoản cho các tài chứng khoán.  Đối với các cơ quan quản lý thị trường. Công ty chứng khoán thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán, nắm giữ các tài khoản giao dịch của khách hàng, vì vậy nó có được thông tin về các giao dịch trên thị trường, thông tin về các loại cổ phiếu, trái phiếu, thông tin về tổ chức phát hành và nhà đầu tư... Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin đó cho các cấp có thẩm quyền khi có yêu cầu, qua đó, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn thị trường... bảo vệ nhà đầu tư. 1.1.4. Các hoạt động chủ yếu của công ty chứng khoán 1.1.4.1. Các hoạt động chính của Công ty chứng khoán Tính đến thời điểm 12/04/2006 ở Việt Nam có tất cả 14 Công ty chứng khoán, kinh doanh một số hoặc tất cả các loại hình do Nhà nước quy định. Các loại hình kinh doanh chính của Công ty chứng khoán được quy định tại điều 65 Nghị định 144/2003: 6 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  8. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP  Hoạt động Môi giới chứng khoán Hoạt động Môi giới trực tiếp tạo hình ảnh cho công ty, chính vì vậy, các Công ty chứng khoán rất quan tâm đến hoạt động này. Đây là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình. Một cách hiểu khác: đó là hoạt động trung gian, đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Hoạt động này sẽ nối liền những người bán và những người mua, đem đến cho khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính. N hư vậy, trong hoạt động này Công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Nhân viên Môi giới sẽ có nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng trước khi khách hàng ra quyết định mua bán chứng khoán, không quyết định hộ khách hàng. Mọi lời tư vấn của người môi giới chỉ có tính chất tham khảo, quyền quyết định vẫn thuộc về nhà đầu tư. Nhân viên Môi giới cần phải đáp ứng được 3 kỹ năng: kỹ năng truyền đạt thông tin đến khách hàng (mọi thông tin đến với các nhà đầu tư là như nhau); kỹ năng khai thác thông tin (giúp nhà môi giới hiểu rõ tâm lý, khả năng tài chính của khách hàng...từ đó có được lời tư vấn hợp lý nhất); kỹ năng tìm kiếm khách hàng (tạo thu nhập cho công ty). Mạnh về mảng hoạt động này có Công ty chứng khoán Sài Gòn; Bảo Việt; Á Châu; Đầu tư; Ngoại thương – là những công ty dẫn đầu trong việc thu hút nhà đầu tư tham gia thị trường.  Hoạt động tự doanh chứng khoán Đây là hoạt động c hiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu c ủa công ty chứng khoán. Tự doanh là việc Công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình. Đối với hoạt động tự doanh, Công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty, nhằm thu lợi nhuận cho chính mình. Trong trường hợp hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường, khi đó công ty chứng 7 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  9. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, sẽ nắm giữ một số lượng nhất định của một số loại chứng khoán, và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Là nguồn thu chủ yếu của các Công ty chứng khoán, vì vậy nhà quản lý rất chú trọng đến hoạt động này. Hoạt động tự doanh đòi hỏi Công ty chứng khoán phải có đủ một số vốn nhất định theo quy định của pháp luật (tối thiểu là 12 tỷ đồng), nhằm đảm bảo rằng các Công ty chứng khoán dùng vốn của họ để kinh doanh và đ ội ngũ nhân viên phải có trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng phân tích thị trường, nhạy bén với thông tin, nhạy cảm trong công việc, có khả năng tự quyết cao để có thể đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý. Công ty chứng khoán vừa kinh doanh chứng khoán cho chính mình, vừa làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng, vì vậy có thể dẫn đến sự mâu thuẫn về lợi ích giữa công ty và khách hàg. Do đó, khi thực hiện hoạt động tự doanh, Công ty chứng khoán cần đáp ứng các yêu cầu sau: - Tách biệt về quản lý: giữa hai hoạt động tự doanh và môi giới, để đảm bảo sự phù hợp về lợi ích của các bên. Đặc biệt, không được lấy tài sản của khách hàng để kinh doanh cho công ty và ngược lại. - Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán với lợi thế về nghiệp vụ có thể dự đoán trước diễn biến của thị trường, để đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty. - Góp phần b ình ổn thị trường: khi thị trường có sự biến động bất thường, các Công ty chứng khoán sẽ điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán thông qua hoạt động tự doanh, bằng cách mua vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng nhằm giữ giá chứng khoán ổn định. 2 nă m gần đây, hoạt động này diễn ra khá sôi nổi, có 13 trên 14 Công ty chứng khoán được cấp giấy phép thực hiện hoạt động này. Tổng giá trị giao dịch chứng khoán từ nghiệp vụ này của Công ty chứng khoán 8 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  10. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP năm 2005 là 27.078 tỷ đồng, tăng 26,72% so với 2004. Công ty chứng khoán Bảo Việt, Ngoại thươ ng, Nông nghiệp mạnh về hoạt động này.  Hoạt động bảo lãnh phát hành Hoạt động bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức năng bảo lãnh giúp tổ c hức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Để có thể trở thành một tổ chức bão lãnh phát hành, Công ty chứng khoán với có mức vốn tối thiểu cho hoạt động này là 22 tỷ đồng Việt Nam, được cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán đồng ý và cho phép. Mặt khác, Công ty chứng khoán và tổ chức phát hành không được chi phối nhau, không nắm giữ quá 5% vốn của nhau; không cùng chi phối một tổ chức khác và không cùng b ị một tổ chức khác chi phối. Để đợt phát hành chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp được thành công, việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành rất quan trọng. Công ty chứng khoán với tư cách là tổ chức bảo lãnh phát hành được doanh nghiệp lựa chọn sẽ tư vấn cho tổ chức phát hành về loại, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư. Khi phương án phát hành được Uỷ ban chứng khoán thông qua, chứng khoán sẽ được phép phát hành, sau đó Công ty chứng khoán thực hiện phân phối chứng khoán. Công ty chứng khoán sẽ có được một khoản thu từ phí bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh phát hành chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của Công ty chứng khoán vì vậy các công ty cũng rất chú trọng phát triển hoạt động này. Hoạt động mạnh về nghiệp vụ này là Công ty chứng khoán Nông Nghiệp, Ngoại thương.  Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Đây là hoạt động nhận vốn của khách hàng để thiết lập một danh mục chứng khoán và cơ cấu lại danh mục đó theo mục tiêu tối ưu hoá lợi 9 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  11. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP nhuận cho khách hàng, theo đó vốn của khách hàng phải được bảo toàn. Khách hàng sẽ uỷ thác tiền cho Công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu cầu. Q uy trình thực hiện hoạt động này diễn ra như sau: trước tiên Công ty chứng khoán sẽ tìm hiểu nhu cầu của khách hàng từ mức sinh lời kì vọng đến mức rủi ro có thể chấp nhận. Sau đó, Công t y chứng khoán sẽ thiết kế hợp đồng uỷ thác đầu tư phù hợp cho từng kì vọng của khách hàng. Trên cơ sở bản hợp đồng, công ty xây dựng danh mục đầu tư, đánh giá danh mục đầu tư và lựa chọn chứng khoán đưa vào danh mục. Bước tiếp theo là tiến hành đầu tư, Công ty chứng khoán sẽ xác định thời điểm mua, bán chứng khoán; kiểm tra lại sự tối ưu c ủa danh mục. Cuối cùng là đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư dựa trên một số tiêu chí theo yêu cầu của khách hàng hay chỉ số toàn thị trường. Hoạt động này được các nhà đầu tư nhỏ, thiếu thời gian và những điều kiện chuyên môn để đầu tư một cách hiệu quả đặc biệt quan tâm. Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải thường xuyên báo cáo cho khách hàng biết về giao dịch, về trạng thái danh mục đầu tư theo yêu cầu của khách hàng hay định kỳ hàng tháng...Tài sản uỷ thác được quản lý chuyên nghiệp, sử dụng tối đa trình độ chuyên môn và phương tiện của các Công ty chứng khoán. Khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian, hơn nữa chỉ phải trả phí khi thực sự có lợi. Công ty chứng khoán đầu tàu thúc đẩy hoạt động này phát triển là Công ty chứng khoán Sài Gòn thu hút 42% tổng số hợp đồng uỷ thác, Công ty chứng khoán Công thương chiếm 32%.  Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán Đây là một trong 5 hoạt động kinh doanh chính c ủa Công ty chứng khoán. Hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán có thể được hiểu: đó là việc Công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng khoán để đưa ra lời khuyên cho khách hàng. Ngoài ra công ty có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. 10 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  12. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP Trước đây khi nghị định 48/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực thì hoạt động tư vấn chỉ được giới hạn trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Hiện nay, Nghị định 144/NĐ-CP đã mở rộng hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán, bao gồm tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán. Đó là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính; mua bán, chia tách, hợp nhất doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết, đăng ký giao dịch. Ngoài ra, Công ty chứng khoán còn thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn bán đấu giá cổ phần và cung cấp các dịch vụ tài chính khác c ho doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật. Tư vấn đầu tư là hoạt động tư vấn cho người đầu tư về thời gian mua bán, nắm giữ, giá trị của các loại chứng khoán và các diễn biến của thị trường. Người tư vấn sử dụng kiến thức của mình để “kinh doanh” nhằm đem lại lợi nhuận cho khách hàng. Lời tư vấn dựa trên sự phân tích những diễn biến của thị trường trong quá khứ, có thể đúng có thể sai, vì vậy khách hàng vẫn là người quyết định cuối c ùng, thông tin người tư vấn đưa ra chỉ nên mang tính chất tham khảo. Trong hoạt động này, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tư vấn luôn được đề cao, tránh việc xảy ra xung đột về lợi ích giữa khách hàng và công ty. Tư vấn tài chính doanh nghiệp là mảng hoạt động hiện nay được các Công ty chứng khoán đặc biệt quan tâm. Ngoài việc mang lại thu nhập cho công ty, hoạt động này có thể tạo ra một mạng lưới khách hàng tiềm năng. Hoạt động tư vấn tài chính sẽ xây dựng thương hiệu và tạo hình ả nh cho công ty; xây dựng nền tảng với khách hàng và tạo cơ sở tiền đề p hát triển các hoạt động khác. Hoạt động này bao gồm: tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xâ y dựng phương án cổ phần hoá, tư vấn bán đấu giá cổ phần, tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp, tư vấn niêm yết đăng ký giao dịch, tư vấn chuyển đổi, mua bán sát nhập doanh nghiệp. 2005 là năm các Công ty chứng khoán triển khai hoạt động này khá hiệu quả, đã thực hiện tư vấn cổ phần hoá cho 525 tổ chức và bán đấu giá 11 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  13. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP thành công cho 229 tổ chức, có trên 15 công ty niêm yết. Công ty chứng khoán Bảo Việt, Sài Gòn, Đầu tư, Mê Kông là những công ty hoạt động tốt trong lĩnh vực này. 1.1.4.2. Các hoạt động phụ trợ Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng khi đến với Công ty chứng khoán, ngoài các hoạt động chính chiếm tỉ trọng lớn trong doanh thu, Công ty chứng khoán còn thực hiện các hoạt động phụ trợ để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy các hoạt động chính phát triển; như hoạt đ ộng lưu ký chứng khoán, quản lý thu nhập của khách hàng, quản lý quỹ,... Bảng 1: Lợi nhuận sau thuế của các Công ty chứng khoán Đơn vị: đồng CTCK Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Nă m 2004 BVSC 1.037.512.776 1.941.102.285 337.884.024 563.447.487 6.604.348.681 BSC 70.253.520 2.104.393.801 566.420.602 667.625.376 6.779.634.197 SSI -949.900.313 696.716.105 499.714.761 108.424.197 13.204.744.480 FSC 886.326.266 2.128.953.870 1.586.007.154 1.328.912.719 11.446.292.694 TSC -128.400.689 527.854.357 -664.888.071 -564.228.990 2.282.166.893 ACBS -233.174.232 7.647.210.115 2.033.737.369 1.732.926.661 15.434.147.805 IBS 103.079.652 1.466.564.677 1.655.944.397 4.836.578.430 11.313.832.925 AGRICECO 2.837.697.281 4.001.259.166 11.476.897.256 VCBS 4.307.454.049 19.700.880.772 34.989.482.897 MSC -1.926.716.055 -985.765.735 HSC 2.149.098.845 5.655.915.918 HPS 0 DAS 1.521.740.546 Tổng cộng 785.696.980 16.512.795.210 13.159.971.566 32.598.208.608 119.723.438.557 (Nguồn: P.QLTV TTGDCK Tp.HCM) Trên đây, chúng ta đã xem xét các hoạt động của Công ty chứng khoán, từ hoạt động chính đến các hoạt động phụ trợ. Một trong những hoạt động chính được các Công ty chứng khoán đặc biệt quan tâm là hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp. Nội dung nghiên cứu tiếp theo sẽ cho biết rõ hơn về hoạt động này tại các Công ty chứng khoán. 12 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  14. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP 1.2. HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.2.1. Khái niệm chung Thị trường chứng khoán là nơi các hoạt động đầu tư luôn diễn ra tấp nập, sôi động. Các hoạt động mua bán trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp diễn ra thường xuyên ngày này qua ngày khác. Trên thị trường luôn xuất hiện hai chủ thể, một chủ thể là các công ty cần huy động vốn phát triển kinh doanh, đồng thời cũng luôn xuất hiện một chủ thể khác là các nhà đầu tư có thừa vốn muốn đầu tư dài hạn hoặc mua bán ngắn hạn tìm kiếm chênh lệch giá. Nhưng có một điều tế nhị đó là những chủ thể mua bán trên thị trường này không phải lúc nào cũng có đầy đủ kiến thức về chứng khoán, các công ty cần phát hành cổ phiếu để huy động vốn nhưng lại không biết các thủ tục xin phép phát hành, c ũng như một nhà đầu tư có dư tiền mặt muốn đầu tư vào chứng khoán nhưng lại không biết cách chọn lựa những công ty tốt cũng như những thời điểm để mua chúng. Nếu không được sự giúp đỡ của những nhà chuyên môn, các công ty sẽ rất khó khăn trong việc phát hành cổ phiếu, họ có thể vi phạm luật huỷ bỏ đợt phát hành hoặc làm sai nghiệp vụ, chọn lựa những thời điểm phát hành không hợp lý gây chậm trễ và thiệt hại cho công ty. Về phía nhà đầu tư do không có kinh nghiệm, thiếu thông tin nên họ có thể sẽ bị thua lỗ nặng nề không đáng có, có thể chán nản từ bỏ thị trường. Chính vì điều này, một đòi hỏi cấp thiết của Thị trường chứng khoán là cần có những công ty chứng khoán làm nhiệm vụ tư vấn, giúp đỡ về chuyên môn cho các thành phần tham gia thị trường. Họ sẽ đóng vai trò những công ty chuyên nghiệp, thông thạo về thủ tục hành chính c ũng như nghiệp vụ, đồng thời có một hệ thống thu nhập, thống kê, xử lý thông tin một cách nhanh chóng nhằm mục đích giúp đỡ các công ty cổ phần phát hành huy động vốn một cách thuận lợi nhất. Công ty chứng khoán sẽ nhận được phí hoa hồng cho công việc của mình. 13 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  15. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp thực chất là một dịch vụ tư vấn của Công ty chứng khoán, theo đó các Công ty chứng khoán sẽ cung cấp cho khách hàng các loại hình tư vấn sau: xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, tư vấn bán đấu giá cổ phần, tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, tư vấn mua bán sát nhập hợp nhất doanh nghiệp và tư vấn niêm yết đăng ký giao dịch. Mỗi Công ty chứng khoán có thể cung cấp cho khách hàng một trong số các dịch vụ trên hoặc tất cả, tuỳ thuộc vào năng lực của công ty cũng như nhu cầu của khách hàng. Công ty chứng khoán sẽ nhận phí từ khách hàng hoạt động của mình, mức phí này tuỳ thuộc vào từng loại hình dịch vụ; ví dụ: mức phí cho hoạt động bán đấ u giá cổ phần không được vượt q uá 10% chi phí cổ p hần hoá. Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp là một trong năm hoạt động chính c ủa Công ty chứng khoán được Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép và pháp luật thừa nhận. Hoạt động này ra đời xuất phát từ nhu cầu của thị trường và của nền kinh tế đang trong thời kì chuyển đổi: thị trường chứng khoán cần có nhiều hàng hoá, nền kinh tế cần những nguồn vốn mới. Để theo kịp tốc độ phát triển buộc các doanh nghiệp phải sử dụng các hình thức huy động vốn mới, đa dạng hóa sở hữu. Các doanh nghiệp tìm đến các Công ty chứng khoán tìm lời tư vấn tối ưu cho nguồn vốn và cho hướng phát triển của doanh nghiệp mình. Nghị định 144/NĐ-CP ban hành năm 2003 và đang có hiệu lực đã mở rộng hoạt động của Công ty chứng khoán so với Nghị định 48/NĐ-CP, mang lại cho các Công ty chứng khoán một loại hình kinh doanh mới. Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp, bao gồm những nghiệp vụ sau:  Tư vấn và thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp Nền kinh tế Việt Nam đang được vận hành theo cơ chế thị trường, hơn nữa loại hình công ty cổ phần, công ty tư nhân chiếm đa số, vì vậy việc định giá các doanh nghiệp là một đ òi hỏi tất yếu. Có nhiều quan điểm khác 14 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  16. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP nhau về giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp, tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất như sau: Xác định giá trị doanh nghiệp hay còn gọi là định giá doanh nghiệp về thực chất là lượng hoá các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra được trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là một thực thể kinh tế và cần được coi là một loại hàng hoá. Do vậy, giá trị doanh nghiệp cần được xác đ ịnh một cách hợp lý để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia trong các hoạt động có liên quan đến doanh nghiệp. Ở Việt Nam, kể từ khi Nhà nước thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước trong đó có cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê...các doanh nghiệp Nhà nước thì xác định giá trị doanh nghiệp đã trở thành vấn đề bức xúc và ảnh hưởng đến quyền lợi sát sườn của các bên. Nói tóm lại, tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp là việc công ty tư vấn giúp các doanh nghiệp xác định giá trị thực tế của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp ở một thời điểm có tính đến khả năng sinh lời trong tương lai.  Tư vấn xây dựng phương án cổ phần hoá doanh nghiệp Tại Việt Nam với sự chuyển mình mạnh mẽ từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường với sự định hướng của Nhà nước, quá trình cổ phần hoá diễn ra hết sức sôi động và là tiền đề cơ bản cho việc tạo lập hàng hoá cho Thị trường chứng khoán. Q uá trình tư vấn cổ phần hoá về cơ bản là việc chuyển công ty với các loại hình sở hữu khác nhau thành công ty cổ phần, như chuyển từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần, chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, chuyển từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang công ty cổ phần... Trong đó, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ 15 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  17. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP phần mà họ sở hữu. Thực tế quá trình cổ phần hoá chỉ diễn ra tại các công ty đang thuộc sở hữu Nhà nước vì vậy trong khuôn khổ chuyên đề ta chỉ nghiên cứu quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước mà các Công ty chứng khoán đã thực hiện. Các công ty chứng khoán sẽ giúp doanh nghiệp lên được phương án cổ phần thích hợp cũng như tư vấn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh 3 – 5 năm sau cổ phần hoá; xây dựng điều lệ công ty cổ phần; xây dựng phương án lao động cho doanh nghiệp khi cổ phần hoá; xây dựng quy chế tài chính...  Tư vấn bán đấu giá cổ phần ra bên ngoài doanh nghiệp Sau khi cổ phần hoá, công ty cổ phần sẽ nhanh chóng cơ cấu lại vốn điều lệ, đa dạng hình thức sở hữu công ty. Giá trị của công ty sẽ được chia thành nhiều phần, công khai bán phần giá trị đó ra bên ngoài. Lúc này, để công việc diễn ra thuận lợi, công ty cổphần tìm đến các tổ chức tư vấn. Khi thực hiện hoạt động này, Công ty ch ứng khoán đóng vai trò là trung gian tài chính thực hiện bán đấu giá cổ phần cho doanh nghiệp. Kể từ lúc cổ phần của doanh nghiệp nằm trong tay của nhà đầu tư bên ngoài, quyền kiểm soát và s ự chi phối doanh nghiệp đã bị chia xẻ. Doanh nghiệp dần trở thành một công ty đại chúng.  Tư vấn phát hành chứng khoán Đây là việc các Công ty chứng khoán thực hiện các công việc hỗ trợ cho việc phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành. Việc tư vấn phát hành diễn ra khi công ty muốn huy động vốn, hoặc khi công ty muốn tặng thêm cổ phiếu cho cổ đông. Thông thường các công ty tư vấn cũng đóng luôn vai trò là nhà bảo lãnh phát hành cho công ty phát hành. Lời tư vấn của Công ty chứng khoán sẽ phụ thuộc vào tình hình thực tế của doanh nghiệp đảm bảo cho đợt phát hành được thành công. Căn cứ vào cơ cấu vốn tối ưu của tổ chức phát hành để quyết định sẽ tăng vốn nợ hay tăng vốn chủ, nói một cách khác sẽ phát hành cổ phiếu hay trái phiếu. 16 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  18. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP  Tư vấn niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán Đối với hoạt động này, công ty tư vấn giúp các công ty cổ phần có đủ những yêu cầu theo quy định lập hồ sơ xin phép U ỷ Ban chứng khoán Nhà nước niêm yết chứng khoán tại trung tâm giao dịch thành phố Hồ chí Minh, hoặc xin phép trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố H à Nội đăng ký giao dịch chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội. Đồng thời, khi chứng khoán niêm yết phải đ ược đăng ký tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán. Công ty chứng khoán sẽ đăng ký giúp công ty cổ phần về chứng khoán và người sở hữu chứng khoán cũng như đăng ký chuyển quyền sở hữu chứng khoán.  Tư vấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp Công ty chứng khoán sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn cấu trúc tài chính tối ưu nhằm tạo nên chi phí vốn thấp nhất và đem lại giá trị thặng dư lớn nhất cho doanh nghiệp. Các nhà tư vấn chứng khoán luôn được đánh giá là các chuyên gia trong việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Theo đó, nhân viên tư vấn sẽ xây dựng nên một phương án tài chính cho doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai. Hoạt động này rất cần thiết, bởi kết cấu nguồn vốn có hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp rất quan tâm đến hoạt động này của Công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty mới thành lập, chuẩn bị b ước vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.  Tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp Sáp nhập là việc một công ty (gọi là công ty đi mua hay công ty thâu tóm) giành quyền kiểm soát toàn b ộ một công ty khác (công ty bị mua hay công ty bị thâu tóm). Kết thúc quá trình sáp nhập, công ty đi mua giữ nguyên tên và loại hình kinh doanh, trong khi công ty bị mua chấm dứt hoạt động của mình và toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của công ty bị mua được chuyển giao cho công ty đi mua. Công ty chứng khoán sẽ giúp các doanh nghiệp từ cơ sở pháp lý đến quá trình thực hiên hoạt động này. Hoạt động này nếu không có sự tư vấn, doanh nghiệp không 17 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  19. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP nắm rõ luật, không có bước đi cụ thể, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp sẽ bị động, và doanh nghiệp mới được hình thành hoạt động không có hiệu quả.  Tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Công ty chứng khoán sẽ giúp các doanh nghiệp với các h ình thức sở hữu khác nhau chuyển về h ình thức công ty cổ phần. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, việc chuyển đổi này chủ yếu diễn ra ở khu vực các doanh nghiệp Nhà nước. V ì vậy, quy trình thực hiện sẽ tương tự như nghiệp vụ tư vấn giúp cổ phần hoá. 1.2.2. Vai trò của hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp ra đời là kết quả quá trình phát triển của nền kinh tế cũng như của thị trường chứng khoán. Đồng thời, hoạt động này cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thị trường, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế. Vai trò của hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp được nhìn nhận ở các khía cạnh khác nhau:  Đối với doanh nghiệp - Tư vấn tài chính doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian cũng như công sức của mình. Doanh nghiệp vẫn có thể tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, không phải lo tìm hiểu tài liệu và quy trình thực hiện. Công ty chứng khoán sẽ có những nhân viên tư vấn hướng dẫn cụ thể từng bước thực hiện, giúp doanh nghiệp tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn - Công ty chứng khoán sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng hình ả nh và quảng bá tên tuổi. Bằng các nghiệp vụ của mình, Công ty chứng khoán sẽ giới thiệu doanh nghiệp cho công chúng để thu hút các nhà đầu tư mua cổ phần của doanh nghiệp  Đối với Công ty chứng khoán - Hoạt động tài chính doanh nghiệp trước tiên sẽ tạo mạng lưới khách hàng cho các Công ty chứng khoán. Các doanh nghiệp khi tìm đến một công ty chứng khoán, họ sẽ không chỉ thực hiện một loại hình d ịch vụ, hơn nữa, nếu làm tốt các doanh nghiệp sẽ là khách hàng tiềm năng của 18 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
  20. C HUY Ê N Đ Ề THỰC TẬP TỐT NGH IỆP công ty. Doanh nghiệp tin tưởng vào công ty sẽ có thể giới thiệu các công ty khác. - Đây là hoạt động tiền đề, tạo khách hàng cho các hoạt động khác của Công ty chứng khoán phát triển. Bước đầu doanh nghiệp tìm đến Công ty chứng khoán vai với trò là công ty tư vấn, nhưng sau đó rất có thể doanh nghiệp là bạn hàng, là khách hàng, là nhà đầu tư trên TTCK. - Hoạt động này sẽ xây dựng hình ả nh của công ty trên thị trường, cũng như trong lòng công chúng đầu tư. Nếu hoạt động tư vấn diễn ra thuận lợi, khách hàng hài lòng, với chuyên môn cao và mức phí cạnh tranh, các doanh nghiệp khác sẽ hoàn toàn yên tâm khi tìm đến công ty. - Tạo thêm cho công ty chứng khoán một khoản thu nhập lớn vì hoạt động này không cần nhiều vốn, chỉ đòi hỏi nhiều chất xám, đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và chuyên môn cao. 1.2.3. Quy trình thực hiện Các nghiệp vụ nằm trong hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp sẽ phối hợp với nhau một cách tuần tự, nghiệp vụ này thúc đẩy nghiệp vụ kia, là tiền đề để thực hiện nghiệp vụ tiếp theo. Một doanh nghiệp khi tìm đến Công ty chứng khoán không nhất thiết phải thực hiện tất cả các nghiệp vụ, Công ty chứng khoán chỉ cần thực hiện theo yêu cầu từ phía khách hàng. Các nghiệp vụ này đều có một q uy trình thực hiện riêng được luật quy định rõ ràng từ lúc chuẩn bị đến khi bắt tay vào thực hiện. Các Công ty chứng khoán khác nhau, tuỳ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn...sẽ tập trung chủ yếu vào những nghiệp vụ được coi là thế mạnh của mình. Họ sẽ cạnh tranh nhau về thời gian thực hiện, mức độ hài lòng của khách hàng, dịch vụ hỗ trợ cũng như mức phí thực hiện. Về mức phí của hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp, một số dịch vụ được Nhà nước đã quy định mức trần (như hoạt động bán đấu giá cổ p hần), các Công ty chứng khoán sẽ đưa ra các mức phí có tính cạnh tranh nhất, tối đa chỉ bằng mức trần. 1.2.3.1. Quy trình thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp Đây là công việc rất quan trọng, đòi hỏi độ chính xác tương đối cao, và là công việc đầu tiên trước khi thực hiện các công việc khác. Hiện nay, việc xác định giá trị doanh nghiệp của các Công ty chứng khoán tập trung ở 19 T h ị tr ư ờng chứng khoán 44 Đ ỗ Thị Vân Anh
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2