intTypePromotion=3

Phương thức ứng xử với ngôn ngữ dân tộc Trần Nhân Tông

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
7
lượt xem
0
download

Phương thức ứng xử với ngôn ngữ dân tộc Trần Nhân Tông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thế kỷ XIII được coi là mốc quan trọng của nền văn hoá Việt và cũng là mốc phát triển của riêng chữ Nôm. Trong giai đoạn mới hình thành thứ chữ riêng có của dân tộc này, các chính thể hành chính quan phương có những nỗ lực khác nhau trong việc khích lệ sự hưng thịnh và hoàn thiện của chữ Nôm. Đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa đặc thù giai đoạn đầu độc lập, vua Trần Nhân Tông có cách ứng xử hết sức đặc biệt với chữ Nôm. Đấng minh quân sáng suốt của nhà Trần đã đặc biệt hóa vị thế của chữ Nôm như là cách để định vị mình giữa chúng sinh và thần dân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phương thức ứng xử với ngôn ngữ dân tộc Trần Nhân Tông

Hoàng Thị Tuyết Mai<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 112(12)/1: 99 - 104<br /> <br /> PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ VỚI NGÔN NGỮ DÂN TỘC<br /> CỦA TRẦN NHÂN TÔNG<br /> Hoàng Thị Tuyết Mai*<br /> Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thế kỷ XIII được coi là mốc quan trọng của nền văn hoá Việt và cũng là mốc phát triển của riêng<br /> chữ Nôm. Trong giai đoạn mới hình thành thứ chữ riêng có của dân tộc này, các chính thể hành<br /> chính quan phương có những nỗ lực khác nhau trong việc khích lệ sự hưng thịnh và hoàn thiện của<br /> chữ Nôm. Đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa đặc thù giai đoạn đầu độc lập, vua Trần<br /> Nhân Tông có cách ứng xử hết sức đặc biệt với chữ Nôm. Đấng minh quân sáng suốt của nhà Trần<br /> đã đặc biệt hóa vị thế của chữ Nôm như là cách để định vị mình giữa chúng sinh và thần dân.<br /> Từ khóa: Phương thức ứng xử, chữ Nôm, Văn học Nôm, thơ Nôm Trần Nhân Tông, văn học Lý Trần.<br /> <br /> NƠI “GÁC NGỌC LẦU VÀNG” DỤNG CHỮ<br /> NÔM ĐỂ CỦNG CỐ VƯƠNG QUYỀN *<br /> 1.Vinh danh người đuổi cá sấu bằng Văn<br /> Nôm<br /> Sách Đại Việt sử kí toàn thư quyển V, Kỉ nhà<br /> Trần viết: “Bấy giờ (năm 1282) Có cá sấu<br /> đến sông Lô. Vua sai thượng thư Hình bộ là<br /> Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông, con<br /> cá sấu tự đi mất. Vua cho việc này giống như<br /> việc của Hàn Dũ, cho đổi họ là Hàn Thuyên.<br /> Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc âm. Nước ta<br /> thơ phú dùng nhiều quốc âm, thực bắt đầu từ<br /> đấy”. [3, 301]. Và chú thích: Hàn Dũ – Danh<br /> sĩ đời Đường ở Trung Quốc, làm quan ở Triều<br /> Châu, ở đấy có nhiều cá sấu, Hàn Dũ làm bài<br /> văn vứt xuông nước, cá sấu bỏ đi.<br /> Đóng vai trò như một bề trên sáng suốt, Trần<br /> Nhân Tông có thái độ đặc biệt với sự kiện<br /> chính trị - xã hội và văn hóa nêu trên. Sự kiện<br /> có màu sắc huyền thoại về thi sĩ họ Hàn được<br /> nhắc tới như những ý kiến được đưa ra bởi<br /> một tầm hiểu biết hạn hẹp đã bị lấn át bởi tầm<br /> hiểu biết có phần rộng hơn là niềm tin vào<br /> khả năng sáng tạo gần như vô hạn của trí<br /> tưởng tượng con người. Tám thế kỉ đã qua, sự<br /> kiện cũ chỉ được ghi lại vài dòng lạnh lùng<br /> trên trang giấy, nhưng kí ức tiềm ẩn của các<br /> bậc thức giả vẫn thao thức, trở trăn cho những<br /> gì thuộc về bản ngã văn hóa dân tộc. Câu<br /> chuyện về thi sĩ họ Hàn đuổi “ngặc ngư”<br /> *<br /> <br /> ĐT: 0986222413; Email: Tuyetmaidhkh@gmail.com<br /> <br /> bằng văn Nôm được Trần Nhân Tông phủ<br /> màn sương huyền thoại có giá trị như những<br /> nỗ lực tạo dựng bản sắc văn hóa và tinh thần<br /> quốc gia dân tộc bởi “Huyền thoại là một<br /> trong những thành tố chính yếu trong việc tạo<br /> dựng tinh thần quốc gia, nhất là tinh thần<br /> quốc gia tôn giáo (religions nationalism)”1.<br /> Các thế hệ sau luôn nhắc tới sự kiện này với<br /> những lăng kính và cách lí giải khác nhau.<br /> Vua Tự Đức từng làm thơ ca ngợi:<br /> Quốc ngữ văn chương thùy nhiễm hàn<br /> Bất vong đôn bán bị nham khan<br /> Lư giang di ngạc hà thần tốc<br /> Bác đắc quân vương tứ tính Hàn<br /> Dịch:<br /> Quốc ngữ văn chương mới nhúng tay<br /> Chẳng quên tiếng mẹ khá khen thay<br /> Sông Lư đuổi sấu in Hàn Dũ<br /> Nên được nhà vua đổi họ ngay. [4, 654]<br /> Sử gia nước ngoài A.B Pôliacốp cũng ghi<br /> nhận: “Trên cơ sở chữ tượng hình Trung<br /> Quốc, hệ thống chữ viết dân tộc – “chữ Nôm”<br /> được phổ biến rộng rãi. Một trong những nhà<br /> thơ chữ Nôm tiêu biểu nhất thời gian này là<br /> Nguyễn Thuyên” [2, 204]<br /> Bàn luận về đoạn sử trên Nguyễn Khắc Thuần<br /> viết: “Về sự chuẩn xác của đoạn văn này thì<br /> chúng ta có thể ngờ vực, nhưng, việc Nguyễn<br /> Thuyên được Trần Nhân Tông ban cho họ<br /> Hàn là điều có thật và thơ chữ Nôm kể từ đó<br /> được gọi là thơ Hàn luật cũng là điều hoàn<br /> toàn có thật”. [5, 451]<br /> 99<br /> <br /> Hoàng Thị Tuyết Mai<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Trần Ngọc Vương cho rằng:“Bằng hàng loạt<br /> những hoạt động đối nội, hoàng đế Trần<br /> Nhân Tông rất nhanh chóng chứng tỏ khả<br /> năng cố kết nhân tâm, kiên nhẫn “đãi cát tìm<br /> vàng” để tận dụng nhân tài, trước hết phục<br /> vụ cho sự nghiệp chống ngoại xâm mà chỉ<br /> tiên liệu sơ sài cũng biết sẽ vô cùng gian nan<br /> ấy. Điển hình cho loại hoạt động này là các<br /> sự kiện : sai Chiêu Văn Vương Trần Nhật<br /> Duật chiêu dụ trịnh Giác Mật thổ tù ở đạo Đà<br /> Giang (1280), bày tỏ “thần uy” bằng cách sai<br /> Nguyễn Thuyên làm “văn đuổi cá sấu” ở<br /> sông Hồng (1282)…”[6, 412]<br /> Đóng vai trò như người định hướng sáng suốt,<br /> vua Trần Nhân Tông đã khuyến khích thứ<br /> ngôn ngữ dân tộc bằng cách của người cai trị<br /> thiên hạ tinh tế và có tầm nhìn chiến lược.<br /> Đọc kĩ năm dòng sử ngắn ngủi chúng ta thấy<br /> có hai lần xuất hiện bóng dáng của chính thể<br /> quan phương mà Trần Nhân Tông là người<br /> tạo tác. Lần thứ nhất “Vua sai thượng thư<br /> Hình bộ là Nguyễn Thuyên làm văn ném<br /> xuống sông…”, nghĩa là việc sáng tác thơ và<br /> làm thơ là do ý chí của đấng chí tôn, là chủ ý<br /> của chính thể hành chính. Việc sử dụng chữ<br /> Nôm và sáng tác thơ Nôm lúc này hẳn là phổ<br /> biến lắm và có tác dụng lớn lắm đối với<br /> vương quyền và thần quyền nên những sự<br /> kiện lớn và gây lo lắng cho nhiều người phải<br /> viện đến thơ Nôm (chứ không phải thơ chữ<br /> Hán). Hơn nữa, màu sắc huyền bí của sự kiện<br /> cùng với sự linh diệu của thứ văn “độc” này<br /> dường như có sự trợ giúp của đấng siêu<br /> nhiên. Với mục đích chính trị, bản thân vua<br /> Trần Nhân Tông không chỉ coi trọng và đề<br /> cao chữ Nôm mà còn “cấp” cho thứ chữ này<br /> những thuộc tính và quyền năng siêu phàm có<br /> màu sắc tâm linh nhằm củng cố vương quyền<br /> và khẳng định vị thế của người dụng chữ<br /> Nôm sáng tác. Hơn thế, chữ Nôm được ngầm<br /> định như là một phần linh diệu, bí hiểm của<br /> hình sông, dáng núi, của vang vọng thẳm sâu<br /> tinh anh và thần thái núi sông. Tại thời điểm<br /> này, chữ Nôm là cái gì thiết thân, gần gũi<br /> nhưng cũng đầy huyễn hoặc của phần sâu xa<br /> tiềm thức mà chỉ học giả Nguyễn Thuyên mới<br /> đủ tài để “đối thoại” với các đấng bậc siêu<br /> nhiên linh ứng.<br /> 100<br /> <br /> 112(12)/1: 99 - 104<br /> <br /> Khi cá sấu bỏ đi, lần thứ hai vua lại bày tỏ uy<br /> thế bằng cách ban cho thi nhân họ Hàn – họ<br /> của một danh sĩ đời Đường ở Trung Quốc.<br /> Vinh danh người sáng tác bằng chữ Nôm là<br /> một cách khuyến khích thứ chữ dân tộc một<br /> cách khéo léo và rõ ràng nhất. Đó cũng là<br /> cách ban thưởng của một nước có văn hiến,<br /> hiểu Thi Thư, biết Lễ Nhạc giống như trong<br /> sử chính thống của thiên triều (Trung Quốc).<br /> Vả chăng, sự kiện này có tính “công thức”<br /> giống như trong điển chế, nó rất phù hợp với<br /> tư duy hồi cổ của các nước nằm trong khu<br /> vực đồng văn, luôn lấy quá khứ làm qui<br /> chuẩn cho mọi hành xử trong thiên hạ. Màu<br /> sắc cổ kính và chất Đông phương của sự kiện<br /> có giá trị văn hóa khu vực rõ nét. Nó như một<br /> minh họa về cách tư duy kiểu phương Đông:<br /> tất thảy các sao đều phải chầu về ngôi sao tử<br /> vi đế tọa - bậc chí tôn (Trung Quốc). Với sự<br /> kiện này, sợi dây liên hệ giữa nước phiên<br /> thuộc và thiên triều truyền thống vẫn được kết<br /> nối bởi những qui chuẩn văn hóa phổ quát,<br /> song nước Nam đã là nước Nam – một mảnh<br /> riêng biệt về lãnh thổ và văn hiến. Khát vọng<br /> khẳng ðịnh dân tộc với những ýu thế của<br /> riêng mình nhý nguồn mạch xuyên suốt, thẩm<br /> thấu các lĩnh vực của ðời sống xã hội thời Lý<br /> - Trần. Với chữ Nôm, ông vua cai trị thời<br /> Trần đã khéo léo tạo nên một “kênh” thông<br /> tin đặc biệt, tạo những dư âm có lợi cho nước<br /> Nam trong mối quan hệ với nước láng giềng<br /> Trung Quốc.<br /> Hơn nữa, cách hành xử này cũng rất hợp lý<br /> nếu soi chiếu dưới góc độ Nho giáo.Việc nhà<br /> vua sai bề tôi đuổi “ngặc ngư” bằng thứ văn<br /> “độc” chứng tỏ quyền uy tối thượng của đấng<br /> chí tôn. Nó là cách khẳng định ngầm rằng<br /> dưới bầu trời Nam lúc này ông vua đã có<br /> quyền tối cao. Sức mạnh của người cai trị<br /> ngai vàng là phép cộng của cả vương quyền<br /> và thần quyền. Cho nên, sự kiện này có ý<br /> nghĩa như một phức thể văn hóa.<br /> Với Trần Nhân Tông chữ Nôm không những<br /> được coi trọng mà nó vừa là sản phẩm sáng<br /> tạo riêng có của nước Nam, là sản phẩm tuyệt<br /> vời của trí tuệ dân tộc nằm trong “mạch”<br /> chung của ngôn ngữ Đông phương mà Trung<br /> <br /> Hoàng Thị Tuyết Mai<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Quốc luôn là cái nôi kiến tạo. Với nước ta<br /> ngày đầu độc lập, việc bảo vệ chính quyền tự<br /> chủ là bất di bất dịch, song giữ mối quan hệ<br /> hòa hảo, uyển chuyển, linh hoạt, với Trung<br /> Quốc là vô cùng cần thiết. Là người đứng đầu<br /> đất nước, một đất nước đã và đang và luôn<br /> phải tìm những bằng chứng rõ ràng cho sự<br /> độc lập của mình bên cạnh Trung Quốc, Trần<br /> Nhân Tông đã vinh danh nền văn hóa của đất<br /> nước mình bằng phương tiện rất đỗi dân tộc<br /> một cách khôn khéo.<br /> 2. Khuyến khích lệ “giảng cả âm nghĩa”<br /> chữ Hán như là một biện pháp thúc đẩy sự<br /> hưng thịnh của chữ Nôm<br /> ĐVSKTT viết:<br /> (Khoảng năm Mậu Tí, năm thứ 4, 1288)<br /> “Vua bảo ty Hành khiển giao hảo với Viện<br /> Hàn lâm. Lệ cũ, phàm có tuyên ra lời nói của<br /> vua thì viện Hàn lâm đưa trước bản thảo tờ<br /> chiếu cho ty Hành khiển để học tập trước, đến<br /> khi tuyên đọc thì giảng cả âm nghĩa cho dân<br /> thường dễ hiểu, ….” [3, 316]<br /> Đời Trần chữ Hán tồn tại nơi triều chính<br /> nhưng nó vẫn thiếu cội rễ để tồn tại trong đời<br /> sống dân chúng một cách thiết thân. Nhu cầu<br /> về một thứ chữ dân tộc đã và đang hiển hiện<br /> xung quanh một đất nước nhỏ bé nhưng bắt<br /> đầu có vị thế và ngày càng khẳng định mãnh<br /> liệt sự tồn tại của mình. Đó đây, nơi đám dân<br /> đen khắp nẻo kia, chữ Hán chẳng may may<br /> đụng chạm đến ngõ ngách của những rung<br /> cảm sâu thẳm nhất và đời thường nhất. Trần<br /> Nhân Tông hiểu được những chống chếnh của<br /> ngôn ngữ chữ Hán và sự diệu vợi của những<br /> qui tắc trong ngôn ngữ vay mượn nên duy trì<br /> việc diễn Nôm những văn bản mang tính chất<br /> nhà nước. Lê Mạnh Thát cho rằng: “…việc<br /> đọc những chiếu chỉ triều đình không chỉ<br /> bằng tiếng Hán mà cả bằng tiếng Việt, tiếng<br /> nói hàng ngày của người Đại Việt thời bấy<br /> giờ, nhằm cho mọi tầng lớp người dân thuộc<br /> nhiều thành phần xã hội khác nhau có thể<br /> hiểu được nội dung những chính sách liên hệ<br /> đến số phận của họ”2. Hơn thế, chính nhà vua<br /> lúc ngâm vịnh nhàn tản cũng dùng chữ Nôm<br /> để “giãi bày những rung cảm sâu kín của<br /> lòng mình”3. Khía cạnh này khiến cho ông<br /> <br /> 112(12)/1: 99 - 104<br /> <br /> vua thiên tử này gần gũi với dân chúng hơn<br /> và cũng thúc đẩy chữ Nôm phát triển phong<br /> phú hơn.<br /> Cách ứng xử ấy (việc diễn Nôm những văn<br /> bản nhà nước) tồn tại chính thức như bao thứ<br /> nghi lễ cung đình khác chứng tỏ nó vô cùng<br /> cần thiết. Hơn nữa ứng xử bằng lệ4 nghĩa là<br /> thói quen đó đã có những kiểm chứng lịch sử<br /> và kinh nghiệm đủ để kiêu hãnh cho sự tồn tại<br /> của mình. Nó là bằng chứng chính đáng cho<br /> hiện tượng song ngữ trong đời sống và sáng<br /> tác văn chương của Việt Nam thời trung đại.<br /> Đây cũng là một biểu hiện tất yếu của ý thức<br /> yêu chuộng quốc âm, ý thức dân chủ, nhu cầu<br /> dùng tiếng Việt để biểu hiện tình cảm thực<br /> của mình “dù học tập văn từ của Trung Hoa,<br /> mà vẫn nói năng, ca vịnh không rời với tiếng<br /> nói của mình” (Phạm Đình Toái)5.<br /> Có một mâu thuẫn tồn tại trong thời Lý Trần,<br /> đó là khát vọng độc lập và nỗ lực không mệt<br /> mỏi để khẳng định nền tự chủ nhưng không<br /> dễ dàng thoát khỏi sự bủa vây của những yếu<br /> tố ngoại lai mà ngôn ngữ là biểu hiện rõ ràng<br /> nhất. Bản thân vua Trần Nhân Tông cũng<br /> cùng lúc duy trì khoa cử (dùng chữ Hán) và<br /> dùng lệ giảng âm nghĩa chữ Nôm như giải<br /> pháp tình thế để ngày một ngày hai chữ Nôm<br /> có cơ hội để trưởng thành. Hơn ai hết Trần<br /> Nhân Tông đã khuyến khích chữ Nôm phát<br /> triển không chỉ ở chốn dân gian mà ngay tại<br /> nơi bệ rồng thăm thẳm. Triều đình của nhà<br /> Trần vốn gần gũi với rặng tre của dân chúng6<br /> và cách hành xử hào phóng, khai mở ấy<br /> chúng ta cũng tìm thấy ở lĩnh vực sử dụng<br /> ngôn ngữ. Với đời vua Trần Nhân Tông, Chữ<br /> Nôm có vị thế và cơ hội để phát triển không<br /> kém thua chữ Hán.<br /> CHỐN “DẬT SĨ TIÊU DAO” DỤNG CHỮ<br /> NÔM ĐỂ KÍ THÁC TÂM TƯ<br /> Chữ Nôm đã được chọn như điểm về của cảm<br /> hứng thẩm mĩ Phật giáo – thứ cảm hứng quan<br /> trọng bậc nhất của văn học Lý Trần bởi ông<br /> vua – thi sĩ – phật hoàng Trần Nhân Tông.<br /> Với Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm<br /> tuyền thành đạo ca, Trần Nhân Tông đã tôn<br /> vinh chữ Nôm như phương tiện đắc dụng để<br /> kí thác tư tưởng của mình.<br /> 101<br /> <br /> Hoàng Thị Tuyết Mai<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Trần Nhân Tông có sáng tác chữ Hán, song<br /> ông chỉ ghi dấu ấn bản thể mình như một thi<br /> nhân lỗi lạc bởi những sáng tác bằng chữ<br /> Nôm. Triết lí sâu xa của lẽ sống con người<br /> được kí thác bằng văn Nôm – thứ văn chương<br /> ở góc độ nào đó là của riêng người Việt. Nó<br /> cũng là thứ ngôn ngữ khu biệt với chữ Hán<br /> bởi những qui ước rất Việt Nam trên dòng<br /> chảy chung của nguyên tắc tạo chữ của người<br /> Hán. Trên cái nền chung về văn hóa và ngôn<br /> ngữ của nền văn minh Trung Hoa, người Việt<br /> Nam sau khi có tiếng nói riêng về chính trị đã<br /> kịp tạo cho mình tiếng nói riêng về văn hóa,<br /> văn học. Chính việc coi trọng chữ Nôm và<br /> dùng nó diễn đạt khu vực riêng của cảm thức<br /> người Việt đã giúp cho người Trung Quốc<br /> hiểu rằng hơn nghìn năm đồng hóa vẫn không<br /> thể biến đất nước bé nhỏ Việt Nam thành một<br /> phần lệ thuộc vào mình. Việt Nam vẫn là Việt<br /> Nam, bất luận quá khứ đau thương và vết hằn<br /> lịch sử in đậm hàng ngàn năm lịch sử. Ý thức<br /> quyết liệt ấy được minh chứng bằng ngôn ngữ<br /> văn chương và bằng cảm hứng “cư trần” vốn<br /> là sản phẩm của thuyết lí Phật giáo từ Ấn Độ<br /> qua phương Bắc đưa vào nhưng màu sắc của<br /> nó đã biến đổi theo cương vực và lãnh thổ của<br /> người Nam.<br /> Trước đó dù thư tịch Phật giáo có một số văn<br /> bia: Vân Bản tự chung minh (chùa Vân Bản),<br /> Chúc thánh Báo Ân tự bi (Chùa Báo<br /> Ân)….Nhưng chỉ đến Cư trần lạc đạo phú và<br /> Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca chúng ta mới<br /> có những sáng tác bằng văn chương đúng<br /> nghĩa và tương đối qui mô bằng ngôn ngữ dân<br /> tộc. Hai tác phẩm này có đề cập đến những<br /> vấn đề cốt lõi của Thiền Tông có ý nghĩa như<br /> đuốc tuệ soi đường cho nhiều thế hệ người<br /> Việt giai đoạn Lý Trần. Con đường đạt đạo<br /> mà Cư trần lạc đạo phú chỉ ra có ý nghĩa<br /> quan trọng và chi phối đời sống của hàng<br /> triệu người Việt trong những thế kỉ bản lề của<br /> dân tộc. Vị trí của văn học Nôm trong sáng<br /> tác của Trần Nhân Tông có ý nghĩa như là<br /> mốc đầu tiên cho sự kết tinh của ngôn ngữ và<br /> tinh thần dân tộc.<br /> Với Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền<br /> thành đạo ca chữ Nôm đã đủ sức chuyển tải<br /> 102<br /> <br /> 112(12)/1: 99 - 104<br /> <br /> những nội dung tư tưởng khác nhau và mang<br /> vẻ đẹp của riêng nó. Chữ Nôm được lựa chọn<br /> để phát biểu những tư tưởng trìu tượng và khó<br /> nắm bắt một cách giản dị và dễ hiểu. Chữ<br /> Nôm là ngôn ngữ sáng tác, tức là nó đã được<br /> chuyên nghiệp hóa và đáp ứng được những<br /> đòi hỏi về kĩ xảo nhất định trong đời sống và<br /> nhất là trong nghệ thuật. Cư trần lạc đạo phú,<br /> Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca xét trong lịch<br /> sử văn học dân tộc là những tác phẩm khởi<br /> đầu cho dòng văn học Nôm. Giá trị của nó<br /> ngoài việc biểu đạt những vấn đề thuộc về tôn<br /> giáo còn có ý nghĩa như là sự khẳng định tinh<br /> thần tự cường của một dân tộc và tầm nhìn xa<br /> trông rộng của một ông vua đem chính ngôn<br /> ngữ dân tộc để truyền tải những vấn đề rất<br /> cao siêu.<br /> Chính chữ Nôm được Trần Nhân Tông chọn<br /> để diễn đạt tư tưởng Cư trần lạc đạo chứ<br /> không phải chữ Hán. Điều này vô cùng quan<br /> trọng đối với tác phẩm. Việc lựa chọn ngôn<br /> ngữ sáng tác là một cách bày tỏ quan niệm<br /> sáng tác của tác giả và cấu thành nên đời sống<br /> nội tại của chính tác phẩm. Sự thống nhất về<br /> tư tưởng cộng hưởng với sự thống nhất về<br /> phương tiện diễn đạt là cầu nối lí tưởng cho<br /> đa số nhân dân ít học tiếp nhận. Phương thức<br /> truyền đạt của Cư trần lạc đạo phú tự bản<br /> thân nó có giá trị tôn vinh nét đẹp và sự đắc<br /> dụng của Việt ngữ. Chữ Nôm với Trần Nhân<br /> Tông là phương tiện lí tưởng và hiệu quả, tiện<br /> dụng và trong sáng, đẹp đẽ và giản dị, trang<br /> trọng và gần gũi trong việc bày tỏ vẻ đẹp nội<br /> tâm và sự sự chứng ngộ chân lí Thiền Tông.<br /> Sau cuộc sống nhập thế tích cực chốn gác tía<br /> lầu son Trần Nhân Tông đã dành khoảng lặng<br /> để chiêm nghiệm trầm tư nơi cõi Phật. Nhà<br /> vua đã soi nhìn thế giới chân như bằng bằng<br /> cảm quan phấn chấn, tự tin. Sự chứng ngộ<br /> viên mãn là đích soi chiếu cho những rung<br /> cảm thẩm mĩ và điểm tựa cho những trải<br /> nghiệm sâu lắng của bậc chân tu, hơn thế,<br /> người khai sáng dòng thiền Trúc Lâm. Chữ<br /> Nôm trong Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm<br /> tuyền thành đạo ca dễ hiểu, dung dị, đời<br /> thường giúp người đọc cảm nhận một cõi<br /> tâm linh trong trẻo, thuần thành đạt đến chỗ<br /> cứu cánh giác ngộ.<br /> <br /> Hoàng Thị Tuyết Mai<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> TRẦN NHÂN TÔNG TRONG DÒNG<br /> NGHIÊNG KHÔNG THỜI GIAN<br /> Nhìn lại những thành tựu của đời Trần, dấu ấn<br /> của Trần Nhân Tông hiển hiện rõ nét ở nhiều<br /> lĩnh vực. Điều gieo rắc vào trí nhớ của các thế<br /> hệ sau về ông hằn rõ nhất là phương thức ứng<br /> xử khéo léo. Xâu chuỗi những sự kiện liên<br /> quan đến Trần Nhân Tông chúng ta thấy một<br /> “mạch” thông suốt trong tầm vóc và vị thế<br /> của nhà văn hóa – chính trị - tôn giáo tiêu<br /> biểu. Hội nghị Diên Hồng được người đời<br /> ngợi ca không phải ở giá trị của nội dung “hội<br /> nghị” mà ở tài cố kết nhân tâm. Các phụ lão<br /> trong dân gian được coi trọng, được tham dự<br /> vào chính sự không bởi vì triều đình thiếu kế,<br /> mà bởi tài dụng mưu, tài huy động sức mạnh<br /> toàn dân tộc của vị vua khoan giản an lạc.<br /> Với chữ Nôm, người đời sau cảm nhận tầm vị<br /> trí quan trọng của nó bởi tài phù phép, tài<br /> trưng dụng nó như những biểu hiện đầu tiên<br /> của tinh thần quốc gia dân tộc. Hơn thế, Cư<br /> trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành<br /> đạo ca được coi là những tác phẩm có địa vị<br /> “quan trọng nhất trong bốn bài phú đời<br /> Trần” [1, 116] bởi ông vua tài năng và tâm<br /> huyết đời Trần biết đãi những hạt vàng từ kho<br /> ngôn ngữ giàu có và tinh luyện của dân tộc.<br /> Vì vậy, với Trần Nhân Tông khoảng cách về<br /> thời gian như ngưng đọng, chỉ có những giá<br /> trị được ông tạo dựng là luôn hiện hữu.<br /> <br /> 112(12)/1: 99 - 104<br /> <br /> sắc “Đại Nam quốc sử diễn ca”, đã uốn nắn, rút gọn từ<br /> 1.887 câu còn 1.027 câu lục bát, làm cho tác phẩm trở<br /> thành cô đọng, cổ kính mà lưu loát, hấp dẫn.<br /> 6<br /> Tinh thần khai phóng, khoan hòa của nhà Trần là một<br /> mạch chảy thông suốt. Chẳng hạn, sự kiện vua Trần<br /> Thánh Tông từng bảo người tôn thất rằng: “Thiên hạ là<br /> thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp Tổ tông nên<br /> cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý... ; sự<br /> kiện rước linh cữu Trần Nhân Tông năm Canh Tuất<br /> (1310) dân tình xem đông đến mức phải tể tướng dẹp<br /> người, hữu ty dùng kế mới đi được... ; sự kiện vua cảm<br /> tình sự hộ tùng của những người hầu hạ trong lúc loạn<br /> ly mà răn bảo các vệ sĩ không được la đuổi gia đồng của<br /> các vương hầu...<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Đào Duy Anh (1975), Chữ Nôm - Nguồn<br /> gốc, cấu tạo, diễn biến, NXB KHXH.<br /> [2]. A.B Pôliacốp (1975), Sự phục hưng của<br /> nước Đại Việt thế kỉ X – XIV, NXB Chính trị<br /> quốc gia, Viện lịch sử quân sự Việt Nam.<br /> [3]. Nhiều tác giả (2009), Đại Việt sử kí toàn thư<br /> trọn bộ, NXB Văn hóa – thông tin.<br /> [4]. Nguyễn Quyết Thắng - Nguyễn Bá Thể<br /> (1993), Từ điển nhân vật lịch sử VN, NXB<br /> Văn hóa.<br /> [5]. Nguyễn Khắc Thuần (2007), Tiến trình văn<br /> hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XIX,<br /> NXB Giáo dục.<br /> [6]. Trần Ngọc Vương (2010), Thực thể Việt nhìn<br /> từ các tọa độ chữ, NXB Tri thức.<br /> <br /> 1<br /> Dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn, Văn học trung đại Việt<br /> Nam – Quan niệm con người và tiến trình phát triển,<br /> NXB Khoa học xã hội, 2005, tr.121.<br /> 2<br /> ttp://triethoc.edu.vn/index.phpoption=com_content&vi<br /> ew=article&id=191:mt-s-vn-t-tng-trn-nhan<br /> tong&catid=5:t-tng-vit-nam&Itemid=224<br /> 3<br /> Trường hợp Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền<br /> hành đạo ca đề cập bên dưới.<br /> 4<br /> Xem Hoàng Thị Tuyết Mai, Phương thức ứng xử với<br /> ngôn ngữ và văn hóa thời Lý Trần, Tạp chí Văn hóa<br /> Nghệ thuật, số 325 (2011), tr.20.<br /> 5<br /> Phạm Đình Toái (1817 - 1901) quê Nghệ An, đỗ Cử<br /> nhân 1842, làm quan đến án sát Sơn Tây, bị thăng giáng<br /> nhiều lần. Ngoài “Quỳnh Lưu tiết phụ truyện” bằng chữ<br /> Hán, ông chủ yếu dùng thơ lục bát điêu luyện để diễn<br /> Nôm một số thiên trong Kinh truyện nho gia, nhiều thơ<br /> cổ điển Trung Quốc. Nổi tiếng vì có công nhuận<br /> <br /> 103<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản