intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non

Chia sẻ: Thịnh Đàm | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

1.449
lượt xem
94
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non với mục tiêu giúp giáo viên hiểu hơn về bản chất và các vấn đề liên quan đến môi trường; nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường nói chung, việc cần thiết phải giáo dục BVMT cho trẻ mầm non nói riêng; từ đó giáo viên nắm được các kiến thức, nội dung và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDBVMT cho trẻ dựa trên tình hình thực tế của trường, lớp, địa phương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non

  1. PHẦN THỨ NHẤT:  PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:       Môi trường (MT) bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có quan   hệ  mật thiết với nhau, bao quanh con người, có  ảnh hưởng đến đời sống, sản  xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1 – Luật BVMT   của Việt Nam 1993). Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống  con người và sự  phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của nhân  loại…       Bảo vệ  môi trường (BVMT) là những hoạt động giữ  cho môi trường trong  lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả  xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp  lý các tài nguyên thiên nhiên.      Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) là quá trình giáo dục có mục đích  nhằm   làm   cho   con   người   và   cộng   đồng   quan   tâm   đến   các   vấn   đề   của   môi  trường; có sự  hiểu biết về  môi trường; có thái độ, kỹ  năng và hành vi tốt trong   việc BVMT.      Chúng ta đều nhận thấy môi trường hiện nay đang bị  ô nhiễm nặng nề  làm   cho khí hậu toàn cầu bị  biến  đổi; tần suất thiên tai gia tăng, khó lường;  tài  nguyên suy thoái và cạn kiệt dần…ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống  của mỗi chúng ta. Một trong những nguyên nhân chủ  yếu là do sự  thiếu hiểu  biết, chưa có thức BVMT của con người. Vấn đề  cấp thiết đặt ra là cần phải   kêu gọi các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và mọi cá nhân cùng chung tay   để BVMT, coi đó “là vấn đề  sống còn của đất nước, nhân loại và là một trong  những yếu tố  quyết định sự  phát triển bền vững, có liên quan chặt chẽ  tới sự  phát triển kinh tế xã hội…”. 1
  2.      Trong nghị quyết số 41/NQ/TW của Bộ Chính Trị ra ngày 15/11/2004 đã chỉ  rõ cần phải BVMT với hi vọng mọi người, mọi nhà  sẽ  được sống trong một  moou trường trong sạch, lành mạnh và hạnh phúc hơn.      Thực hiện QĐ số 1363/QĐ­TTg ngày 17/10/2001 của BGD&ĐT phê duyệt đề  án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ  thống giáo dục quốc dân”, trong đó nhấn   mạnh “Nội dung GDBVMT phải đảm bảo được tính giáo dục toàn diện”; đối  với giáo dục mầm non: “Cung cấp cho trẻ  những hiểu biết ban  đầu về  môi  trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách sống  tích cực với môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí   tuệ”; bậc học mầm non – nơi chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con người từ  những bước khởi đầu của cuộc đời, chính vì lẽ  đó giáo dục cho trẻ  có ý thức   BVMT là điều thiết yếu nhất.          Chỉ  thị  số  02/2005/CT­BGD&ĐT ngày 31/1/2005 về  tăng cường công tác  GDBVMT đã nhấn mạnh: “BVMT là một vấn đề  sống còn của đất nước, của  nhân loại. BVMT nói chung và GDBVMT nói riêng đã được Đảng, Nhà nước  quan tâm…”. Trong đó đã đề  ra nhiệm vụ  cho các cơ  sở  GDMN tham gia vào   công tác GDBVMT; giúp trẻ hiểu biết về môi trường; có hành vi, thái độ ứng xử  phù hợp với môi trường để gìn giữ, bảo vệ môi trường; biết sống hòa nhập với  môi trường  nhằm đảm bảo phát triển lành mạnh. Trẻ biết được MTXQ trẻ bao   gồm những gì, biết phân biệt được những việc làm tốt – xấu, những hành vi  đúng – sai đối với môi trường và biết cần phải làm những gì để  BVMT. Bên  cạnh đó cũng giáo dục trẻ  cách chăm sóc, giữ  gìn sức khỏe của bản thân; biết   chăm sóc bảo vệ  cây cối, con vật nơi mình  ở; biết về  một số  ngành nghề, văn   hóa phong tục tập quán địa phương, từ  đó dần hình thành  ở  trẻ  niềm tự  hào, ý  thức bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc.      Việc giáo dục cho trẻ có ý thức BVMT luôn luôn là một hoạt động mang tính  giáo dục cao, đòi hỏi giáo viên phải nhạy bén, linh hoạt, không gây quá tải cho  2
  3. trẻ, biết tận dụng nguồn nguyên vật liệu phế  thải sẵn có để  làm đồ  dùng đồ  chơi cho trẻ được thực hành, khám phá, trải nghiệm… một cách có hiệu quả.       Từ  năm học 2005­2006 nội dung GDBVMT đã được đưa vào chương trình  CSGD trẻ  và trở  thành chuyên đề  trọng tâm của các trường mầm non trên cả  nước. Thực hiện chỉ  thị  chung của ngành học, dựa vào tình hình thực tế  của  trường, của lớp (tỉ lệ trẻ có những hành vi, thái độ  tham gia bảo vệ môi trường  còn rất ít và không thường xuyên… VD: Khi trẻ ăn bim bim, uống sữa… trẻ sẵn   sàng “tiện tay” ném  xuống sân trường hoặc một nơi nào đó mà không vứt vào  thùng rác…) tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu của mình là:  “Một số biện   pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 ­ 5 tuổi ở trường mầm non”. 2.  Mục đích của đề tài:      Qua đề tài giúp giáo viên hiểu hơn về bản chất và các vấn đề  liên quan đến  môi trường; nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường   nói chung, việc cần thiết phải giáo dục BVMT cho trẻ mầm non nói riêng; từ đó   giáo viên nắm được các kiến thức, nội dung và tìm ra các giải pháp nhằm nâng   cao chất lượng GDBVMT cho trẻ dựa trên tình hình thực tế của trường, lớp, địa  phương. PHẦN THỨ HAI:  NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.  Cơ sở lý luận:      Từ thế  kỷ XIX một số nước đã đưa ra những đạo luật về  môi trường như:   Luật cấm gây ô nhiễm nước sông ở Anh năm 1876; Luật về khói than ở Mỹ năm   1896…      Năm 1972 trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về  “Môi trường và  con người” đã nêu “việc giáo dục môi trường cho thế  hệ  trẻ  cũng như  người  lớn, làm sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện  môi trường”. 3
  4.      Trong chỉ thị số 36/CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính Trị  về  việc “Tăng  cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH­HĐH đất nước” đã đưa ra những giải   pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ BVMT như: “thường xuyên giáo dục, tuyên  truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT”.          Cùng với Luật giáo dục thì Bộ  GD&ĐT đã có QĐ số  3288/QĐ­BGD&ĐT   ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược  giáo dục môi trường trong nhà trường, đó chính là cơ  sở pháp lý quan trọng cho   việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường trong các cơ sở  giáo   dục.      Thủ tướng chính phủ cũng đã ra quyết định số 1336/QĐ­TTg ngày 17/10/2001   phê duyệt đề  án “Đưa nội dung GDBVMT vào hệ  thống giáo dục quốc dân”;  Quyết định số 256/QĐ­TTg ngày 02/12/2003 về chiến lược BVMT quốc gia đến  năm 2010 và định hướng đến năm 2020.          Trong kỳ  họp thứ  8, Quốc hội khóa XI nước CHXHCN Việt Nam ngày  29/11/2005 đã ban hành Luật BVMT và luật có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2006. 1.1. Đặc điểm tâm lý trẻ  mầm non:   Trẻ  lứa tuổi mầm non rất thích hoạt  động, khám phá; thích tiếp xúc với thiên nhiên; dễ hình thành nề nếp, thói quen,   thái độ   ứng xử  đúng đắn, có văn hóa…đó là những yếu tố  thuận lợi cho việc   GDBVMT. 1.2. Kỹ năng của trẻ mầm non:      Trẻ có khả năng tiếp nhận kiến thức, hình thành những kỹ năng ban đầu đơn   giản. Trẻ có được những kỹ năng như: Quan sát, phân tích, so sánh, phân loại các   sự  vật hiện tượng; nhận biết được các mối quan hệ  giữa con người – thiên  nhiên, động vật – thực vật và điều kiện sống của chúng; thích tìm hiểu, khám  phá những điều mới lạ xung quanh…      Học tập của trẻ mầm non còn ở  dạng đơn giản; những tri thức trẻ  lĩnh hội   được là những tri thức tiền khoa học được lượm lặt trong đời sống hàng ngày, ở  4
  5. mọi lúc một cách tự  nhiên, trẻ  học thông qua hoạt động, chia sẻ  với bạn bè,  người lớn…       Lao động của trẻ  là  ở  dạng sơ  đẳng: đó là lao động tự  phục vụ, chăm sóc  thiên nhiên, vệ sinh môi trường…đây là phương tiện quan trọng giúp hình thành   ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường cho trẻ… 1.3. Vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non:          Các chuyên gia giáo dục đã khẳng định GDBVMT là rất cần thiết và cấp  bách, phải bắt đầu ngay từ bậc học mầm non, nó có ý nghĩa to lớn góp phần đặt  nền   móng   ban   đầu   cho   việc   hình   thành   nhân   cách   con   người.   Tuy   nhiên  GDBVMT trong trường mầm non không phải là một môn học riêng biệt mà chỉ  có thể  lồng ghép, tích hợp vào các môn học trong chương trình giáo dục mầm   non và trong các hoạt động hàng ngày của trẻ. Mục tiêu của BVMT chính là vận   dụng những kiến thức, kỹ năng về môi trường vào việc bảo vệ môi trường.         Môi trường  ở  trường mầm non cũng là toàn bộ  môi trường tự    nhiên, môi  trường xã hội và môi trường nhân tạo, đó là môi trường trong phòng lớp học và  môi trường ngoài phòng lớp học ­ nơi trẻ  vui chơi, học tập và sinh hoạt hàng   ngày. Môi trường tự  nhiên  ở  trường mầm non là các yếu tố  thiên nhiên bao  quanh như: đất, nước, cát, sỏi, đá, nhiệt độ, không khí, ánh sáng, nắng, mưa, gió,  bão, cây, hoa, quả, con vật, vườn trường… Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả  những gì con người tạo nên, làm thành tiện nghi trong cuộc sống như: phòng  nhóm, lớp học, các phòng chức năng, bếp ăn, góc chơi, sân chơi, trang thiết bị,  bàn ghế, đồ  dùng đồ  chơi, tranh  ảnh… phục vụ  trẻ  học tập, sinh hoạt và vui  chơi…          Giáo viên cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ  tham gia vào các hoạt   động quan sát, tìm hiểu, khám phá môi trường, phải luôn đáp  ứng nhu cầu ham  thích tò mò, tìm tòi, khám phá của trẻ, từ đó giúp trẻ hiểu biết về môi trường và  mong muốn được tham gia bảo vệ môi trường. 5
  6. 2. Thực trạng:      GDBVMT cho trẻ mầm non được bắt đầu bằng việc cho trẻ làm quen cuộc  sống của các động vật, thực vật gần gũi, quen thuộc xung quanh trẻ; mối quan   hệ  của chúng với MT sống và sự  phụ  thuộc của chúng vào MT. Khi chăm sóc   các con vật và cây cối trẻ  nhận ra được sự  khác nhau trong từng giai đoạn phát  triển, hiểu được rằng lao động của con người sẽ  góp phần tạo nên MT sống  bền vững xung quanh.      Trẻ còn được làm quen với các loại vi sinh vật với ý nghĩa là cơ thể sống, sự  đa dạng   về  nhóm sinh vật có nguồn gốc khác nhau cùng tồn tại trong môi  trường; được làm quen với những cơ sở ban đầu về sinh thái học, củng cố hiểu  biết của trẻ về khả năng tự đánh giá sức khỏe, những thói quen đơn giản trong   cuộc sống của mỗi con người; được làm quen với việc sử  dụng các tài nguyên   thiên nhiên trong hoạt động của con người nhằm hình thành thái độ gìn giữ, tiết   kiệm tài nguyên thiên nhiên.       Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được thực hiện thông qua quá  trình khai thác nội dung các chủ  điểm giáo dục, lồng ghép qua các hoạt động  hàng ngày của trẻ ở trường. 2.1.  Thuận lợi: ­   Là một giáo viên có trình độ  Đại học, được đào tạo chính qui, có tâm huyết  với nghề; luôn yêu nghề, mến trẻ; có kỹ  năng tạo hình, khiếu thẩm mĩ, sáng   tạo…luôn biết tận dụng những nguồn nguyên vật liệu phế  thải tạo ra được   nhiều đồ dùng đồ chơi phục vụ trẻ một cách hiệu quả. ­   Bản thân là giáo viên trực tiếp giảng dạy, có nhiều thời gian tiếp xúc với trẻ.  ­   Trẻ ngoan ngoãn, đi học chuyên cần đạt 95%. ­   Trường lớp được xây dựng rộng rãi, thoáng mát, lớp được đầu tư  các trang   thiết  bị kỹ thuật hiện đại như: Đàn Organ; ti vi đa năng; nhiều giá góc, đồ chơi đẹp… 6
  7. ­   Nhà trường làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, được các cấp, các ngành,   lãnh đạo địa phương, phụ  huynh tin tưởng, quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ  về  nhiều mặt. ­  BGH nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện cho GV học hỏi;   đội ngũ CBGV nhà trường nhiệt tình, tích cực hỗ  trợ, chia sẻ  kinh nghiệm cho   nhau qua các buổi sinh hoạt chuyên môn. ­   Bản thân tiếp thu đầy đủ  chuyên đề  về  Môi trường và GDBVMT cho trẻ,   nhiều năm liền tập luyện cho trẻ  tham gia các hội thi về  BVMT như: “Bé với  BVMT”; “Bé với ATGT và BVMT”; “Bé với tạo hình và BVMT”…. 2.2.  Khó khăn: ­   CSVC còn thiếu nhiều; cảnh quan môi trường, khuôn viên xanh ­ sạch ­ đẹp  chưa hoàn chỉnh, cây xanh đã có nhưng còn hạn chế về chủng loại; có hố  xử lý  rác thải nhưng chưa hợp lý... ­   Trẻ  mầm non nhanh nhớ  mau quên, trẻ  chưa tự  ý thức được việc cần phải   BVMT và vệ sinh môi trường xung quanh… ­   Các nội dung GDBVMT cho trẻ  còn chung chung, mang tính hình thức, chủ  yếu là qua lời nói. ­  Nhận thức của một số phụ huynh về GDBVMT cho trẻ còn chưa đầy đủ  nên   công tác phối kết hợp với gia đình còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự  đồng  nhất... ­  Trình độ nhận thức, kỹ năng sư phạm của giáo viên không đồng đều, chưa tạo  được sự thống nhất trong việc GDBVMT cho trẻ, trong quá trình soạn giảng còn  chưa chú ý đến việc lồng ghép nội dung GDBVMT… ­   Trẻ trong lớp quá đông (36 cháu) ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động  GD. ­   Trẻ chưa biết cách giữ gìn cẩn thận và sử dụng có hiệu quả các ĐDĐC được   làm từ nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu phế thải… 7
  8. ­   Việc lựa chọn nguồn nguyên vật liệu, nơi cất giữ và bảo quản ĐDĐC tự tạo  để đảm bảo sản phẩm có độ bền cao, sử dụng lâu ngày còn hạn chế.      Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trẻ  theo 5 nội dung. Kết quả thu  được theo bảng sau: BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ T Trẻ đạt Nội dung khảo sát Tốt Khá Trung bình Chưa đạt T (Tổng số trẻ được   Số   TL% Số   TL% Số   TL% Số   TL% khảo sát: 36 cháu) trẻ trẻ trẻ trẻ 1 Trẻ   có   những   hiểu   biết  ban đầu về MT sống của  4 11% 7 19,4 10 27,8 15 41,8 con người. % % 2 Trẻ   có   thói   quen   sống  gọn   gàng,   ngăn   nắp,   vệ  5 13,8 8 22,2 8 22,2 15 41,8 sinh cá nhân, vệ  sinh môi  % % % % trường sách sẽ. 3 Trẻ tích cực tham gia vào  các   hoạt   động   bảo   vệ  7 19,4 8 22,2 10 27,8 11 30,6 môi trường, lớp. % % % % 4 Trẻ  biết chia sẻ, hợp tác  với   bạn   bè   và   những  4 11% 7 19,4 9 25% 16 44,6 người   xung   quanh   về  % % công   tác   bảo   vệ   môi  trường 5 Trẻ  có phản  ứng với các  hành   vi   của   con   người  6 16,7 9 25% 9 25% 12 33,3 làm   bẩn   môi   trường   và  % phá hoại môi trường.      Từ thực trạng chất lượng công tác GDBVMT cho trẻ   ở lớp mình phụ  trách   như  vậy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra một số  giải pháp nhằm nâng cao   chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. 3.  Các biện pháp thực hiện: 8
  9.      Trước thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng cao, do sự  gia tăng dân số  quá nhanh, nhân dân còn nghèo khổ và lạc hậu (ở các nước đang phát triển), quá   trình đô thị hóa, khí thải của các công trường, nhà máy thải ra sông, hồ  làm cho  nước bị ô nhiễm và lượng rác thải trong sinh hoạt không được phân loại và xử lý  đúng cách, đúng nơi quy định dẫn đến làm mất vệ  sinh và gây ra ô nhiễm môi  trường. Chính vì vậy để  bảo vệ  môi trường con người phải thực hiện nhiều   hình thức và biện pháp khác nhau, trong đó các biện pháp giáo dục bảo vệ  môi  trường cho trẻ được xem là rất có hiệu quả, nhất là giáo dục bảo vệ môi trường   ở lứa tuổi mầm non vì ở lứa tuổi này dễ hình thành những nề nếp, thói quen tốt  và đúng đắn tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ về sau này.       Việc giáo dục bảo vệ  môi trường trong trường chúng tôi được xác định là  một trong các nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên, liên tục một  cách có hệ thống, linh hoạt thông qua hoạt động hằng ngày nhằm củng cố và hệ  thống hóa các kinh nghiệm mà trẻ  đã tích lũy được trong quá trình trẻ  quan sát,  học tập, vui chơi, lao động, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe,… 3.1. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục BVMT trong các chủ đề:        Giáo dục bảo vệ  môi trường không phải là một môn học mà nó là một nội   dung được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo các chủ đề.   Vì vậy giáo viên cần phải lựa chọn nội dung GDBVMT cho trẻ sao cho phù hợp   với nội dung của từng chủ đề  một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả, tạo ra   mối liên hệ  chặt chẽ  giữa nội dung tích hợp với nội dung chính của từng hoạt   động.        Quá trình khai thác nội dung GDBVMT trong các chủ  điểm giáo dục được  tiến hành theo 3 bước. Cụ thể: * Bước 1: Phân tích chủ đề giáo dục. Qua bước này giáo viên sẽ lựa chọn được  nhứng nội dung GDBVMT sao cho phù hợp khả  năng của trẻ, tình hình thực tế  nhóm (lớp), địa phương, phù hợp chủ đề đang thực hiện. 9
  10. * Bước 2: Xác định nội dung GDBVMT trong mỗi chủ đề. Mức độ  của các nội  dung phụ  thuộc vào đặc trưng của chủ  điểm, đặc điểm hoạt động nhận thức  của trẻ, đảm bảo được tính hợp lý, logic trong quá trình khám phá, có hệ  thống   và vừa sức đối với trẻ.  Ưu tiên lựa chọn các nội dung hấp dẫn, thiết thực, gần   gũi với trẻ… * Bước 3: Cụ thể hóa nội dung GDBVMT vào các hoạt động của trẻ. Dựa vào   các giai đoạn phát triển nhận thức của trẻ để xây dựng các nội dung giáo dục. ­  Giai đoạn I: Khảo sát. Giai đoạn này giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo về  môi trường, tâm thế cho trẻ và điều khiển hợp lý hoạt động thì trẻ sẽ hứng thú,   tích cực, chủ động và tích lũy được nhiều tri thức liên quan đến đối tượng. ­  Giai đoạn II: Hình thành khái niệm. Tri thức do trẻ tự tìm kiếm được trong giai   đoạn khảo sát thường không đầy đủ, đôi khi thiếu chính xác, thiếu tính hệ thống  và tính khái quát. Do vậy cần giúp trẻ có biểu tượng, khái niệm đúng về sự vật   hiện tượng xuang quanh để làm cơ sở tạo ra thái độ đúng của trẻ. ­   Giai đoạn III:  Ứng dụng. Giai đoạn này giúp trẻ  lưu giữ  thông tin lĩnh hội  được về đối tượng. Với ý nghĩa GDBVMT thì đây là cơ hội cho trẻ thể hiện thái  độ đúng với sự vật, hiện tượng, môi trường xung quanh. Ví dụ 1: Chủ đề “ Trường mầm non” nội dung GDBVMT đưa vào dạy trẻ là:  Nhận biết môi trường sạch­ bẩn và sự ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người;   Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường  ở trong trường học; Cách phòng tránh khi  môi trường bị  ô nhiễm; Cách giữ  gìn vệ  sinh trường lớp sạch sẽ; Tiết kiệm   trong tiêu dùng, sinh hoạt; Sắp xếp ĐDĐC gọn gàng, giữ gìn đồ dùng, đồ chơi… Ví dụ  2: Chủ  đề  “Thế  giới thực vật” những nội dung GDBVMT tích hợp cho   trẻ: Trẻ biết được cây cần đất, ánh sáng, nước, không khí, …biết được cây cần   có sự  chăm sóc của con người; biết cây để  làm cảnh, cho bóng mát, cây có tác   dụng điều hoà và làm sạch không khí, cây còn giữ cho đất khỏi xói mòn khi mùa  mưa bảo, làm giảm ô nhiễm môi trường (giảm bụi, tiếng  ồn, giảm nhiệt độ  10
  11. ngày hè…); biết được những nguy hiểm xảy ra khi rừng cây bị tàn phá: Con vật   không có nơi  ở, không có thức ăn, xảy ra lũ lụt, không còn những cây thuốc   quý…Giáo dục trẻ cần phải bảo vệ rừng và cây xanh…  Ví dụ 3: Với Chủ đề “Giao thông” Trẻ biết được nguyên nhân các phương tiện  giao thông làm ô nhiễm MT: Tiếng  ồn của động cơ, tiếng còi xe máy, ô tô, tàu  hoả, máy bay; khói của các loại PTGT thải ra; các phương tiện chở  hàng cồng  kềnh, nhiều PTGT cùng lưu thông gây cản trở, gây tắc nghẽn giao thông, gây ra  tai nạn; trẻ chơi không đúng chỗ cũng làm cản trở giao thông…; biết làm thế nào  để giảm bớt ô nhiễm môi trường do giao thông gây ra (Khuyến khích mọi người  đi bộ và sử dụng các PTGT công cộng; không vứt rác xuống đường, xuống sông  khi đi trên các phương tiện giao thông…) Ví dụ  4: Chủ  đề: “Nước và các hiện tượng tự  nhiên” các nội dung tích hợp   BVMT:      Nước là nguồn tài nguyên quý giá của con người. Hiện nay nguồn nước bị ô  nhiễm do chất thải nhà máy ra sông, kênh rạch không được xử lý, con người vứt   rác bừa bãi… Dạy trẻ biết bản chất của nước là không màu, không mùi, không  vị, nhưng khi  bị ô nhiễm nước chuyển thành màu vàng, xanh hoặc đen, có mùi, …      Cần xử lý nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt hợp lý. Trẻ biết tiết   kiệm nước trong nhà trường và  ở  nhà, không mở  vòi nước chảy bừa bãi. Biết  khóa vòi nước khi xử dụng xong…      Con người với các hiện tượng thiên nhiên : Gió, nắng, mặt trời, hạn hán, bão   lũ…Giải thích cho trẻ biết lợi ích và tác hại của gió, nắng, mưa. Các biện pháp  tránh nắng, tránh gió, tránh mưa. Không ngồi lâu chỗ  có gió lùa, mặc ấm khi có   gió rét. Khi có giông bão phải đóng cửa kín; khi đi dưới trời nắng phải đội mũ,  đeo khẩu trang, không ở ngoài trời lâu, trồng nhiều cây xanh, bóng mát. Đi dưới  trời mưa phải che ô, đội mũ, nón hoặc mặc áo mưa, không chơi đùa dưới trời  11
  12. mưa…để  bảo vệ  sức khỏe. Khi trời mưa to sấm sét không đứng dưới gốc cây  to, không cầm những vật bằng sắt… Cho trẻ biết trời nắng nóng lâu ngày không  có mưa sẽ  dẫn đến hạn hán. Con người, con vật thiếu nước sinh hoạt, thiếu   nước để sản xuất và cây cối thiếu nước sẽ bị khô héo cằn cỗi… *  GDBVMT thông qua các hoạt động học: Trẻ được tham gia nhiều vào các  hoạt động khác nhau: phát triển thể chất, khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen  tác phẩm văn học, tạo hình...mỗi hoạt động trên đều có những đặc trưng riêng   và có ưu thế khác nhau như: trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm, thí  nghiệm, chơi các trò chơi.....với trẻ  để  trẻ  nhận ra đư ợc những việc làm tốt,  không tốt, những hành động đúng –   hành động không đúng kích thích trẻ  suy   nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học.       Chủ điểm:  “Trường mầm non”:  Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Hành  vi đúng – hành vi sai”. Cô làm tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của   một bạn nhỏ  như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé quét nhà, giẫm lên   cỏ, bé đu cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh giành đồ  chơi...Sau đó chia trẻ  làm  hai đội, mỗi đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu   đội khoanh tròn các hành vi đúng và một đội khoanh vào những hành vi sai. Thời   gian sau một bản nhạc đội nào khoanh được đúng theo yêu cầu là chiến thắng       Ở chủ điểm:  “Bản thân”  Mục đích là giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ  gìn vệ  sinh thân thể, vệ  sinh môi trường đối với sức khoẻ  con người. Trẻ  có  hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài  đường... Nhận biết ký hiệu thông thường: nhà vệ  sinh nam, nữ, thùng đựng  rác… và biết tránh một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ  cắm điện, ao, hồ... Ví dụ: Trong giờ KPKH “Năm giác quan của bé” tôi cho trẻ  tự mình khám phá thực hành trải nghiệm về các giác quan và qua đó giáo dục trẻ  biết chăm sóc giữ  gìn đôi mắt (không dụi  tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày  bằng nước và khăn sạch). Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị  12
  13. cận... không cho tay bẩn vào tai, không dùng que ngoáy tai của mình và của bạn,  khi tắm gội chú ý không để nước chui vào tai... biết đội mũ, ô và đeo khẩu trang   khi ra nắng, thường xuyên đánh răng và không ăn những thức ăn quá nóng, quá   lạnh phải giữ vệ sinh răng miệng hàng ngày, tiết kiệm nước khi rửa tay và đánh  răng...      Chủ điểm: “Gia đình”  trẻ phải thấy được sự thay đổi của môi trường xung  quanh nhà của trẻ, nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia  đình. Biết quý trọng giữ  gìn đồ  dùng trong gia đình, cất đồ  dùng, đồ  chơi đúng   chỗ, bỏ  rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ  bừa bãi...có ý thức về  những   điều nên làm như: khoá vòi nước không sử dụng, tắt điện khi ra khỏi phòng.... Ví dụ: Trong tiết KPKH  “Đồ  dùng sử  dụng bằng điện trong gia đình bé”   Ngoài việc cho trẻ  biết tên gọi, chức năng của một số  đồ  dùng sử  dụng bằng  điện trong gia đình như: bóng điện, quạt, tivi, đài, tủ  lạnh,...tôi còn giáo dục trẻ  những kỹ năng sử  dụng đồ  dùng bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm lại có thể  bảo quản đồ  dùng, tránh được những vấn đề  gây cháy nổ  hay nguy hiểm khác.   Bên cạnh đó đưa ra các tình huống nhằm lồng ghép nội dung “sử  dụng năng   lượng tiết kiệm, hiệu quả”  như  khi ra khỏi phòng các con phải làm gì?   (Tắt  đèn, tắt tivi, quạt...)        Trong Chủ điểm: “Giao thông” Tôi cho trẻ xem những video hình ảnh của  các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường… để  cho trẻ  tự  nêu nhận  xét.      Chuẩn bị cho mỗi trẻ 1 bức tranh vẽ các hình ảnh: người đi xe máy không đội  mũ bảo hiểm, ngồi trên xe thò đầu qua cửa sổ, người ngồi sau đứng lên xe đạp,  xe máy, đi xe không đeo kính khẩu trang,  người đi bộ đi trên vỉa hè, đi đúng luật   giao thông, trẻ em đá bóng dưới lòng đường hình ảnh người đi xe máy đeo khẩu   trang, đeo kính đội mũ bảo hiểm... Yêu cầu trẻ đánh dấu những hành động đúng   (sai)  khi tham gia giao thông, tô tranh những phương tiện giao thông bảo vệ môi   13
  14. trường, lựa chọn những lô tô phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi   trường...      Giáo dục trẻ đi đường biết bịt khẩu trang, đội mũ bảo hiểm tránh tai nạn, bố  mẹ  đưa đến trường phải để  xe đúng quy định, không cho xe đi vào sân trường  khói bụi làm ô nhiễm môi trường...      Như vậy việc lồng ghép GDBVMT cho trẻ  thông qua các chủ  đề  rất phong  phú, đa dạng khi chúng ta biết lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức   hiểu biết về chăm sóc cho bản thân, về môi trường xung quanh gần gũi với bản  thân, biết sử  dụng và giữ  gìn đồ  dùng luôn sạch sẽ  gọn gàng, ngăn nắp.... biết  sống vì môi trường, bảo vệ  và giữ  gìn môi trường, có thái độ  đúng với môi   trường một cách tích cực và hiệu quả. 3.2.  Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động khác.           Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được tích hợp trong các hoạt  động giáo dục dưới nhiều hình thức: Theo định hướng của giáo viên, theo ý thích   của trẻ hoặc trong thời gian dạo chơi ngoài trời, tham quan... 3.2.1. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động vui chơi:        Hoạt động chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ. Hoạt động chơi  được tổ  chức đáp  ứng nhu cầu của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung giáo dục,   trong đó có các nội dung GDBVMT. ­  Thông qua các trò chơi phân vai: trẻ được đóng vai và thể hiện các công việc  của người làm công tác bảo vệ  môi trường như: Trồng cây, chăm sóc cây, thu  gom rác, xử  lý các chất thải...Trò chơi bác sĩ, y tá (Khám chữa bệnh cho mọi  người, chú ý giữ  gìn vệ  sinh phòng khám, xử  lý rác thải y tế...); đóng vai cảnh  sát giao thông đi bắt những người vi phạm lấn chiếm vỉa hè, gây mất trật tự  công cộng, đi sai đường, bán hàng rong... giáo dục trẻ luật lệ an toàn giao thông   và bảo vệ môi trường. Trò chơi gia đình: dọn dẹp nhà cửa, lau chùi nền nhà sạch   sẽ, ngăn nắp; quần áo gấp gọn gàng, đi mua đồ dùng gia đình, giữ gìn không rơi  14
  15. vỡ, ... trước khi ăn phải rửa tay, rửa mặt sạch sẽ nhắc nhở mọi người phải tiết   kiệm trong sinh hoạt...Trò chơi nấu ăn: tập làm món ăn đơn giản, chú ý vệ sinh   dụng cụ nhà bếp, tiết kiệm nước... ­  Thông qua các trò chơi học tập: Trẻ tìm hiểu các hiện tượng trong môi trường,   học cách phân loại, so sánh, phân loại các hành vi tốt ­ xấu đối với môi trường,   phân biệt môi trường sạch – bẩn và tìm ra nguyên nhân của chúng; cho trẻ  giải  các câu đố, kể lại các câu chuyện về BVMT... ­  Thông qua các trò chơi vận động: Trẻ mô tả các hành vi BVMT hoặc làm hại   môi trường: động tác cuốc đất, trồng cây, tưới nước, bắt sâu – chặt cây, dẫm lên  cỏ.... ­   Thông qua các trò chơi đóng kịch: Trẻ  thể  hiện nội dung các câu chuyện  BVMT, thể hiện các hành vi có lợi và hành vi có hại cho môi trường... ­   Trò chơi với một số  phương tiện, công nghệ  hiện đại (Máy vi tính...): trẻ  nhận biết môi trường bẩn – sạch, tìm nguyên nhân và cách làm cho môi trường  sạch hơn. 3.2.2. Thông qua tổ chức giờ  ăn, ngủ cho trẻ:      Đây là hoạt động nhằm hình thành các nề nếp thói quen trong sinh hoạt, tôi   thường xuyên nhắc trẻ phải biết kê bàn ngay ngắn, biết lấy khăn, lấy đĩa đựng  cơm rơi vãi và để khăn ướt lau miệng. Sau đó ra xếp hàng rửa tay bằng xà phòng   theo qui trình 7 bước (cô bao quát nhắc nhở trẻ thực hiện đúng thứ tự các bước).  Trong khi ăn cô nhắc trẻ  ăn hết xuất, khi ho phải lấy tay che miệng, không nói  chuyện trong khi ăn. Ăn xong biết xếp bát, thìa vào nơi quy định một cách gọn   gàng, rửa tay, lau miệng...(nhắc nhở trẻ tiết kiệm nước, rửa xong nh ớ v ặn khóa  vòi nước...)      Nhắc trẻ giữ gìn vệ sinh phòng, nhóm sạch sẽ, đi vệ sinh phải đúng nơi quy   định, biết tự lấy gối đi ngủ, ... 3.2.3. Thông qua hoạt động đi dạo,  thăm quan. 15
  16. Trẻ  được quan sát trực tiếp với môi trường tự  nhiên, các địa danh xung  quanh trường, lớp để trẻ cảm nhận về vẻ đẹp của môi trường quanh trẻ và có ý  thức giữ gìn và bảo vệ. Tôi cho trẻ được đi thăm quan môi trường trong lớp học  của   những   lớp   học   khác,   khu   vực   quanh   trường,   thăm   quan   nghĩa   trang   liệt  sĩ,...Yêu cầu trẻ nhận xét về vệ sinh môi trường ở tại nơi đó và tìm ra cách khắc  phục BVMT. 3.2.4.  Thông qua hoạt động lao động.      Nội dung BVMT được thực hiện thông qua hoạt động lao động và được triển  khai, tích hợp vào các chủ đề, gồm các dạng lao động như:  ­   Lao động tự phục vụ (đại tiểu tiện đúng chỗ, để  đồ  dùng cá nhân gọn gàng,  ngăn nắp...) giúp trẻ tự khẳng định được khả năng của mình, góp phần tham gia  vào lao động thực sự  của người lớn và các bạn cùng tuổi nhằm BVMT  ở  gia   đình, trường lớp sạch đẹp... ­  Lao động chăm sóc vật nuôi, cây trồng. ­  Lao động vệ  sinh môi trường (lau chùi đồ  chơi, xếp dọn đồ  dùng ngăn nắp,  nhặt rác, thu gom lá ở sân trường...          Tôi hướng dẫn trẻ  làm một số  đồ  dùng, đồ  chơi từ  nguyên vật liệu thiên  nhiên và vật liệu đã qua sử dụng: Lấy lá chuối làm kèn, nhặt hoa cỏ dại tập gói  hoa tặng cô, tặng mẹ.... Thông qua đó tôi giáo dục trẻ  ý thức tiết kiệm và lao   động sáng tạo. Thường vào các buổi thứ 6 cuối tuần tôi cho trẻ lao động vệ sinh  MTXQ trường lớp như: Tổ  Hoa Hồng: Thu gom rác xung quanh trường (nhặt   giấy vụn, vỏ bimbim, vỏ hộp sữa, thu gom lá bỏ  vào thùng rác...); Tổ  Hoa Cúc:  Lau đồ dùng, đồ chơi, các giá để đồ chơi của lớp; Tổ Hoa Mai: Sắp xếp đồ chơi   đúng nơi quy định... 3.2.5. Thông qua hoạt động nêu gương.          Hoạt động nêu gương cũng là một trong những hoạt động để  tôi tích hợp   GDBVMT, giúp cho trẻ  có ý thức bảo vệ  môi trường một cách hiệu quả  nhất.   16
  17. Vào những buổi nêu gương cô cho trẻ nêu kể những việc làm tốt giúp cô giáo và  các bạn như: biết kê bàn ăn, biết gấp khăn, biết nhặt rác bỏ vào thùng, biết chào  hỏi, khi mắc lỗi với cô hoặc bạn thì biết xin lỗi, khi có người khác giúp đỡ  hay  cho quà thì biết cảm ơn...       Tôi tuyên dương, khích lệ trẻ kịp thời và cho trẻ được cắm cờ, trong đó chú   trọng khen ngợi những trẻ  đã có hành vi bảo vệ  môi trường như: nhặt lá rụng,   quét lớp, kê sạp ngủ, xếp gối, tiết kiệm nước khi  rửa tay, rửa chân....Đồng thời   chú ý phát hiện và nhăc nhở  nhẹ  nhàng những trẻ  có hành vi chưa tốt với môi   trường như: để đồ dùng, đồ chơi chưa gọn gàng, vứt rác bừa bãi... 3.2.6. Thông qua hoạt động lễ hội.      Hoạt động lễ hội có một vị trí rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ bảo vệ  môi trường. Thông qua việc tổ chức lễ hội, hình thành ở trẻ các kỹ năng, thái độ,  hành vi tích cực về các địa danh và môi trường, biết bảo vệ, giữ gìn môi trường  và các địa danh nơi diễn ra lễ hội.  3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong GDBVMT     Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin vào   công tác giảng dạy là vô cùng quan trọng, sử dụng công nghệ thông tin giúp cho   trẻ có tư duy trực tiếp để phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ hứng thú bao nhiêu   thì kết quả đạt được càng lớn. Nếu lựa chọn đề tài để dạy trẻ trên mọi tiết học   mà chỉ có tranh ảnh không thì trẻ rất dễ bị nhàm chán, chất lượng trẻ chắc chắn   sẽ  không cao. Chính vì vậy mà tôi luôn tìm tòi học hỏi cách làm các hiệu  ứng  PowerPoint và sử  dụng “Phần mềm giáo án điện tử” để  cho trẻ  xem các hình  ảnh, đoạn videoclip, chơi trò chơi có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Đây   là phương tiện dạy học hấp dẫn với trẻ nhỏ, có khả  năng truyền tải kiến thức   đối với trẻ một cách sống động, gần gũi, dễ  hiểu. Tôi sưu tầm thêm tranh ảnh,  băng hình có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trong các tiết dạy. Ví dụ:   hình  ảnh các trận bão, lũ lụt, cháy rừng, rác thải đỗ  bừa không đúng nơi quy   17
  18. định, xem các cô lao công đang làm việc, bạn nhặt rác bỏ vào sọt rác, các anh chị  thi đua trồng cây …Nhờ có các trò chơi trên máy vi tính như vậy trẻ của lớp tôi  hứng thú, say mê khám phá, tư  duy phát triển mạnh, sự  ghi nhớ  các hình  ảnh   đúng ­ sai được dễ dàng.  3.4. Tạo các tình huống có vần đề để trẻ xử lý.      Đây là một hoạt động thực hành, giáo viên có thể  đưa ra các tình huống giả  định khác nhau có thể xảy ra trong thực tiễn hoặc tận dụng các tình huống thực   đang xảy ra để  yêu cầu trẻ  giải quyết. Trong khi trò chuyện với trẻ  tôi đưa ra   những tình huống giả định có tính chất BVMT như: ­   Khi thấy vòi nước đang chảy tràn ra ngoài các con sẽ làm gì? Vì sao? ­   Khi đi qua những nơi có nhiều khói, bụi các con phải làm gì? Vì sao? ­   Nếu con thấy bạn ăn bánh xong không bỏ vỏ vào thùng rác mà vứt xuống sân   trường con sẽ làm gì?....          Ngoài   ra tôi   luôn  tận dụng những   tình huống xảy  ra  trong  lớp  học  để  GDBVMT cho trẻ chẳng hạn như: Trong giờ học Tạo hình khi có giấy thủ công  vụn rơi ra lớp; Khi đồ dùng, đồ chơi có bụi bẩn; Trong khi ăn có cơm rơi vãi….      Bên cạnh đó tôi còn sử  dụng tranh  ảnh, câu chuyện có tình huống để  trẻ  tự  suy nghĩ và giải quyết…  3.5. Công tác phối kết hợp cùng phụ huynh.      Tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua buổi đón trả về những hành vi tốt và   chưa tốt của trẻ về BVMT,...nhắc nhở để phụ huynh cùng phối hợp rèn nề nếp  cho trẻ, tuyên truyền cho các bậc phụ  huynh khác cùng ý thức để  bảo vệ  môi  trường...  Qua các buổi họp phụ huynh trao đổi về tầm quan trọng của việc giáo  dục bảo vệ  môi trường, tuyên truyền phụ  huynh rèn nề  nếp cho trẻ   ở nhà như  nhắc trẻ biết chào hỏi người lớn, mời bố mẹ ăn cơm, ăn cơm xong biết lấy tăm,  lấy nước, biết tự gấp quần áo để  vào tủ  của mình, cùng bố  mẹ  tham gia chăm  18
  19. sóc bảo vệ cây cối trong gia đình, giữ gìn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tích cực diệt   ruồi, muỗi...       Vận động phụ huynh tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh...,   hỗ trợ nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ... 3.6. Xây dựng cảnh quan, tạo môi trường cho trẻ  hoạt động BVMT một  cách tích cực, hiệu quả.      Việc  tạo cảnh quan trong lớp học là việc làm vô cùng quan trọng. Cuối tuần  tôi thường tổ chức cho trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng. Nhờ vậy,   qua mỗi lần tổ  chức hoạt động vui chơi trẻ  chơi xong thường thu dọn đồ  chơi  gọn gàng và ngăn nắp đúng các góc qui định… trẻ  cũng hiểu được vệ  sinh lớp  học giúp cho không khí lớp học được trong lành, đồ dùng đồ chơi sạch sẽ không  có bụi bẩn sẽ giúp cho trẻ được khoẻ mạnh…      Đặc biệt tôi xây dựng góc thiên nhiên phong phú, nhiều loại cây gần gũi…để  tạo cho trẻ một không gian xanh, mỗi ngày trẻ đều có thể tự mình chăm sóc cây  xanh, nhổ cỏ, tưới nước, lau lá, bắt sâu.... từ đó giúp trẻ thêm yêu lao động, tạo  cho trẻ sự gần gũi và thân thiết với thế giới tự nhiên. Ở đây trẻ có thể tìm hiểu  về sự phát triển của cây, từ lúc gieo hạt, nảy mầm, cho đến lúc cây phát triển…      Tạo các góc mở  cho trẻ  được hoạt động, được chơi như: “Bé với BVMT”;   “Hành vi đúng – hành vi sai”…          Bên cạnh đó để  tạo cảnh quan sân trường sạch đẹp, tôi thường xuyên tổ  chức cho trẻ nhặt rác, lá cây trong sân trường, làm đồ chơi từ lá cây (Con bướm,   chuồn chuồn, trâu, cá…) trong giờ hoạt động ngoài trời, dạo chơi… 3.7. Tận dụng các nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.       Tôi đã tìm kiếm, lựa chọn những mẫu đồ  dung, đ ̀ ồ  chơi đơn giản được tận   dụng từ nguyên vật liệu phế thải để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ và hướng dẫn   trẻ làm cùng cô. Sưu tâm thêm cac mâu đô ch ̀ ́ ̃ ̀ ơi trên mang internet, sach bao, tap ̣ ́ ́ ̣   ̉ ̀ ̀ ơi trong lớp cho tre. T chi… đê lam phong phu “ngân hang” đô ch ́ ́ ̀ ̉ ừ đó không chỉ  19
  20. ̣ ự hưng thu cho tre khi đ tao s ́ ́ ̉ ược kham pha cac loai nguyên vât liêu và t ́ ́ ́ ̣ ̣ ̣ ự tay minh ̀   lam nh ̀ ưng mon đô ch ̃ ́ ̀ ơi minh thich mà tôi cho răng lam tôt công tac nay thi hiêu ̀ ́ ̀ ̀ ́ ́ ̀ ̀ ̣   ̉ ờ hoc đ qua gi ̣ ược nâng lên rất nhiều. Trẻ  cũng hiểu được việc làm của mình,  của cô giáo đã tiết kiệm được nhiều nguyên vật liệu, góp phần giảm bớt đi   lượng rác thải rất lớn đang thải ra môi trường và cũng là tham gia bảo vệ  môi   trường.   PHẦN THỨ BA: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 1. Kết quả đạt được:  1.1. Về phía trẻ: ­   100% học sinh đã biết bỏ rác đúng nơi quy định.  ­   95% trẻ đạt bé chăm ­ ngoan ­ sạch, biết  đi vệ sinh đúng chỗ, biết tiết kiệm  điện, nước, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh… ­   Trẻ  có thái độ  gần gũi với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, yêu quý  chăm sóc bảo vệ cỏ cây hoa lá trong gia đình, nhà trường và ở khắp mọi nơi, yêu   quý chăm sóc bảo vệ vật nuôi gần gũi, quý trọng bảo vệ đồ  dùng đồ  chơi, biết  lau chùi đồ dùng đồ chơi bị bụi bẩn....  ­   Trẻ biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên không bẻ cành ngắt lá, biết chăm sóc  cây cối, biết làm một số đồ chơi đơn giản từ vật liệu thiên nhiên. ­   Trẻ  tích cực, hào hứng tham gia vào các hoạt động bảo vệ  môi trường một   cách, tự nguyện. Trẻ mong muốn được làm những công việc phù hợp liên quan   đến bảo vệ môi trường.  ­   Trẻ đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia BVMT như: nhắc bố mẹ không đi   xe máy, xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế  liệu, đóng góp tranh ảnh để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí lớp, góc tuyên truyền.  BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ  (Sau khi áp dụng các biện pháp) T Nội dung khảo sát Trẻ đạt 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2