intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác duy trì sĩ số học sinh lớp 5 - 6 tuổi

Chia sẻ: Hòa Phát | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
24
lượt xem
1
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác duy trì sĩ số học sinh lớp 5 - 6 tuổi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm này nhằm nhằm huy động tối đa trẻ đến trường đến lớp, 100% trẻ lứa tuổi 5-6 tuổi ra lớp được chăm sóc dược học chương trình Mầm Non chuẩn bị tâm lý vào trường tiểu học sau này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác duy trì sĩ số học sinh lớp 5 - 6 tuổi

  1. MỤC LỤC Trang I. Phần mở đầu 2 1. Lý do chọn đề tài   2 2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài 3 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu  4 5. Phương pháp nghiên cứu 4­5 Phần II: Phần nội dung 5 1. Cơ sở lý luận 5 ­6 2. Thực trạng 6 a. Thuận lợi và khó khăn 7 b. Thành công và hạn chế 7­8 c. Mặt mạnh và mặt yếu 8­9 d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động 9 e. Phân tích đánh giá các vấn đề  về  thực trạng mà đề  tài đã  9­10 đặt ra 3. Giải pháp biện pháp  11 a. Mục tiêu của giải pháp biện pháp 11 b. Nội dung và cách thức thực  hiện giải pháp biện pháp 11­15 c. Điêu kiện thực hiện giải pháp biện pháp 15­17 d. Môi quan hệ giữa giải pháp và biện pháp 17 e.Kết quả  khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên  17 cứu 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm giá trị khoa học…. 18 III. Kết Luận 18 1.Kết quả đạt được như sau 18 2. Kiến nghị 18­19 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA  ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH LỚP 5 ­6 TUỔI. 1
  2. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:  Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển. Thì vấn đề giáo dục  có vai trò quan trọng chính vì vậy mà trong các văn kiện qua các kỳ  đại hội   Đảng ta đều quan tâm đến yếu tố Giáo dục và Đào tạo trở thành quốc sách hàng  đầu và kiểm định vấn đề Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn xã hội.  Giáo dục Mầm non là một bộ  phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, là  ngành học đầu tiên, là mắt xích đầu tiên, có một vị trí, vai trò quan trọng. Vì nó   tạo tiền đề về vật chất và tinh thần cho trẻ  tiếp thu tốt chương trình giáo dục  phổ thông.  Với những nhiệm vụ trong tâm và cụ thể: Tiếp tục cuộc vận động “Học   tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ  Chí Minh”, cuộc vân động “Mỗi thầy   giáo cô giáo là một tấm gương đạo đức tự  học và sáng tạo”. Triển khai phong  trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”. Thực hiện chủ  đề “Năm học đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.  Giáo dục nhân cách cho trẻ  là một quá trình liên tục, lâu dài và chịu tác  động của nhiều yếu tố như: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội...Quá trình   giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm non nói riêng đòi hỏi sự  phối kết hợp  của nhiều lực lượng đoàn thể trong xã hội. Với vốn sống ít ỏi, sự phát triển thể  chất chưa hoàn thiện, trẻ em là nhóm đối tượng đòi hỏi cần được chăm sóc thể  chất và giáo dục định hướng phát triển nhân cách đúng đắn. Thực tiễn và lý   luận giáo dục đã chỉ  ra: Sự  nhất quán giữa giáo dục gia đình và giáo dục nhà  trường, xã hội được xem là nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có   điều kiện đạt hiệu quả tốt nhất. Qua điều tra, thực trạng phối hợp giữa các trường mầm non  ở  huyện  Krông Ana tỉnh Đăk Lăk với các bậc phụ huynh còn gặp rất nhiều khó khăn như:   2
  3. Có nhiều thông tin dư luận không hài lòng với chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ  và nhất là hiện nay luôn có những dư  luận xấu về  ngành mầm non tung trên  mạng về  thái độ  của giáo viên làm công tác giáo dục chưa tốt...Phụ  huynh có  nhiều phản  ứng tiêu cực chính vì thế  cũng gây ra nhiều trăn trở  lo lắng.  Nuôi  dạy trẻ ở lứa tuổi mầm non là công việc hết sức vất vả và khó khăn. Từ  những trăn trở  lo lắng tôi đã nghiên cứu đề  tài “Biện pháp phối hợp  giữa nhà trường và gia đình trong công tác duy trì sĩ số học sinh”. Chú trọng công   tác tuyền truyền về Giáo dục Mầm non để  huy động mọi nguồn lực vào công   tác phát triển Giáo dục Mầm non. Để  những thế  hệ  trẻ mầm non của chúng ta  ngày cành được đảm bảo phát triển hài hoà đủ  5 mặt: Đức – Trí ­ Thể  ­ Mỹ  ­   Tình cảm, xã hội.  2. Mục tiêu , nhiệm vụ của đề tài : a. Mục tiêu của đề tài:   ­ Mục tiêu là nhằm huy động tối đa trẻ đến trường đến lớp, 100% trẻ lứa   tuổi 5­6 tuổi ra lớp được chăm sóc dược học chương trình Mầm Non chuẩn bị  tâm lý vào trường tiểu học sau này.  ­ Biết hoà nhập với bạn cùng lứa tuổi và mạnh dạn giao tiếp với nhau và  phát triển vốn từ tiếng việt cho trẻ.  ­ Cô giáo là người dẫn dắt trẻ đến tuyên truyền tới bậc phụ huynh giúp họ  biết được tầm quan trọng của việc học mầm non, trên lớp luôn tạo bầu lhông  khí vui tươi để trẻ ham thích tới trường lớp. Góp phần cho trẻ chuẩn bị vào lớp   1 phổ thông  3. Đối tượng nghiên cứu : ­ “Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác   duy trì sĩ số  trẻ” tại vùng đặc biệt khó khăn. Nên nghiên cứu toàn bộ  học sinh  3
  4. lớp 5 – 6 tuổi phân hiệu Buôn kuốp, Phụ  huynh Buôn kuốp, Trường mầm non   Sơn Ca. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu :  ­ Bản  thân xác định được tầm quan trọng của việc duy trì sĩ số động viên  trẻ đi học đều là nhiệm vụ quan trọng vì muốn trẻ phát triển tốt thì đầu tiên trẻ  phải đến trường lớp được học các môn của trẻ  mầm non thì trẻ  mới có kiến  thức cho sau này. Nên nghiên cứu toàn bộ  trẻ  lớp lá 5 – 6 tuổi phân hiệu Buôn   kuốp, phụ huynh Buôn kuốp.  ­ Luôn theo dõi quá trình học tập của các cháu từ  đầu năm học cho đến  nay, để  thấy và kịp thời giúp các cháu hay nghỉ  học do  ốm đâu hay là lý do nào  đó không chính đáng mà trẻ  cũng nghỉ  học chơi  ở  nhà theo gia đình lên nương  rẫy. Mà người lớn đó là cha mẹ vì không quan tâm tới việc học của con nên cho   con nghỉ học tự do chiều ý con nên gây ảnh hưởng đến việc học của trẻ. Vì thế  giúp trẻ còn chậm để tạo sự cân bằng trong lớp học là động viên trẻ đi học đều   và giúp phụ  huynh thấy được việc cho con đi học là cần thiết nhất cho con để  trẻ phát triển tốt nhất hoà nhập với bạn trong lứa tuổi.  5. Phương pháp nghiên cứu :  a. Phương pháp tuyên truyền :  ­ Đi tuyên truyền từng nhà, kết hợp với các ban ngành thôn buôn thông qua   cuộc họp thôn buôn để tuyên truyền, kết hợp với hội cha mẹ học sinh để qua đó   họ thông báo tới các bậc phụ huynh được biết. ­ Tuyên truyền thông qua các hội thi như  hội thi “Bé với an toàn giao  thông” “Bé với dinh dưỡng trẻ thơ” “Hội thể thao của bé” b. Phương pháp điều tra thực tiễn :  ­ Thấy được hoàn cảnh gia đình của từng trẻ, thăm hỏi gia đình có hoàn   cảnh khó khăn đến tận nơi động viên trẻ và trao đổi với phụ  huynh để  giúp họ  4
  5. thấy được việc học tập là rất quan trong đối với trẻ, bản thân là giáo viên địa   bàn nên hiểu rõ tình hình của phụ huynh tại nơi đây.  ­ Thông qua đi điều tra độ tuổi trẻ mẫu giáo. c. Phương pháp giải thích so sánh:  ­ Giải thích cho phụ huynh hiểu về nội dung giáo dục mầm non không chỉ  là đến trường để  hát múa mà thôi rồi về mà trẻ thông qua chơi mà học học mà   chơi, qua chơi đó trẻ được học những điều qua trò chơi và trẻ được học tất cả  các môn như “Tạo hình, âm nhạc, thể dục kỹ năng, làm quen với toán, làm quen  văn học, khám phá khoa học, làm quen chữ cái”  d. Phương pháp động viên khích lệ : ­ Thường xuyên động viên khích lệ  trẻ  thì trẻ  sẽ  hưng phấn và là động   lực thúc đẩy trẻ thích đi học hàng ngày. ­ Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về việc học tập của các cháu cho   phụ  huynh được biết từ  đó họ  thấy sự  gắn bó quan tâm giữa cô giáo và phụ  huynh nhằm đưa công tác dạy và học ngày càng đi lên. e. Phương pháp thống kê kết quả : ­ Thông qua cuộc trao đổi và cho phụ huynh thấy điểm khác giữa trẻ được   đến lớp và trẻ ở nhà không đi học, trẻ đi học mạnh dạn hơn, nhanh nhẹn hơn và  biết nhiều điều như hát, múa, đọc thơ và tham gia các trò chơi. Trẻ không được   đi học thì có vẻ nhút nhát và không dám giao tiếp với ai và ít biết tham gia các   trò chơi cho lứa tuổi mầm non. II. NỘI DUNG : 1. Cơ sở lí luận: ­ Dựa theo sự  chỉ  đạo của Đảng mà hiện nay đang thực hiện cuộc vận  động “Trường học thân thiện – học sinh tích cực” “Nâng cao chất lượng quản lý   và chất lượng giảng dạy”, thực hiện phong trào “Học tập và làm theo tấm   5
  6. gương đạo đức Hồ  Chí Minh” Nên bản thân luôn cố  gắng để  thực hiện tốt  được công tác duy trì sĩ số học sinh và công tác giảng dạy lên hàng đầu mà đòi   hỏi đó là chất lượng học tập của trẻ,  trước khi thực hiện đề tài này bản thân đã  cần nhắc thật kỹ vì thấy được sự hạn chế về sự hiểu biết của con em đồng bào   dân tộc thiểu số, nên bản thân tôi đã đi động viên phụ huynh để phụ huynh thấy  việc đưa con em đi học là cần thiết. Từ đó họ đã đến đăng ký cho con nhập học.  Trẻ lớn lên chịu  ảnh hưởng của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.   Trong đó môi trường giáo dục đặc biệt quan trọng trong những năm đầu đời của  trẻ  chính là giáo dục gia đình và nhà trường. Cô giáo luôn cố  gắng giữa mối   quan hệ tốt giữa gia đình và nhà trường nhằm đem lại kết quả thu hút 100% trẻ  5 tuổi được tới trường tới lớp và sáng tạo khi giảng dạy không nên dạy rập   khuôn mà phải dựa theo tình hình của lớp và trình độ  của các cháu, các cháu  hứng thú thì tiết học mới đạt kết quả mong muốn. Nên bản thân thấy được tầm   quan trọng của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình. 2. Thực trạng  Bản thân tôi là người trực tiếp, giao tiếp, phối hợp thường xuyên với gia  đình của trẻ và trực tiếp được đứng lớp(5 ­ 6 tuổi) nên bản thân thấy tỉ lệ trẻ đi  học chuyên cần còn hạn chế, sự tiếp thu, nhận biết về các môn học của trẻ học   sinh dân tộc thiểu số  còn thấp, khả  năng ghi nhớ  của trẻ  còn hạn chế. Vì vậy   tôi thường xuyên chú trọng về các hoạt động dạy chữ cái, văn học, toán cho trẻ  trong tiết học và được làm quen mọi lúc mọi nơi và được lồng ghép với môn   học khác và tạo môi trường thân thiện với trẻ tạo bầu không khí lớp học phấn   khởi vui tươi. Nên trong quá trình thực hiện tôi gặp một số  thuận lợi và khó  khăn sau:  2.1. Thuận lợi, khó khăn: * Thuận lợi:  6
  7. ­ Được sự  quan tâm chỉ  đạo của Ban giám hiệu nhà trường, bản thân yêu  nghề mến trẻ. ­ Hình thành ở trẻ lòng yêu thích đi học, ham thích học hỏi tiếng việt, ham  thích tới trường tới lớp, thích trao đổi bằng tiếng việt và tạo cho trẻ  lòng can   đảm không nhút nhát, trẻ mạnh dạn hơn ­ Với xu thế của xã hội mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh trở nên   gần gũi và cởi mở hơn, những cuộc trao đổi vào giờ đón trẻ trả trẻ trở nên thoải  mái phụ  huynh không còn e dè mà mạnh dạn hỏi về  tình hình học tập của các  cháu và nói về đặc điểm tâm lý của trẻ ở nhà cho cô giáo biết. Phụ huynh quan   tâm đến giáo dục mầm non hơn và đã đưa con em đi học đều.  * Khó khăn: ­ Dân chủ  yếu làm nông nghiệp làm ruộng rẫy là chính, đời sống còn  nhiều khó khăn mặc dù quan tâm đến việc học tập của con em mình ­ Việc thực hiện phối hợp giữa gia đình và nhà trường chưa thường xuyên  đôi khi cả học kỳ không gặp phụ huynh lần nào bởi phụ huynh thường cho các  em đi học theo anh chị hoặc cho tự con đi học một mình. Có khi đưa con đi học  nhưng rồi phụ  huynh quay về  và không hề  trao đổi với cô giáo, đôi khi phụ  huynh không tham gia cuộc họp phụ huynh nên không nắm được thông tin từ cô  tới phụ huynh và từ phụ huynh tới cô giáo. ­ Trẻ đi học một mình nữa chừng và trốn đi chơi mà phụ huynh không hề  biết đến con em mình đi học hay là không. ­ Từ những kinh nghiệm bản thân đã thực hiện trong công tác giảng dạy   và tuyên truyền và được học hỏi kinh nghiệm  ở  các đồng nghiệp tôi đã tìm ra  một số biện pháp để thành công hơn. 2.2 Thành công, hạn chế:  * Thành công:  7
  8. ­ Bản thân đã xác định được vai trò của người giáo viên và nhiệm vụ của  mình là thực hiện tốt công tác chủ  nhiệm và công tác giảng dạy luôn chuẩn bị  trước khi lên lớp mỗi tiết dạy tất cả các môn học và phải chuẩn bị làm sao cho   phù hợp và trình độ  của trẻ  lớp mình, phải nghỉ  làm sao để  thu hút trẻ  đến   trường đến lớp và cảm thấy rất ham thích tới trường. ­ Chuẩn bị đồ dùng đẹp đủ và thu hút trẻ tích cực vào hoạt động tạo sự an   tâm tới phụ  huynh khi gửi con tới trường.  Động viên khích lệ  trẻ  mỗi buổi  chiều được cắm cờ và bằng hoa bé ngoan cuối tuần được mang về nhà khoe với   bố  mẹ, thăm hỏi trẻ  tận nhà khi thấy trẻ  không thấy tới lớp từ  đó phụ  huynh  thấy được sự  quan tâm của cô giáo tới con em họ, giúp trẻ  còn yếu để  tạo sự  cân bằng trong lớp học . ­ Phối hợp với phụ huynh rất tốt và nay phụ huynh đưa con em đi học đều * Hạn chế: ­ Bên cạnh thành công đạt được thì cũng có những mặt còn thiếu xót. Khả  năng sáng tạo của giáo viên cũng còn hạn chế, còn vài trẻ  chưa thật sự  ham   muốn đi học có gia đình có việc gì thì nghỉ không có lý do. ­ Vài phụ  huynh không quan tâm tới việc học tập của con em mình chưa  thật sự  trao đổi với cô giáo về tình hình con em mình học ở lớp để  cùng thống   nhất giáo dục trẻ tốt hơn  ­ Các cháu còn hạn chế hiểu tiếng việt phổ thông .  2.3. Mặt mạnh, mặt yếu: * Mặt mạnh: ­  Xác định được tầm quan trọng của việc đi học là rất cần thiết và hiện  nay các cháu vùng cao, vùng khó khăn được hổ trợ tiền ăn trưa 120 ngàn trong 1  tháng nên thu hút trẻ 5 tuổi 100% đều được tới lớp và trẻ tích cực trong giờ học,   phụ huynh an tâm gửi con đi học ­ Đa số trẻ thích đi học mặc cho trời mưa hay gió lạnh trẻ vẫn tới lớp 8
  9. ­ Trẻ  mạnh dạn tham gia mọi hoạt động và cùng giúp cô lao động nhẹ.  Trẻ có thói quen lễ phép với gia đình và cô giáo. * Mặt yếu: ­ Một số  phụ  huynh không quan tâm tới việc học tập của con em không   biết con hôm nay học gì biết gì. Những trẻ không chú ý trong tiết học không tập   trung và lơ là  ­ Bản thân chưa thật sự sáng tạo, chưa có thời gian trao đổi thường xuyên   với phụ huynh do lý do công việc. 2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:  ­ Từ sự chỉ đạo nhiệt tình của Ban giám hiệu nhà trường và sự nhiệt tình   của bản thân trong công tác tuyên truyền và giảng dạy đã đem lại kết quả  tốt  đẹp khi thực hiện đề tài này. Bản thân luôn tâm huyết với nghề. ­ Các phụ huynh luôn quan tâm với nhau cùng nhau động viên đưa con em   đến trường và so sánh với nhau điểm khác giữa trẻ  được đi học thường xuyên  và trẻ không đi học thường xuyên, từ đó họ cùng đôn đốc con em đi học để con   mình cũng kịp con bạn. ­ Do các cơ quan ban ngành quan tâm tới giáo dục mầm non ­ Nhưng cũng có sự hạn chế yếu kém của nó đó là trình độ  của bản thân   cũng còn hạn chế, thời gian dành cho cuộc trò chuyện với phụ  huynh không  được nhiều cho lắm. Đôi khi do công việc nên thời gian đến động viên phụ  huynh ở từng nhà không có chỉ chọn một số nhà cần thiết mà thôi. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra. ­ Qua quá trình nghiên cứu đề  tài bản thân rất quan tâm về  trình độ  của   trẻ  vì trẻ  100% là con em đồng bào dân tộc thiểu số  trẻ  ít tiếp xúc với môi   trường ngoài và tiếp xúc ngôn ngữ  mới đó là tiếng việt, mà trẻ  thì lại còn nhỏ  chưa biết gì đôi khi cũng  ảnh hưởng đến khả  năng phát âm của trẻ. Nên bản   thân cố gắng cùng phụ  huynh trẻ để  tháo gỡ  khó khăn đó là tích cực động viên   9
  10. khích lệ trẻ dùng những lời hay để nói cho trẻ hiểu đi học là thích nhất có bạn   có bè có nhiều đồ  chơi, được tham gia các hoạt động cùng các bạn, tạo  ấn   tượng tốt đối với trẻ  và gia đình, vừa phát triển ở  trẻ  sự  mạnh dạn tự  tin, hoà   nhập cùng các bạn cùng lứa tuổi. Nên bản thân luôn cố  gắng trong giảng dạy  luôn tạo bầu không khí vui tưới để  trẻ  cảm thấy mối ngày đến trường là một   ngày vui. ­ Từ các cuộc thi thu hút đông đảo phụ huynh tham gia để phụ huynh thấy  được con mình đến trường học được những gì và biết được những gì. Những   phụ  huynh mà có con em được tham gia hội thi thì rất phấn khởi vì thấy được  con mình có khả năng và được cô giáo chọn để tham hội thi, tham các phong trào  của lớp từ đó họ luôn quan tâm tới con cái của mình, luôn gặp gỡ trao đổi với cô  giáo về  tình hình học tập của con mình, tạo sự  gắn kết giữa cô giáo và phụ  huynh, phụ huynh an tâm gửi gắm con mình đến trường, an tâm mỗi khi đi làm   vì con đã ở trường bên cô giáo. ­ Thường xuyên thăm hỏi những cháu có hoàn cảnh khó khăn tặng quà tuy  nhỏ nhưng đầy tình thương như là quyên góp quần áo cũ để tặng gia đình và trẻ  có hoàn cảnh khó khăn, tăng tranh truyện… ­ Khắc phục những gì chưa làm được. Quan tâm tới cháu học còn chậm   bằng cách thường xuyên trò chuyện với trẻ và giúp trẻ nếu trẻ chưa giải quyết   được vấn đề  trong giờ  học và trong tiết học điều đầu tiên quan tâm đến đó là  phải đủ đồ dùng cho từng trẻ vì trẻ trực quan qua tranh ảnh là chủ yếu, nếu trẻ  có tranh ảnh thì trẻ hứng thú và tích cực trong giờ học. Thường xuyên động viên   khích lệ trẻ bằng cách phát hoa bé ngoan vào cuối tuần cho trẻ mang về nhà để  phụ huynh thấy được con mình học được được cô giáo khen. ­ Từ những gì đã làm được và những gì chưa làm được, bản thân luôn cố  gắng khắc phục những mặt chưa làm được để chọn cho mình hướng khắc phục  đó là luôn quan tâm và đến thăm hỏi tại gia đình trẻ để hiểu được tâm tư, hoàn  10
  11. cảnh gia đình đó để  cùng nhau trao đổi trò chuyện, cùng giúp gia đình đó hiểu  tầm quan trọng của việc học tập của con em. Từ đó mà nay lớp học của tôi sĩ  số  luôn đảm bảo, trẻ  hứng thú đến trường, phụ  huynh an tâm đưa con em đi   học. Bản thân luôn duy trì những gì đã làm được trong những năm công tác tiếp   theo để đưa chất lượng giảng dạy ngày một đi lên hơn.  3. Giải pháp, biện pháp :  3.1 Mục tiêu của giải pháp,  biện pháp: Mục tiêu của đề tài là nhằm thu hút 100% trẻ 5 tuổi ra lớp, giúp trẻ  đầu   tiên là được tham gia các hoạt động môn học ở  lớp trẻ  được học chương trình   mầm non phát âm chuẩn 29 chữ cái, chữ số và tham gia các hoạt động.   Là người giáo viên với sự nhiệt huyết yêu nghề mến trẻ, thì phải dạy trẻ  hết sức nhiệt tình, luôn quan tâm tới trẻ thì mới đạt kết quả trên trẻ. Bản thân tận dụng không gian lớp học  ở  các góc chơi có gắn chữ  cái đã   học hoặc chuẩn bị  làm quen sắp tới, có thể  gắn trên tranh  ảnh con vật đồ  vật  đồ chơi vừa tạo cho lớp học thêm đẹp, vừa gây sự chú ý cho trẻ qua đó trẻ vừa   được học và thấy cái khác so với ở nhà ở lớp được hoà nhập được vui chơi. Không những như  thế  trẻ  còn được quan tâm giúp đỡ  về  mặt tâm lý đi  học không phải sợ  gì nếu không biết thì cố  gắng sẽ  được mà thôi, được động  viên cuối ngày như cắm cờ bé ngoan, phát hoa bé ngoan cuối tuần. Với giải pháp, biện pháp trên thì sẽ  mang lại kết quả  như  mong muốn trẻ  đi  học đều 100%, rất phấn khởi khi tới lớp, lễ phép với cô giáo có thói quen chào   hỏi.  3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: Bản thân tôi xác định tầm quan trọng của việc trẻ em trong độ  tuổi mầm   non tới lớp nhất lại là trẻ 5 tuổi vì trẻ còn phải thi bàn giao chất lượng cuối học  kỳ  đó cũng là quyết định trong quá trình học tập của trẻ, nên tôi luôn không   ngừng động viên nhắc nhở trẻ là phải đi học đừng đi theo bố mẹ đi nương rẫy   11
  12. như  các em nhỏ vì các con lớn hơn các em rồi mà muốn trở  thành người có ích  làm bố mẹ vui thì phải cố gắng chăm học, do vậy tôi không ngừng học hỏi bạn   bè, đồng nghiệp, về  kỹ  năng làm công tác chủ  nhiệm học nâng cao nghiệp vụ  chuyên môn luôn bám sát sự  chỉ  đạo của nhà trường, xây dựng kế  hoạch hoạt   động cho lớp, dùng hình thức lồng ghép giáo dục động viên khích lệ  trẻ  là chủ  yếu và không nên chê trẻ vào các môn khác như: Toán, môi trường xung quanh,   tạo hình, âm nhạc, văn học, thể dục.     Muốn dạy một tiết học thành công thì người giáo viên phải có phương  pháp hấp dẫn mang tính nghệ  thuật để  trẻ  truyền lại sự  hứng thú và say mê,  muốn đuợc như vậy trước hết cô giáo phải luôn thay đổi cách thức làm đồ dùng,   đồ  chơi như và trong tiết học dù trẻ  chưa làm được thì cô vẫn khích lệ  trẻ, và   quan tâm thăm hỏi trẻ nếu không thấy trẻ  nào đó đi học nhắn với trẻ nào gần   nhà hỏi thăm, làm đồ chơi đẹp đủ cho số lượng trẻ của lớp. * Biện pháp tuyên truyền:  ­ Bản thân là giáo viên tại địa bàn nên biết được địa chỉ gia đình,có lợi khi   muốn gặp và trao đổi với phụ huynh đó là đi tuyên truyền từng nhà, kết hợp với   các ban ngành thôn buôn thông qua cuộc họp thôn buôn để tuyên truyền, kết hợp   với hội cha mẹ  học sinh để  qua đó họ  thông báo tới các bậc phụ  huynh được  biết. ­ Tuyên truyền thông qua các hội thi như  hội thi “Bé với an toàn giao  thông” “Bé với dinh dưỡng trẻ thơ” “Hội thể thao của bé” ­ Gặp gỡ  trao đỏi với phụ  huynh qua các buổi đón và trả  trẻ  hàng ngày.  Qua cuộc họp phụ huynh đầu năm để  lắng nghe những trăn trở  của họ về  việc   đưa con em đi học từ đó cùng tìm cách tháo gỡ trăn trở đó. Ví dụ: Cháu H’ Zi Na hay nghỉ  học vào buổi chiều. Bản thân thấy nếu   cháu cứ  nghỉ  như  vậy thì rất  ảnh hưởng tới việc học tập của cháu nên đã đến  nhà cùng vài trẻ nữa để rủ cháu Zi Na đi học và gặp trao đổi với phụ huynh cần  12
  13. đưa cháu đi học đều hơn và được biết là cháu không đi học vì không có tiền cầm  trên tay vì gia đình cũng hoàn cảnh nên không có tiền cho cháu đem đi học, cô   giáo và các bạn động viên cháu không nên làm như  thế  nếu thương bố  mẹ  thì   nên đi học và bản thân khi đi học giỏi rồi thì sau này có tiền giúp đỡ bố mẹ ­ Qua những lần như  vậy cháu đã đi học đều và mỗi ngày mang cơm tới   trường ăn cùng các bạn và trẻ có tiến bộ trong giờ học. * Biện pháp điều tra thực tiễn: ­ Hàng ngày các cháu đến trường lớp được tham gia dầy đủ các hoạt động   có đủ đồ dùng phục vụ cho trẻ. ­ Thấy được hoàn cảnh gia đình của từng trẻ, thăm hỏi gia đình có hoàn   cảnh khó khăn đến tận nơi động viên trẻ và trao đổi với phụ  huynh để  giúp họ  thấy được việc học tập là rất quan trong đối với trẻ, bản thân là giáo viên địa   bàn nên hiểu rõ tình hình của phụ huynh tại nơi đây.  ­ Đặc biệt qua môn học trẻ  được trải nghiệm được quan sát được nhận  biết, từ đó trẻ  bắt đầu có ấn tượng về việc đi học, hôm nay đi rồi mai thích đi  nữa và cứ thế mỗi ngày. Cho phụ huynh nhìn thấy qua các hoạt động của trẻ qua   các kỹ  năng hàng ngày của trẻ, đi học biết chào biết hát múa, đọc thơ  cho mọi   người trong gia đình nghe, biết giúp mẹ  trong công việc nhỏ, kể  ra nhiều việc  được học được thấy ở trên lớp. ­ Tổ chức các buổi ngày hội của bé như  hội thể thao, hội biểu diễn chào   mừng ngày 20/11, 19/5..và mời phụ huynh tham dự để họ thấy được con em tới  lớp là làm gì? được học những gì? ­ Động viện trẻ  hàng ngày mọi lúc mọi nơi lồng ghép qua các môn học.  Tạo bầu không khí trẻ ham thích tới trường tới lớp. Ví dụ: Đi điều tra từng hộ gia đình để động viên phụ huynh quan tâm việc   học của con em mình.  * Biện pháp giải thích so sánh:  13
  14. ­ Giải thích cho phụ huynh hiểu về nội dung giáo dục mầm non không chỉ  là đến trường để  hát múa mà thôi rồi về  mà trẻ  thông qua chơi mà học học mà  chơi, qua chơi đó trẻ được học những điều qua trò chơi và trẻ  được học tất cả  các môn như “Tạo hình, âm nhạc, thể dục kỹ năng, làm quen với toán, làm quen   văn học, khám phá khoa học, làm quen chữ cái” ở nhà bố mẹ không dạy các môn  học đó nên cho trẻ đi học là cần thiết. Muốn con em được phát triển hài hoà về  các mặt thì chỉ  có đi học, người giảng dạy chính là cô giáo mầm non, phải có  niềm tin ở cô giáo và không nghe dư luận bàn tán. Ví dụ: cháu đi học đều thì có vốn hiểu biết nhanh hơn bạn không đi học  đều như  cháu H’ Nel và cháu Y­ Ngọc, qua đó cho thấy cháu H’Nel ham thích   học và hăng say phát biểu bài. ­ Giải thích cho trẻ  hiểu về  việc học tập của trẻ là rất thiết đi học nếu   học giỏi được giấy khen được mọi người khen và ngưỡng mộ.  * Biện pháp động viên khích lệ: ­ Theo đặc điểm tình hình của lớp là 100% là con em dân tộc thiểu số việc  tiếp xúc với bài học với ngôn ngũư  tiếng việt là rất khó khăn nên đôi khi vì   không hiểu tiếng việt mà trẻ  cảm thấy chán không thích đi học. Nhưng trong   tiết học sử  dụng đồ  dùng trực quan là tốt nhất vì trẻ  được quan sát và thấy   được tranh  ảnh, vật thật được học được làm quen được chơi các hoạt động,  được mô phỏng công việc của người lớn được trải nghiệm thì trẻ  sẽ  hứng thú  tích cực tham gia hoạt động. Qua đó cô giáo động viên khích lệ  trẻ  thì trẻ  sẽ  hưng phấn và là động lực thúc đẩy trẻ thích đi học hàng ngày. ­ Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về việc học tập của các cháu cho   phụ  huynh được biết từ  đó họ  thấy sự  gắn bó quan tâm giữa cô giáo và phụ  huynh nhằm đưa công tác dạy và học ngày càng đi lên. 14
  15. Ví dụ: Hàng ngày cháu đi học thì cô khích lệ cho lớp tuyên dương bạn nào  đi học đều thì trẻ đó cảm thấy mình thật có ý nghĩa các bạn và cô giáo luôn quan   tâm tới mình. * Biện pháp thống kê kết quả: ­ Thông qua cuộc trao đổi và cho phụ huynh thấy điểm khác giữa trẻ được   đến lớp và trẻ ở nhà không đi học, trẻ đi học mạnh dạn hơn, nhanh nhẹn hơn và  biết nhiều điều như hát, múa, đọc thơ và tham gia các trò chơi. Trẻ không được   đi học thì có vẻ nhút nhát, không dám giao tiếp với ai và ít biết tham gia các trò   chơi cho lứa tuổi mầm non. Ví dụ: cháu H’Hiền và cháu H’Un cháu H’Un đi học rất đều và về nhà bố  mẹ  quan tâm tới cháu thường xuyên hỏi bài cháu học những gì  ở  lớp thì thấy   cháu H’ Un học được, mạnh dạn hơn thường xuyên phát biểu bài, biết giúp cô   trong công việc nhẹ. Cháu H’Hiền bố mẹ ít quan tâm hơn về nhà không hỏi bài  cháu cháu học gì cũng mặc kệ thì thấy được sự khác rõ về hai cháu này, kết quả  cháu H’ Un học được hơn cháu H’ Hiền ­ Bản thân thấy là một cô giáo mầm non thì luôn tạo niềm tin với phụ  huynh và từng trẻ ­ Phối kết hợp cùng phụ  huynh để  đưa chất lượng trẻ  trong vùng khó  khăn đi học đều đặn hơn. ­  Do  vậy  tôi  phải   thường  xuyên  hoà   mình  cùng   trẻ  cùng  vui  chơi  trò   chuyện với trẻ như là người bạn của trẻ. Luôn thấu hiểu gia đình trẻ. 3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp: Tôi chọn ra 2 nhóm trẻ để  tìm hiểu và thu thập thông tin như  sau: phỏng  vấn trẻ xem có thích đi học không?, đi học có những gì? Và được biết những gì?  ­ Nhóm học được hay hăng say phát biểu bài. ­ Nhóm học trầm ít tham gia phát biểu bài. 15
  16. ­ Kết quả  nhóm học được hay hăng say phát biểu bài trả  lời đi học có   nhiều đồ chơi có bạn bè được học được vui chơi và dược cắm cờ được khen và  làm bố mẹ vui lòng. ­ Nhóm học trầm ít tham gia phát biểu bài vì không biết học nên sợ  xấu   hổ với các bạn về nhà bố mẹ la vì không học giỏi. ­ Từ  kết quả  thu thập được thì tôi thấy rằng trẻ  đều thích đi học nhưng  đôi khi trẻ chưa mạnh dạn tự tin nên chưa sẳn sàng hòa nhập mình cùng các bạn   trong lứa sợ bạn chê cô chê. Từ đó tô luôn  sáng tạo và tạo tình huống hứng thú  cho cho để lôi cuốn trẻ tập trung vào tiết dạy. Thật sự quan tâm tới trẻ, tạo bầu   không khí thân thiện với trẻ, niềm nở với trẻ. Động viên trẻ đi học đều, chuẩn  bị đầy đủ đồ dùng phục vụ cho tiết dạy. Thường xuyên cho trẻ được làm quen mọi lúc mọi nơi chơi các trò chơi có  mục đích và cho bạn học giỏi kèm giúp bạn chưa học được và tạo sự mạnh dạn   cho trẻ.  Cô giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tổ chức lồng ghép tích hợp  các môn học một cách hợp lý để trẻ phát huy hứng thú khuyến kích trẻ tích cực  chủ  động say mê trong tiết học. Ngoài việc dẫn dắt bằng ngôn ngữ  thì sự  linh  hoạt sang tạo  ứng xử  nhanh của cô giáo trong một tiết dạy mang lại sự  chú ý  cho trẻ. Từ  đặc điểm này tôi đã thu hút trẻ  đi học đều và sĩ số  học sinh luôn  đảm bảo Những trẻ như bé H’Moan, Y­ Ngọc, Y­ Gơn, H’ Kôn, H’ Un thường hay   thụ động trong các trò chơi cô cần động viên khuyến khích trẻ như “cố lên nào”   hay những tràng pháo tay cổ vũ của các bạn khi trẻ thực hiện tham gia giờ học   thì trẻ cảm thấy húng thú.  Phối kết hợp cùng phụ  huynh tạo dựng mối quan hệ  thân thiện với cha  mẹ  trẻ: Nắm bắt được ý nguyện không phù hợp của phụ  huynh với giáo dục  mầm non. Ngay từ buổi đầu đến nhận lớp chiêu sinh trẻ, tôi đã thể hiện mình là  16
  17. một giáo viên mầm non có phong cách, có trình độ  về chuyên môn và hiểu biết   về  đặc điểm tâm sinh lý trẻ  như: Chuẩn bị  trang phục lịch sự  giản dị. Cô đến  sớm và chuẩn bị bàn ghế phòng học sạch sẽ. Khi phụ huynh đưa con vào lớp cô  luôn chào hỏi ân cần từng người một và nhờ  phụ  huynh cung cấp thông tin về  trẻ cho phụ huynh được biết.  Tổ  chức họp phụ  huynh: Cô chuẩn bị  tốt chương trình và nội dung cuộc  hợp. Từ  nắm bắt  được những mong muốn của phụ  huynh khi  đưa trẻ  đến   trường ít quan tâm tới những hoạt động trọng tâm của ngành học. Từ  những   giải pháp, biện pháp thực hiện bản thân đã gặt ái thành công đó là phụ  huynh  quan tâm hơn tới việc học tập của con em mình và có mối quan hệ  thân thiết  hơn với cô giáo, trẻ ham thích đến trường và mạnh dạn hơn. Trao đổi thông tin hai chiều với phụ huynh tôi thường xuyên trao đổi với  các bậc phụ huynh vào các giờ đón trẻ. Cô thường nói về những nổi bật của trẻ  khi tham gia vào các hoạt động.  3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp: Các giải pháp và biện pháp phải được thường xuyên thực hiện, khi đưa ra   một giải pháp nào cần giải quyết thì phải có biện pháp để  giải quyết để  đạt  được mục tiêu đề  ra. Nên giải pháp và biện pháp phải đi đối với nhau, đưa ra   vấn đề gì thì phải có hướng giải quyết vấn đề đó thì sự việc mới thành công. Từ  những biện pháp và giải pháp được sử  dụng mà bản thân đã thành  công đã thu hút 97­ 100% trẻ từ 3­5 tuổi đi học và 100% trẻ 5­6 tuổi đến lớp  3.5. Kết qủa khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu  Kết quả trên trẻ còn thể hiện ở các tiêu chí sau:  Trước khi có Sau khi Những thói quen hứng thú  trên trẻ biện pháp thực  hiện các biện pháp Trẻ mạnh dạn tham gia trên tiết học 60 – 65% 80 – 85% 17
  18. Trẻ hoà nhập với các bạn 60­ 65% 80 – 85 % Sự hứng thú thích đến trường 80 – 85 % 95­ 100% Phụ huynh kết hợp với cô giáo động viên trẻ  60 – 70% 90 – 95% Bản thân tích luỹ được các kinh nghiệm trong khâu chuẩn bị cho tiết dạy   như nắm được phương pháp giảng dạy, phương pháp chủ yếu trong giảng dạy   là đồ  dùng trực quan của cô, kinh nghiệm sống của bản thân tạo mối quan hệ  thân thiện với phụ huynh. Qua thực hiện các biện pháp tôi đã nắm được một số  yếu tố dẫn đến thành công của tiết dạy như nắm vững phương pháp và chuẩn   bị  đầy đủ  đồ  dùng cho tiết dạy. Khả  năng của cô giáo trong việc  ứng xử  với  phụ huynh thường xuyên và làm đồ dùng sáng tạo cùng với sự nhiệt tình của cô   để dạy học luôn lôi cuốn trẻ đi học và phụ huynh rất an tâm khi các con đi học  được học nhiều điều và cô giáo thì nhiệt tình chăm sóc con họ.   4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên cứu.                     ­ Sau thời gian dài thực hiện đã 3­4 năm nay hình thức đổi mới giáo dục  kết hợp với các phương pháp “ học mà chơi, chơi mà học” luôn động viên trẻ và  khích lệ  trẻ  tạo bầu không khí vui tươi khi trẻ  đến lớp, chất lượng so với   những năm trước đạt cao hơn, trẻ đã đi học đều 100% không có trẻ 5 tuổi.  Làm tốt công tác tuyên truyền với phụ  huynh thông qua hội thi của trẻ,  thông qua họp phụ  huynh và trao đổi mọi lúc mọi nơi. Taọ  bầu không khí vui  tươi, thân thiện với trẻ, luôn động viên khích lệ  trẻ, sẳn sàng giúp trẻ  lúc khó   khăn trong học tập.  III. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ : 1. Kết luận: 18
  19.          Phụ huynh đã đưa con em đi học đều đặn vì thấy ích lợi của việc con đi   học và trẻ còn được hưởng nhiều quyền lợi từ sự quan tâm của nhà nước. Thấy  con em đi học vừa có kiến thức được cô giáo quan tâm động viên khích lệ. Thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số học sinh tới lớp giúp trẻ mầm non phát  triển tốt về mọi, giúp trẻ 5 tuổi chuẩn bị vào trường phổ thông   2. Kiến nghị:  Qua thực tế trực tiếp giảng dạy trên lớp và được trực tiếp giảng dạy các  cháu dân tộc thiểu số tôi có một số kiến nghị sau. Các cấp ban ngành quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất để đảm bào chất   lượng học tập của các cháu.   Là một giáo viên cần đầu tư  cho tiết dạy của mình như  là đồ  dùng đồ  chơi phù hợp đẹp mắt thu hút trẻ,  phù hợp với chủ đề, để  dẫn dắt trẻ  vào bài  hay hơn,  giúp trẻ được làm quen mọi lúc mọi nơi, trang trí lớp chủ đề phù hợp  tạo bầu không khí vui tươi tới trẻ, luôn giữa mối quan hệ với phụ huynh, luôn   chú ý tới trẻ còn yếu và phải nhiệt tình  Phụ huynh cần quan tâm hơn nữa tới con em của mình, đưa con em đi học  đều đặn và có thể kèm thêm cháu học ở nhà luôn giao tiếp với cháu bằng tiếng   việt .                                                                    Dray sáp, ngày 20 tháng 02 năm 2016                                                                                 Người viết sáng kiến   H’ Bluin Ktla 19
  20.                    NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………                                                                                                                CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN                                                                               (Ký tên, đóng dấu) NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………                                                                                                                CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN                                                                                (Ký tên, đóng dấu) 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2