
SỐ 16 - TỰ DO NGÔN LUẬN
Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt (freedom of expression) đầu tiên được ghi nhận
trong Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền
Quốc tế (UDHR). Theo Điều này, mọi
người đều có quyền tự do ngôn luận và
bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan
điểm mà không bị can thiệp; cũng như
tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá
các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ
phương tiện truyền thông nào và không
có giới hạn về biên giới.
... Nội dung của Điều 19 UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa
trong các Điều 19 và 20 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(ICCPR). Theo Điều 19 ICCPR, mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình
mà không bị ai can thiệp. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao
gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt
lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình
thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự
lựa chọn của họ (Khoản 1 và 2). Khoản 3 Điều này xác định quyền tự do biểu đạt
không phải là một quyền tuyệt đối mà có thể phải chịu một số hạn chế nhất định
được quy định trong pháp luật và là cần thiết để tôn trọng các quyền hoặc uy tín
của người khác và để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sự bình yên hoặc
đạo đức xã hội.
Bổ sung cho quy định trong Điều 19, Điều 20 ICCPR đề cập đến một hạn
chế cần thiết của quyền tự do biểu đạt, theo đó, mọi hình thức tuyên truyền cho
chiến tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích
động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp
luật nghiêm cấm.

Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 19 ICCPR sau đó được HRC
làm rõ thêm trong Bình luận chung số 10 thông qua tại phiên họp lần thứ 19 năm
1983 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:
Thứ nhất, quyền được giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp
nêu ở Khoản 1 Điều 19 là quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong
bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia (đoạn 1).
Thứ hai, quyền tự do biểu đạt có thể phải chịu những hạn chế nhất định, tuy
nhiên, những hạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các
mục đích như nêu ở Khoản 3 Điều 19.
Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 20 ICCPR sau đó được Ủy
ban Nhân quyền (HRC) làm rõ thêm trong Bình luận chung số 11 thông qua tại
phiên họp lần thứ 19 năm 1983 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng
như sau:
Thứ nhất, việc cấm các hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, gây hằn thù
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự
thù địch, hoặc bạo lực là cần thiết và không mâu thuẫn với quyền tự do biểu đạt
quy định ở Điều 19 ICCPR, bởi Điều này nêu rõ việc thực hiện quyền tự do biểu
đạt phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt (đoạn 2).
Thứ hai, quy định cấm trong Khoản 1 Điều 20 cũng áp dụng cho tất cả các
hình thức tuyên truyền đe dọa thực hiện hành động xâm lược hay phá hoại hòa
bình trái với Hiến chương Liên hợp quốc. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 20 không
ngăn cấm việc cổ vũ các quyền tự quyết, quyền độc lập hay quyền tự vệ của các
dân tộc mà phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc. Trong khi đó, quy định cấm
trong Khoản 2 Điều 20 được áp dụng với những hành động khơi gợi lòng hận thù
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, từ đó kích động sự phân biệt đối xử, sự thù địch hay
bạo lực, bất kể sự tuyên truyền diễn ra ở bên trong hay bên ngoài các quốc gia có
liên quan (đoạn 2).

(Theo Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật -
ĐHQGHN, NXB CTQG, 2009, tr.235 - 237)

