intTypePromotion=4

So sánh hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch trong chẩn đoán ung thư hốc miệng

Chia sẻ: ViAres2711 ViAres2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
7
lượt xem
0
download

So sánh hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch trong chẩn đoán ung thư hốc miệng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày việc so sánh chất lượng mẫu tiêu bản và hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch trong chẩn đoán ung thư hốc miệng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: So sánh hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch trong chẩn đoán ung thư hốc miệng

Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015<br /> <br /> <br /> SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA XÉT NGHIỆM CHẢI TẾ BÀO THƯỜNG QUY<br /> VÀ NHÚNG DỊCH TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ HỐC MIỆNG<br /> Trần Xuân Phương*, Ngô Thị Tuyết Hạnh**, Nguyễn Thị Hồng*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mở đầu: Xét nghiệm chải tế bào hỗ trợ phát hiện sớm ung thư hốc miệng. Gần đây, kỹ thuật tế bào nhúng<br /> dịch ra đời đã giúp nâng cao độ chính xác của xét nghiệm tế bào học.<br /> Mục tiêu: So sánh chất lượng mẫu tiêu bản và hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng<br /> dịch trong chẩn đoán ung thư hốc miệng.<br /> Đối tượng và phương pháp: Thực hiện xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch trên 55 bệnh<br /> nhân có tổn thương niêm mạc miệng đến khám tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM, từ tháng 2/2014 đến tháng<br /> 6/2014. Việc đánh giá kết quả tế bào học và chất lượng mẫu tiêu bản được một bác sĩ chuyên khoa Giải phẫu bệnh<br /> thực hiện. Kết quả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch được đối chiếu với kết quả mô bệnh học<br /> để đánh giá hiệu quả trong chẩn đoán ung thư hốc miệng.<br /> Kết quả: Xét nghiệm chải tế bào thường quy có độ nhạy 91,1%, độ đặc hiệu 100%, giá trị tiên đoán dương<br /> 100%, giá trị tiên đoán âm 71,4% và độ chính xác 92,7%. Các giá trị này ở xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch lần<br /> lượt là 93,3%, 100%, 100%, 76,9% và 94,5%. Xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch có chất lượng nền tiêu bản tốt<br /> hơn đáng kể so với xét nghiệm chải tế bào thường quy (p < 0,05). Sự phân bố tế bào trên mẫu tiêu bản ở xét<br /> nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch không có sự khác biệt (p > 0,05).<br /> Kết luận: Xét nghiệm chải tế bào là phương tiện phù hợp để kiểm tra, sàng lọc ban đầu những tổn thương<br /> niêm mạc miệng giúp phát hiện sớm tổn thương ác tính. Việc lựa chọn xét nghiệm chải tế bào thường quy hoặc<br /> nhúng dịch tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của mỗi phòng xét nghiệm, cũng như điều kiện kinh tế của<br /> từng bệnh nhân.<br /> Từ khóa: ung thư hốc miệng, chải tế bào, tế bào nhúng dịch.<br /> ABSTRACT<br /> THE EFFECTIVENESS OF CONVENTIONAL VS LIQUID-BASED BRUSH CYTOLOGY IN ORAL<br /> CANCER DIAGNOSIS<br /> Tran Xuan Phuong, Ngo Thi Tuyet Hanh, Nguyen Thi Hong<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 19 - No 5 - 2015: 58 - 64<br /> <br /> Background: Brush cytology is a test that can aid in the early detection of oral cancer. The liquid-based<br /> technique has recently been launched recently to enhance the accuracy of cytology test.<br /> Objective: To compare the quality of the specimens obtained and the effectiveness in oral cancer diagnosis of<br /> the conventional versus the liquid-based brush cytology.<br /> Materials and methods: The conventional and liquid-based brush cytology tests were performed on 55<br /> patients with oral mucosal lesions at Ho Chi Minh City Oncology Hospital from January to June 2014. The<br /> cytology results were evaluated by a pathologist. The results of these conventional and liquid-based brush cytology<br /> <br /> <br /> * Bộ môn Bệnh Lý miệng – Khoa Răng Hàm Mặt – Đại Học Y Dược TP. HCM<br /> ** Bộ môn Giải Phẫu Bệnh – Đại Học Y Dược TP. HCM<br /> Tác giả liên lạc: ThS. Ngô Thị Tuyết Hạnh ĐT: 0918.181.722 Email: tuyethanhngo72@gmail.com<br /> <br /> 58<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> tests were then contrasted with histopathological diagnosis to evaluate their effectiveness in oral cancer diagnosis.<br /> Results: The conventional brush cytology test showed a sensitivity of 91.1%, a specificity of 100%, a positive<br /> predictive value at 100%, a negative predictive value at 71.4%, and an accuracy of 92.7%. The corresponding<br /> diagnostic values of the liquid-based brush cytology test were 93.3%, 100%, 100%, 76.9%, and 94.5%<br /> respectively. The quality of the specimen background in the liquid-based brush cytology test was indicated to be<br /> significantly better than that in the conventional ones (p 0.05).<br /> Conclusions: Brush cytology is a suitable means of inspection and initial screening of oral mucosal lesions,<br /> which would be helpful in the early detection of malignant lesions. Whether to select a conventional or a liquid-<br /> based brush cytology test depends on the facilities of each laboratory, as well as the economic status of each patient.<br /> Keywords: oral cancer, brush cytology, liquid-based cytology.<br /> MỞ ĐẦU mẫu tiêu bản, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên<br /> đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác<br /> Ung thư hốc miệng (UTHM), với trên 90% là của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng<br /> carcinôm tế bào gai, là một trong mười loại ung<br /> dịch trong chẩn đoán UTHM.<br /> thư phổ biến nhất trên toàn cầu(2,8,13). Ở Việt<br /> Nam, UTHM chiếm 6% trong tổng số các loại ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨU<br /> ung thư, đa số được phát hiện và điều trị ở giai Mẫu nghiên cứu<br /> đoạn trễ (68%), tỉ lệ sống còn 5 năm là 40%(12). 55 bệnh nhân có tổn thương niêm mạc miệng<br /> Phát hiện sớm UTHM giúp tăng cường khả năng đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Ung<br /> điều trị, hạn chế các biến chứng, qua đó giảm tỉ Bướu TPHCM, từ tháng 2/2014 đến tháng 6/2014.<br /> lệ tử vong và nâng cao chất lượng sống cho bệnh Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và có chỉ<br /> nhân. Vào thập niên 1960 và 1970, phương pháp định sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học.<br /> xét nghiệm tế bào bong của niêm mạc miệng<br /> được áp dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, kỹ thuật Thiết kế nghiên cứu<br /> này cho tỉ lệ âm tính giả cao, có thể đến 30%(19,7). Thử nghiệm lâm sàng.<br /> Từ năm 1999, sự ra đời của phương pháp chải tế Quy trình nghiên cứu<br /> bào đã giúp cải thiện nhược điểm này nhờ sử (1) Chọn bệnh nhân, hỏi bệnh sử, khám lâm<br /> dụng một bàn chải niêm mạc được thiết kế đặc sàng tổn thương.<br /> biệt để có thể lấy được các tế bào ở cả ba lớp của<br /> (2) Thực hiện xét nghiệm chải tế bào thường<br /> biểu mô miệng. Xét nghiệm chải tế bào có độ<br /> quy: Người nghiên cứu dùng bàn chải miệng<br /> nhạy và độ đặc hiệu cao, thường từ 90% đến<br /> MasterAmpTM Buccal Swab Brush chải trên toàn<br /> 100%(10,6,9,16,11). Một cải tiến gần đây với mục đích<br /> bộ bề mặt tổn thương với áp lực vừa phải cho<br /> nâng cao độ chính xác của xét nghiệm tế bào học<br /> đến khi xuất hiện điểm lấm tấm chảy máu thì<br /> là sự ra đời của kỹ thuật tế bào nhúng dịch. Kỹ<br /> dừng lại. Phết đầu bàn chải lên trên lam kính.<br /> thuật này giúp thu thập tế bào với số lượng lớn;<br /> Ngâm lam kính vào cồn 950 trong ít nhất 30 phút.<br /> đồng thời, giúp cải thiện chất lượng của tiêu bản<br /> Mẫu tiêu bản được nhuộm bằng phương pháp<br /> bằng cách loại bỏ máu, chất nhầy và các mô hoại<br /> Papanicolaou tại phòng xét nghiệm Bộ môn Giải<br /> tử. Nhờ vậy, việc xác định các tế bào bất thường<br /> Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược TPHCM.<br /> và chẩn đoán các tổn thương ác tính niêm mạc<br /> miệng được chính xác hơn(2,4,5,9). Với mong muốn (3) Thực hiện xét nghiệm chải tế bào nhúng<br /> cải thiện độ chính xác của xét nghiệm tế bào học dịch (sản phẩm Liqui-PREDTM): Sau khi phết<br /> trong chẩn đoán UTHM, nghiên cứu này được bệnh phẩm lên trên lam kính để thực hiện xét<br /> tiến hành nhằm xác định và so sánh chất lượng nghiệm chải tế bào thường quy, đầu bàn chải với<br /> <br /> <br /> <br /> 59<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015<br /> <br /> phần tế bào còn lại được cắt rời và đặt vào lọ có Bảng 2. Đánh giá chất lượng mẫu tiêu bản<br /> chứa chất bảo quản. Tại phòng xét nghiệm Bộ Tiêu Thang<br /> Đặc điểm<br /> môn Giải Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược TPHCM, chí điểm<br /> Mô hoại tử và hồng cầu hiện diện nhiều,<br /> toàn bộ mẫu được đổ vào ống nghiệm có chứa Nền 0<br /> gây khó khăn cho chẩn đoán<br /> dung dịch làm sạch; sau đó, ống nghiệm được tiêu<br /> 1 Mô hoại tử và hồng cầu hiện diện ít<br /> bản<br /> quay ly tâm với tốc độ 2475 vòng/phút trong 10 2 Nền tiêu bản sạch<br /> phút để loại bỏ dịch nổi; thêm vào dung dịch kết Tế bào tập trung ở một vùng duy nhất trên<br /> 0<br /> Phân tiêu bản<br /> nang, tỉ lệ 1:3 dựa vào thể tích cặn tế bào; đưa 50 bố tế Tế bào tập trung ở một số vùng trên tiêu<br /> 1<br /> μl lên một lam kính sạch, nhuộm bằng phương bào bản<br /> pháp Papanicolaou. 2 Tế bào phân bố đều khắp trên tiêu bản<br /> <br /> Việc đánh giá kết quả tế bào học và chất KẾT QUẢ<br /> lượng mẫu tiêu bản được một bác sĩ chuyên Mẫu nghiên cứu gồm có 45 ca (81,8%)<br /> khoa Giải phẫu bệnh của Bộ môn Giải Phẫu UTHM và 10 ca (18,2%) tổn thương lành tính. Ở<br /> Bệnh, Đại học Y Dược TPHCM thực hiện với độ nhóm UTHM, nam giới chiếm đa số (64,4%),<br /> kiên định 100%. Bác sĩ Giải phẫu bệnh này hoàn nhóm tuổi phổ biến nhất là 40-60 tuổi (53,3%).<br /> toàn không biết thông tin về kết quả mô bệnh<br /> học.<br /> Chất lượng mẫu tiêu bản<br /> Nền tiêu bản: Điểm số trung bình ở xét<br /> (4) Sau khi tiến hành chải tế bào, bác sĩ<br /> nghiệm chải tế bào thường quy là 1,04 ± 0,54,<br /> phòng khám thực hiện sinh thiết một phần tổn<br /> thấp hơn so với xét nghiệm chải tế bào nhúng<br /> thương niêm mạc miệng ngay trên vị trí đã chải.<br /> dịch là 1,58 ± 0,50. Sự khác biệt này có ý nghĩa<br /> Sử dụng bệnh phẩm này làm xét nghiệm mô<br /> thống kê (p < 0,05).<br /> bệnh học tại Khoa Giải Phẫu Bệnh, Bệnh viện<br /> Ung Bướu TPHCM. Ghi nhận kết quả mô bệnh Phân bố tế bào: Điểm số trung bình ở xét<br /> học. nghiệm chải tế bào thường quy là 1,67 ± 0,47,<br /> thấp hơn so với xét nghiệm chải tế bào nhúng<br /> (5) Đối chiếu kết quả của xét nghiệm chải tế<br /> dịch là 1,76 ± 0,43. Tuy nhiên, sự khác biệt này<br /> bào thường quy và nhúng dịch với kết quả mô<br /> không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).<br /> bệnh học để đánh giá hiệu quả trong chẩn đoán<br /> UTHM. Hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào<br /> Các tiêu chuẩn đánh giá thường quy và nhúng dịch<br /> - Đánh giá kết quả tế bào học theo tiêu chuẩn Xét nghiệm chải tế bào thường quy<br /> của Afrogheh (2013)(1) (Bảng 1): Trong 55 ca tổn thương niêm mạc miệng, xét<br /> Bảng 1. Hệ thống đánh giá kết quả tế bào học nghiệm chải tế bào thường quy cho kết quả 41 ca<br /> Mức độ Kết luận dương tính (74,5%) và 14 ca âm tính (25,5%). Đối<br /> Bình thường chiếu kết quả xét nghiệm chải tế bào thường quy<br /> Không điển hình:<br /> ÂM TÍNH<br /> với mô bệnh học, nhận thấy có 4 ca âm tính giả<br /> - phản ứng (viêm, nhiễm trùng, sửa chữa mô)<br /> và không có ca dương tính giả nào (Bảng 3). Từ<br /> - tổn thương biểu mô gai mức độ thấp<br /> Không điển hình: - tổn thương biểu mô gai<br /> đó, tính được giá trị của xét nghiệm chải tế bào<br /> mức độ cao DƯƠNG thường quy: độ nhạy 91,1%, độ đặc hiệu 100%,<br /> Carcinôm tế bào gai xâm lấn TÍNH giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán<br /> Ung thư khác âm 71,4% và độ chính xác 92,7%.<br /> - Đánh giá chất lượng mẫu tiêu bản theo tiêu<br /> chuẩn của Dwivedi (2012)(4) (Bảng 2):<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 60<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Bảng 3. Đối chiếu kết quả xét nghiệm chải tế bào Bảng 4. Đối chiếu kết quả xét nghiệm chải tế bào<br /> thường quy với mô bệnh học nhúng dịch với mô bệnh học<br /> MÔ BỆNH HỌC MÔ BỆNH HỌC<br /> Chẩn đoán Tổng Chẩn đoán Tổng<br /> Ác tính Lành tính Ác tính Lành tính<br /> TẾ BÀO Dương tính 41 0 41 TẾ BÀO Dương tính 42 0 42<br /> HỌC Âm tính 4 10 14 HỌC Âm tính 3 10 13<br /> Tổng số ca 45 10 55 Tổng số ca 45 10 55<br /> <br /> Xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch Các trường hợp chải tế bào âm tính giả<br /> Trong 55 ca tổn thương niêm mạc miệng, xét Trong 55 ca tổn thương niêm mạc miệng, cả<br /> nghiệm chải tế bào nhúng dịch cho kết quả 42 ca hai xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng<br /> dương tính (76,4%) và 13 ca âm tính (23,6%). Đối dịch đều không cho kết quả dương tính giả nào.<br /> chiếu kết quả xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch Tuy nhiên, cả hai phương pháp xét nghiệm này<br /> với mô bệnh học, nhận thấy có 3 ca âm tính giả đều có những kết quả âm tính giả. Có 4 kết quả<br /> và không có ca dương tính giả nào (Bảng 4). Từ âm tính giả ở nhóm xét nghiệm chải tế bào<br /> đó, tính được giá trị của xét nghiệm chải tế bào thường quy và 3 kết quả âm tính giả ở nhóm xét<br /> nhúng dịch: độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 100%, nghiệm chải tế bào nhúng dịch (Bảng 5).<br /> giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán<br /> âm 76,9% và độ chính xác 94,5%.<br /> Bảng 5. Các trường hợp âm tính giả của xét nghiệm chải tế bào thường quy và nhúng dịch<br /> STT Vị trí Dạng tổn thương Giai đoạn Mô bệnh học Thường quy Nhúng dịch<br /> 1 Khẩu cái Cục II Carcinôm tuyến nước bọt, độ ác thấp Âm tính Âm tính<br /> 2 Niêm mạc má Chồi sùi II Carcinôm tế bào gai, grad 1 Âm tính Âm tính<br /> 3 Lưỡi Chồi sùi I Carcinôm tế bào gai, grad 1 Âm tính Dương tính<br /> 4 Lưỡi Chồi sùi III Carcinôm tế bào gai, grad 2 Âm tính Dương tính<br /> 5 Nướu Chồi sùi I Carcinôm tế bào gai, grad 1 Dương tính Âm tính<br /> <br /> BÀN LUẬN công nghệ tách vật lý (công nghệ gradient mật<br /> độ), khiến những tế bào cần khảo sát tạo thành<br /> Chất lượng mẫu tiêu bản cặn tế bào ở đáy ống ly tâm, tách rời với phần<br /> Nền tiêu bản trên của dung dịch làm sạch chứa máu, mô<br /> Điểm số trung bình về chất lượng nền tiêu viêm, mô hoại tử và chất nhầy(4,5,7,9).<br /> bản ở nhóm xét nghiệm chải tế bào thường quy Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng cho<br /> là 1,04 ± 0,54, thấp hơn so với xét nghiệm chải tế thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng nền tiêu<br /> bào nhúng dịch là 1,58 ± 0,50 có ý nghĩa thống kê bản khi sử dụng phương pháp nhúng dịch so<br /> (p < 0,05). Điều này có được nhờ sự cải tiến về với phương pháp thường quy. Dwivedi và cs.<br /> mặt kỹ thuật trong quá trình xử lý mẫu bệnh (2012)(4) đã tiến hành chải tế bào trên 50 bệnh<br /> phẩm tế bào. Nếu như ở phương pháp thường nhân có tổn thương niêm mạc miệng. Kết quả<br /> quy, mẫu tế bào sau khi được lấy từ tổn thương cho thấy nền tiêu bản của xét nghiệm tế bào<br /> sẽ phết trực tiếp trên lam kính; thì ở phương nhúng dịch cải thiện đáng kể so với xét nghiệm<br /> pháp nhúng dịch, toàn bộ mẫu bệnh phẩm sẽ tế bào thông thường (p < 0,001). Sato và cs.<br /> được xử lý qua dung dịch bảo quản và dung (2009)(17) khi tiến hành lấy mẫu tế bào ở những<br /> dịch làm sạch trước khi đưa lên lam tiêu chuẩn bệnh nhân carcinôm tế bào gai để đánh giá chất<br /> của phòng xét nghiệm. Bên cạnh việc bảo quản lượng của xét nghiệm tế bào nhúng dịch cũng<br /> mẫu và cố định hình thái tế bào, dung dịch bảo cho kết luận nền tiêu bản rõ, xuất hiện rất ít các<br /> quản còn giúp ly giải máu và chất nhầy trong thành phần như mô hoại tử (có nhiều ở tổn<br /> mẫu bệnh phẩm. Dung dịch làm sạch, thông qua thương ung thư), chất nhầy và máu.<br /> <br /> <br /> 61<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015<br /> <br /> Phân bố tế bào đưa mẫu tế bào lên lam kính được máy thực<br /> Điểm số trung bình về phân bố tế bào của hiện một cách đồng bộ thông qua hệ thống màng<br /> phương pháp thường quy là 1,67 ± 0,47, thấp lọc chân không. Điều này giúp cho tế bào được<br /> hơn so với phương pháp nhúng dịch là 1,76 ± phân bố đồng nhất hơn trên nền tiêu bản.<br /> 0,43. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý Hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào<br /> nghĩa thống kê (p > 0,05). thường quy và nhúng dịch<br /> Hayama và cs. (2005)(5) cũng tiến hành đánh Các trường hợp chải tế bào âm tính giả<br /> giá về chất lượng phân bố tế bào trên mẫu tiêu<br /> Trong nghiên cứu này, tỉ lệ âm tính giả của<br /> bản khi sử dụng phương pháp thường quy và<br /> xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch là 6,7%, và<br /> nhúng dịch, cho kết quả xét nghiệm chải tế bào<br /> của xét nghiệm chải tế bào thường quy là 8,9%.<br /> nhúng dịch có sự phân bố tế bào tốt hơn đáng kể<br /> Tỉ lệ này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn<br /> so với xét nghiệm chải tế bào thường quy (p <<br /> Phan Thế Huy và cs.(10) (7,3%), Nguyễn Quốc<br /> 0,05). Tuy nhiên, ở nghiên cứu của Dwivedi và<br /> Trưởng và cs.(11) (6%) khi nghiên cứu về hiệu quả<br /> cs. (2012)(4), sự phân bố tế bào khi sử dụng hai<br /> của xét nghiệm chải tế bào thường quy trong<br /> phương pháp thường quy và nhúng dịch lại<br /> chẩn đoán UTHM. Mặc dù tỉ lệ âm tính giả của<br /> không có sự khác biệt (p > 0,05). Kết quả trong<br /> xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch trong nghiên<br /> nghiên cứu này có sự tương đồng với nghiên<br /> cứu này chưa cho thấy sự cải thiện so với xét<br /> cứu của Dwivedi(4), nhưng lại không phù hợp<br /> nghiệm chải tế bào thường quy; tuy nhiên, xét<br /> với nhận định cho rằng phương pháp nhúng<br /> nghiệm chải tế bào nói chung đã cho thấy sự<br /> dịch có phân bố tế bào tốt hơn trên nền tiêu bản<br /> vượt trội trong việc giảm tỉ lệ âm tính giả so với<br /> như trong nghiên cứu của Hayama(5). Điều này<br /> xét nghiệm phết tế bào bong. Nghiên cứu của<br /> có thể do sự khác biệt về kỹ thuật xử lý mẫu.<br /> Trần Thị Kim Cúc và cs.(19) về giá trị của xét<br /> Nghiên cứu này và nghiên cứu của Dwivedi(4) sử<br /> nghiệm phết tế bào bong trong chẩn đoán<br /> dụng công nghệ bán tự động; việc trải mẫu bệnh<br /> UTHM cho kết quả tỉ lệ âm tính giả là 21,6%<br /> phẩm tế bào lên lam kính do kỹ thuật viên Giải<br /> (Bảng 6).<br /> phẫu bệnh thực hiện. Trong khi đó, nghiên cứu<br /> của Hayama(5) sử dụng hệ thống tự động, việc<br /> Bảng 6. Tỉ lệ âm tính giả của xét nghiệm tế bào học giữa các nghiên cứu trong nước<br /> Tác giả Phết tế bào bong Chải tế bào thường quy Chải tế bào nhúng dịch<br /> (19)<br /> T.T.K.Cúc (1995) 21,6% - -<br /> (11)<br /> N.Q.Trưởng (2012) - 6% -<br /> (10)<br /> N.P.T.Huy (2013) - 7,3% -<br /> Nghiên cứu này (2014) - 8,9% 6,7%<br /> <br /> Giá trị của xét nghiệm chải tế bào thường quy 100%(10,9,15,16). Điều này xuất phát từ sự khác<br /> Trong nghiên cứu này, xét nghiệm chải tế biệt trong tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại<br /> kết quả tế bào học; đặc điểm tổn thương được<br /> bào thường quy có độ nhạy 91,1%, độ đặc hiệu<br /> 100%, giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên khảo sát trong mỗi nghiên cứu; sự hỗ trợ của<br /> đoán âm 71,4% và độ chính xác 92,7%. Kết quả máy tính trong chẩn đoán.<br /> này cho thấy đây là một xét nghiệm đáng tin Một số nghiên cứu có độ nhạy và độ đặc<br /> cậy để khảo sát những tổn thương vùng hốc hiệu khá thấp, như nghiên cứu của Poate và cs.(14)<br /> miệng. Khi so sánh với các nghiên cứu khác (độ nhạy 71,4%, độ đặc hiệu 32%), Rahman và<br /> trên thế giới, có thể nhận ra sự biến thiên rất cs.(15) (độ nhạy 70,3%, độ đặc hiệu 77,9%). Nhờ sự<br /> khác nhau về các giá trị chẩn đoán: độ nhạy từ hỗ trợ của máy tính trong phân tích kết quả tế<br /> 43,7% đến 100% ; độ đặc hiệu từ 32% đến bào học (hệ thống OralCDx), những giá trị này<br /> <br /> <br /> 62<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> đã có sự cải thiện đáng kể, hầu hết đều trên 90%, độ đặc hiệu cao hơn so với phương pháp thường<br /> như trong nghiên cứu của Sciubba và cs.(18) (độ quy: độ nhạy tăng 9,4%, độ đặc hiệu tăng 3,1%.<br /> nhạy 96% - 100%, độ đặc hiệu 90% - 100%), Tuy nhiên, ở nghiên cứu của Remmerbach và<br /> Mehrotra và cs.(6) (độ nhạy 96,3%, độ đặc hiệu cs(16), dù độ nhạy của phương pháp nhúng dịch<br /> 90,4% - 100%). cao hơn so với phương pháp thường quy (tăng<br /> Tuy nhiên, có những nghiên cứu dù không 1,23%), nhưng độ đặc hiệu lại giảm đi đáng kể<br /> được sự hỗ trợ của máy tính nhưng cũng cho độ (giảm 21,88%).<br /> nhạy và độ đặc hiệu ở mức cao, như nghiên cứu Bảng 7. Các giá trị của xét nghiệm chải tế bào thường<br /> của Navone và cs(9) (độ nhạy 85,7%, độ đặc hiệu quy và nhúng dịch trong nghiên cứu này<br /> 95,9%), Remmerbach và cs(16) (độ nhạy 96,3%, độ Giá trị xét nghiệm Thường quy Nhúng dịch<br /> đặc hiệu 90,63%). Ở trong nước, hai nghiên cứu Độ nhạy (%) 91,1 93,3<br /> gần đây về hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào Độ đặc hiệu (%) 100 100<br /> Giá trị tiên đoán dương (%) 100 100<br /> thường quy cũng cho những kết quả rất tốt, với<br /> Giá trị tiên đoán âm (%) 71,4 76,9<br /> độ nhạy 92,7% - 94% và độ đặc hiệu 100%(10,11). Độ chính xác (%) 92,7 94,5<br /> Kết quả trong nghiên cứu này giúp khẳng định<br /> KẾT LUẬN<br /> thêm về hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào<br /> thường quy trong chẩn đoán UTHM. Dù xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch chưa<br /> cho thấy sự cải thiện đáng kể về các giá trị chẩn<br /> Giá trị của xét nghiệm chải tế bào nhúng dịch<br /> đoán, nhưng không thể phủ nhận những ưu<br /> Trong nghiên cứu này, xét nghiệm chải tế<br /> điểm của kỹ thuật tế bào nhúng dịch trong việc<br /> bào nhúng dịch có độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu<br /> gia tăng chất lượng mẫu tiêu bản: nền tiêu bản<br /> 100%, giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên<br /> sạch, giảm đáng kể tế bào máu, mô viêm, mô<br /> đoán âm 76,9% và độ chính xác 94,5%. Đây là kết<br /> hoại tử. Điều này giúp người đọc kết quả tế bào<br /> quả phù hợp khi so sánh với các nghiên cứu đã<br /> học dễ dàng quan sát và phát hiện những biến<br /> được thực hiện trước đây.<br /> đổi bất thường của tế bào. Tuy nhiên, đó cũng<br /> Hầu hết các nghiên cứu về ứng dụng kỹ chỉ là những yếu tố khách quan góp phần hỗ trợ<br /> thuật nhúng dịch vào xét nghiệm tế bào học đều cho chẩn đoán. Yếu tố quan trọng nhất đối với<br /> cho kết quả tốt. Nghiên cứu của Navone và cs.(9), mỗi chẩn đoán tế bào học là trình độ chuyên<br /> Afrogheh và cs(2) cho kết quả độ nhạy, độ đặc môn của người bác sĩ Giải phẫu bệnh, dù xét<br /> hiệu rất cao (>95%). Tuy nhiên, ở một số nghiên nghiệm được thực hiện là phương pháp thông<br /> cứu khác, giá trị này lại khá thấp, như nghiên thường, cổ điển hoặc có sự hỗ trợ của các công<br /> cứu của Perez-Sayans và cs(13) (độ nhạy 69%), nghệ tiên tiến.<br /> Braz-Silva và cs(3) (độ nhạy 62%), Remmerbach<br /> Hiện nay, xét nghiệm mô bệnh học vẫn là<br /> và cs(16) (độ đặc hiệu 68,75%).<br /> tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định tình<br /> So sánh hiệu quả của xét nghiệm chải tế bào trạng bệnh. Nhưng xét nghiệm chải tế bào - với<br /> thường quy và nhúng dịch ưu điểm ít xâm lấn, thực hiện đơn giản, nhưng<br /> Trong nghiên cứu này, độ nhạy của xét không kém phần hiệu quả - là phương tiện phù<br /> nghiệm chải tế bào nhúng dịch (93,3%) cao hơn hợp cho việc kiểm tra, sàng lọc ban đầu những<br /> so với độ nhạy của xét nghiệm chải tế bào tổn thương niêm mạc miệng trong quá trình<br /> thường quy (91,1%). Tuy nhiên, mức độ chênh thăm khám nha khoa; qua đó, giúp phát hiện<br /> lệch chỉ là 2,2%. Độ đặc hiệu của hai phương sớm những tổn thương ác tính. Việc lựa chọn xét<br /> pháp không có sự khác biệt, đều đạt 100% (Bảng nghiệm chải tế bào thường quy hoặc nhúng dịch<br /> 7). Ở nghiên cứu của Navone và cs(9), phương tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của mỗi<br /> pháp nhúng dịch cho kết quả giá trị độ nhạy và<br /> <br /> <br /> 63<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 5 * 2015<br /> <br /> phòng xét nghiệm, cũng như điều kiện kinh tế miệng bằng phương pháp chải tế bào", Tạp chí Y học Thành phố<br /> Hồ Chí Minh, 16, tr.3-7.<br /> của từng bệnh nhân. 12. Nguyễn Thị Hồng, Trần Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Phương<br /> Thảo, Nguyễn Chấn Hùng (2007), "Tình hình ung thư niêm<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO mạc miệng qua các nghiên cứu tại Bệnh viện Ung Bướu<br /> 1. Afrogheh A, Hille J, Mehrotra R (2013), "The development of a TPHCM (1996-2006)", Tạp chí Y học TPHCM, 11, tr.31-36.<br /> novel oral cytologic grading system ", Oral Cytology, Springer, 13. Perez-Sayans M, Reboiras-Lopez MD, Gayoso-Diz P, Seijas-<br /> New York, pp.73-90. Naya F, Antunez-Lopez JR, Gandara-Rey JM, Garcia-Garcia A<br /> 2. Afrogheh A, Sellars SL, Pelser A, Hille J (2012), "An evaluation (2012), "Non-computer-assisted liquid-based cytology for<br /> of the Shandon Papspin liquid-based oral test using a novel diagnosis of oral squamous cell carcinoma", Biotech Histochem,<br /> cytologic scoring system", Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral 87(1), pp.59-65.<br /> Radiol, 113(6), pp.799-807. 14. Poate TW, Buchanan JA, Hodgson TA, Speight P.M., Barrett<br /> 3. Braz-Silva PH, Santos RT, Schussel JL, Gallottini M (2013), A.W., Moles D.R., Scully C., Porter S.R. (2004), "An audit of the<br /> "Oral hairy leukoplakia diagnosis by Epstein-Barr virus in situ efficacy of the oral brush biopsy technique in a specialist Oral<br /> hybridization in liquid-based cytology", Cytopathology, 25(1), Medicine unit", Oral Oncol, 40(8), pp.829-834.<br /> pp.21-26. 15. Rahman F, Tippu SR, Khandelwal S, Girish KL, Manjunath<br /> 4. Dwivedi N, Agarwal A, Raj V, Kashjap B, Chandra S (2012), BC, Bhargava A (2012), "A study to evaluate the efficacy of<br /> "Comparison of centrifused liquid based cytology method toluidine blue and cytology in detecting oral cancer and<br /> with conventional brush cytology in oral lesions", Eur J Gen dysplastic lesions", Quintessence Int, 43(1), pp.51-59.<br /> Dent, 1(3), pp.192-196. 16. Remmerbach TW, Hemprich A, Boecking A (2007),<br /> 5. Hayama FH, Motta AC, Silva Ade P, Migliari DA (2005), "Effectiveness of liquid based cytology (LBC) in minimal<br /> "Liquid-based preparations versus conventional cytology: invasive oral brush biopsies: a comparison of conventional<br /> specimen adequacy and diagnostic agreement in oral lesions", cytopreparation techniques", Oral Oncology Supplement 2(1),<br /> Med Oral Patol Oral Cir Bucal, 10 (2), pp.115-122. pp.119.<br /> 6. Mehrotra R, Mishra S, Singh M (2011), "The efficacy of oral 17. Sato K, Tanaka Y, Yamauchi T (2009), "The evaluation of<br /> brush biopsy with computer-assisted analysis in identifying liquid based cytology in oral squamous cell carcinoma",<br /> precancerous and cancerous lesions", Head Neck Oncol, 3, International Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 38 (5),<br /> pp.39-46. pp.565-566.<br /> 7. Mendes SF, de Oliveira Ramos G, Rivero ER, Modolo F, 18. Sciubba JJ (1999), "Improving detection of precancerous and<br /> Grando LJ, Meurer MI (2011), "Techniques for precancerous cancerous oral lesions. Computer-assisted analysis of the oral<br /> lesion diagnosis", J Oncol, 2011, Article ID 326094, 5 pages. brush biopsy. U.S. Collaborative OralCDx Study Group", J Am<br /> 8. Natarajan E, Eisenberg E (2011), "Contemporary concepts in Dent Assoc, 130 (10), pp.1445-1457.<br /> the diagnosis of oral cancer and precancer", Dent Clin North 19. Trần Thị Kim Cúc (1995), "Bước đầu áp dụng kỹ thuật chẩn<br /> Am, 55(1), pp.63-88. đoán tế bào học đối với một số tổn thương niêm mạc miệng",<br /> 9. Navone R, Burlo P, Pich A, Pentenero M, Broccoletti R, Tập san Hình thái học, 5(2), tr.33-36.<br /> Marsico A, Gandolfo S (2007), "The impact of liquid-based oral<br /> cytology on the diagnosis of oral squamous dysplasia and<br /> carcinoma", Cytopathology, 18(6), pp.356-360. Ngày nhận bài báo: 10/07/2015<br /> 10. Nguyễn Phan Thế Huy, Trần Thị Kim Cúc, Nguyễn Văn<br /> Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/08/2015<br /> Thành, Nguyễn Thị Hồng (2013), Xét nghiệm Xanh Toluidin<br /> và chải tế bào trong chẩn đoán ung thư hốc miệng, Tạp chí Ngày bài báo được đăng: 05/09/2015<br /> Ung thư học Việt Nam, số 4, tr.48-53.<br /> 11. Nguyễn Quốc Trưởng, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Văn<br /> Thành, Nguyễn Văn Thái (2012), "Phát hiện ung thư hốc<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 64<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2