intTypePromotion=1
ADSENSE

Tâm lý học sư phạm và những kiến thức cơ bản của tâm lý học lứa tuổi

Chia sẻ: Physical Funny | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:275

329
lượt xem
91
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tập Tài liệu này ra đời nhằm hỗ trợ sinh viên sư phạm và những người có liên quan đến chuyên ngành sẽ xác lập được những kiến thức trọng tâm của môn học, trên cơ sở nghiên cứu có định hướng hoặc sẽ nắm vững những kiến thức cơ bản nhất qua quá trình học tập nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tâm lý học sư phạm và những kiến thức cơ bản của tâm lý học lứa tuổi

  1. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM TS Huỳnh Văn Sơn (Chủ b iên) Đinh Quỳnh Châu - Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu LỜI NÓI ĐẦU Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là một chuyên ngành của Tâm lý học. Chuyên ngành này cung cấp cho người học những kiến thức chuyên sâu về sự phát triển tâm lý theo độ tuổi và các đặc điểm tâm lý cụ thể ở từng độ tuổi cũng như những cơ sở tâm lý của việc dạy học và giáo dục con người nói chung và học sinh nói riêng. Đối với sinh viên sư phạm hoặc những chuyên ngành có liên quan đến việc giáo dục và đào tạo thì bộ môn Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm trở thành một môn học hay những tín chỉ bắt buộc phải tích lũy. Những kiến thức của bộ môn này
  2. đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những định hướng ban đầu về sự hiểu biết nghề nghiệp, những kỹ năng cơ bản cũng như những nền tảng nhất định cho việc tiếp thu những tri thức về Lý luận dạy học bộ môn. Có thể nói cùng với Tâm lý học đại cương thì Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm hình thành kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho người học chuyên ngành sư phạm Ngày nay, việc giảng dạy đòi hỏi người giáo viên phải liên tục cập nhật những kiến thức khoa học. Tuy nhiên, những kiến thức cơ bản của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm vẫn thể hiện được tính thiết yếu của nó. Từ việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về nhận thức và học tập của từng lứa tuổi để người giáo viên biết lựa chọn nội dung dạy học, phương pháp dạy học đến việc nắm vững cấu trúc tâm lý của việc hình thành khái niệm hay rèn luyện kỹ năng đều đòi hỏi phải nắm vững những kiến thức cơ bản trong Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Ngay cả thực trạng công tác học đường đang có nhiều vấn đề như: bạo lực học đường, văn hóa học đường xuống cấp... thì việc giáo dục hành vi đạo đức, hình
  3. thành những phẩm chất của một người học sinh trong thời đại mới cũng đòi hỏi sinh viên sư phạm và cả những thầy cô giáo - nhà quản lý giáo dục phải thực sự quan tâm đến những cơ sở tâm lý trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, hình thành những phẩm chất đạo đức dựa trên cơ sở tâm lý hay cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức... Tập tài liệu này ra đời nhằm hỗ trợ sinh viên sư phạm và những người có liên quan đến chuyên ngành sẽ xác lập được những kiến thức trọng tâm của môn học, trên cơ sở nghiên cứu có định hướng hoặc sẽ nắm vững những kiến thức cơ bản nhất qua quá trình học tập - nghiên cứu. Nội dung của tài liệu tập trung vào những kiến thức chung của Tâm lý học lứa tuổi và sự phát triển tâm lý của học sinh Trung học (bao gồm học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông). Ngoài ra, những kiến thức cơ bản về Tâm lý học dạy học, Tâm lý học giáo dục và Tâm lý học nhân cách người giáo viên cũng được tiếp cận tr6en bình diện khái quát. Tài liệu được trình bày dưới dạng hỏi đáp những nội dung khoa học cơ bản trong môn học cũng như định hướng phân tích - giải quyết những tình huống thực tiễn được sử dụng làm chất liệu giảng dạy
  4. hay sử dụng làm câu hỏi mở rộng hay câu hỏi tình huống trong đánh giá. Các câu hỏi được sắp xếp theo từng phần - từng chương dưới dạng câu hỏi luận đề và câu hỏi tình huống để người đọc sẽ dễ dàng tham khảo và nghiên cứu. Hy vọng rằng quyển tài liệu đã đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của những đối tượng có quan tâm đến bộ môn Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Chắc chắn rằng quyển tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót. Hy vọng sẽ nhận được quan tâm và ủng hộ của quý bạn đọc. Mong rằng quyển tài liệu này sẽ trở thành tư liệu học tập và nghiên cứu hữu ích cho quý bạn đọc để việc tìm hiểu - nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm sẽ có định hướng và đạt hiệu quả cao. Mong nhận được những chia sẻ và đóng góp của quý bạn đọc. Phần 1: TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI Phần 2: TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM TÀI LIỆU THAM KHẢO Created by AM Word2CHM
  5. Phần 1: TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI Chương 2 - TÂM LÝ HỌC HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Chương 3 - TÂM LÝ HỌC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Created by AM Word2CHM
  6. Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM à Phần 1: TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI TỔNG QUAN * Với mục tiêu giúp sinh viên nêu được quan điểm đúng đắn và tích cực về trẻ em và sự phát triển tâm lý trẻ em, biết nhận diện cac quy luật phát triển tâm lý và biết phân tích vai trò của các yếu tố bẩm sinh di truyền, môi trường sống, giáo dục và hoạt động và giao tiếp đối với sự phát triển tâm lý cá nhân cũng như nắm vững các giai đoạn phát triển tâm lý của một đời người; chương 1 sẽ là các câu hỏi để ôn tập những nội dung cơ bản sau: 1. Khái niệm chung về sự phát triển tâm lý trẻ em 2. Các quy luật phát triển tâm lý trẻ em 3. Các yếu tố tác động đến sự phát triển tâm lý trẻ em 4. Phân chia các giai đoạn phát triển tâm lý
  7. trẻ em * Song song với tài liệu này, sinh viên có thể tham khảo thêm các tài liệu sau: 1. TLH Lứa tuổi và TLH Sư phạm (1995), Vụ Đại học, NXB Hà Nội. 2. TLH Lứa tuổi và TLH Sư phạm (1998), PGS Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan – Nguyễn Văn Thàng, NXB Giáo Dục. 3. Tâm lý học trẻ em (1998), Nguyễn Ánh Tuyết, NXB Giáo Dục. Câu hỏi: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm được ra đời để nghiên cứu đối tượng gì và thực hiện những nhiệm vụ nào? Từ đó nêu lên ý nghĩa lý luận và thực tiễn của môn học này? Trả lời: Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm: a. Đối tượng nghiên cứu:
  8. - Đối tượng của Tâm lý học lứa tuổi là động lực phát triển tâm lý theo lứa tuổi của con người; sự phát triển cá thể của các quá trình tâm lý và các phẩm chất tâm lý trong nhân cách của con người đang được phát triển (quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào); - Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của các quá trình và các phẩm chất tâm lý riêng lẻ của cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhân trong phạm vi một lứa tuổi, nghiên cứu những khả năng lứa tuổi của việc lĩnh hội tri thức, phương thức hành động ; - Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của các cá nhân đang được phát triển (vui chơi, lao động…) - Do yêu cầu của thực tiễn và thành tựu của khoa học, ngày nay Tâm lý học lứa tuổi có nhiều phân ngành: Tâm lý học trẻ em trước tuổi học, Tâm lý học tuổi nhi đồng, Tâm lý học tuổi thiếu niên, Tâm lý học tuổi thanh niên… - Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học sư
  9. phạm là những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục. - Tâm lý học sư phạm nghiên cứu những vấn đề Tâm lý học của việc điều khiển quá trình dạy học, nghiên cứu sự hình thành quá trình nhận thức, tìm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí tuệ và xác định những điều kiện để đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệu quả trong quá trình dạy học, xem xét những vấn đề và mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và học sinh cũng như giữa học sinh với học sinh. Những phân ngành của Tâm lý học sư phạm: Tâm lý học dạy học, Tâm lý học giáo dục và Tâm lý học về người giáo viên. b. Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ những gợi mở về đối tượng nghiên cứu thì Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có nhiệm vụ nghiên cứu như sau: - Rút ra những quy luật chung của sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi, những nhân tố chỉ đạo sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi; - Rút ra những quy luật lĩnh hội tri thức, kỹ
  10. năng kỹ xảo trong quá trình giáo dục và dạy học, những biến đổi tâm lý của học sinh do ảnh hưởng của giáo dục và dạy học… từ đó cung cấp những kết quả nghiên cứu để tổ chức hợp lý quá trình sư phạm, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục và dạy học. c. Ý nghĩa nghiên cứu: Những thành tựu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao. - Về mặt lý luận, các nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm sử dụng các tài liệu của một số khoa học khác, nhưng đến lượt mình nó lại cung cấp tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho các khoa học khác. - Về mặt thực tiễn có thể khẳng định sự hiểu biết về Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là điều kiện cần thiết để tổ chức có hiệu quả và đúng đắn quá trình học tập và giáo dục. Câu hỏi: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
  11. có mối liên hệ gì với nhau? Trả lời: - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác, đặc biệt là Tâm lý học đại cương, giáo dục học, phương pháp giảng dạy bộ môn… - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là những chuyên ngành của Tâm lý học, đều dựa trên cơ sở Tâm lý học đại cương. Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, vì chúng có chung khách thể nghiên cứu. - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm đều nghiên cứu trẻ em trong quá trình dạy học và giáo dục. - Sự phân chia ranh giới giữa hai ngành Tâm lý học này chỉ có tính chất tương đối. Những thành tựu của Tâm lý học lứa tuổi sẽ là những cơ sở quan trọng để Tâm lý học sư phạm vận dụng nhằm định hướng những cơ sở tâm trong việc điều khiển họat động sư
  12. phạm. Ngược lại, Tâm lý học sư phạm sẽ làm cho những kiến thức của Tâm lý học lứa tuổi sẽ cụ thể hơn khi xem xét nó trong hoạt động dạy học và giáo dục theo từng độ tuổi. Câu hỏi: Dưới góc độ Tâm lý học lứa tuổi, hãy cho biết trẻ em là gì. Trình bày sự hiểu biết về khái niệm trẻ em trong Tâm lý học lứa tuổi? Trả lời: Dựa trên những quan điểm triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về trẻ em rất khác nhau: - Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn khác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm...) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau về chất. - Theo J.J. Rútxô (1712 - 1778) : Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn cũng không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ,nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ…vì “Trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”.
  13. - Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội, có nhu cầu giao tiếp với người lớn. Việc nuôi nấng, dạy dỗ trẻ phải theo kiểu người. Mỗi thời đại khác nhau có trẻ em riêng của mình. Tóm lại: Trẻ em là trẻ em mà không phải là người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em là những thực thể đang phát triển. Giới hạn của khái niệm trẻ em là từ lúc mới sinh ra cho đến trước tuổi trưởng thành (trước 18 tuổi). Không nên lấy chuẩn người lớn để so sánh với trẻ em mà lấy trẻ em làm chuẩn so với chính nó trên bình diện rộng. Trẻ em là con đẻ của thời đại và thể hiện “sự thu gọn” sự phát triển lịch sử từ trước đến nay. Câu hỏi: Phân tích ngắn các quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý trẻ em? Trả lời:
  14. - Quan điểm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về số lượng của các hiện tượng đang được phát triển, mà không có sự chuyển biến về chất lượng. - Quan điểm này xem sự phát triển của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát mà người ta không thể điều khiển được, không thể nghiên cứu được, không nhận thức được. - Quan điểm sai lầm này được biểu hiện ở các thuyết sau: 1. Thuyết tiền định: + Thuyết này coi sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật gây ra, con người có tiềm năng này từ khi mới sinh ra và sự phát triển chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường di truyền này. + Các nhà Tâm lý học tư sản cho rằng: những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng đã được mã hóa, chương trình hóa trong các trang bị gen. + Tuy nhiên, có những người theo thuyết này
  15. có đề cập đến yếu tố môi trường. Nhưng theo họ, mmôi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh“, “yếu tố thể hiện“ một nhân tố bất niến nào đó ở trẻ. Nhà Tâm lý học Mỹ E. Tóocđai cho rằng: “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất“ và “vốn tự nhiên“ đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt”, số khác lại tỏ ra lại có thành tích “dù giảng dạy tồi”...) + Từ quan điểm này làm cho con người mất lòng tin vào giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bản thân, họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ yếu, trẻ tốt hay xấu, học giỏi hay kém không phải do giáo dục mà do gien tốt hay xấu. Từ đó, họ đi đến kết luận: Trẻ em khó bảo, năng lực trí tuệ kém phát triển là do bẩm sinh chứ không phải do giáo dục,do môi trường. Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăng nhanh hay kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền. Và họ đã rút ra
  16. kết luận sai sư phạm lầm: mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là sự tùy tiện, không thể tha thứ. 2. Thuyết duy cảm: Đối lập với thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích sự phát triển của trẻ chỉ bằng những tác động của môi trường xung quanh. Theo các tác giả thuộc trường phái này thì: + Môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ em. Vì thế, họ cho rằng, muốn nghiên cứu con người chỉ cần nghiên cứu, phân tích môi trường mà con người sống. + Quan điểm này cho rằng: môi trường xã hội là cái bất biến, quyết định trước sự phát triển tâm lý cá nhân, còn con người được xem như là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng của môi trường. + Mọi người sinh ra đều có sẵn những đặc điểm bẩm sinh như nhau để phát triển trí tuệ và đạo đức. Sự khác nhau giữa các cá nhân về điểm này hay khác là do ảnh hưởng của môi trường, ảnh hưởng của những tác động khác nhau.
  17. Với quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được vì sao trong một môi trường sống như nhau lại có những nhân cách khác nhau. 3. Thuyết hội tụ hai yếu tố: Những người theo quan điểm này cho rằng: Sự tác động qua lại giữa hai yếu tố di truyền và môi trường quyết định trực tiếp quá trình phát triển, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biến những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn thành hiện thực. Theo họ, sự phát triển là sự chín muồi của những năng lực, những nét tính cách, những hứng thú… mà trẻ sinh ra đã có. Những nét và những đặc điểm tính cách do cha mẹ truyền lại cho trẻ dưới dạng có sẵn, bất biến… Một số người theo thuyết này có đề cập đến vai trò của môi trường đối với tốc độ chín muồi của năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ em. Nhưng theo họ, môi trường không phải là toàn bộ những điều kiện và hoàn cảnh mà trẻ em sống mà chỉ là gia đình của trẻ…
  18. * Nhận định các thuyết trên: Mặc dù quan niệm của những người đại diện cho các thuyết trên bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng thực chất đều có những sai lầm giống nhau: + Họ đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến hoặc tiền định hoặc do tiềm năng sinh vật di truyền hoặc ảnh hưởng của môi trường bất biến. Những quan điểm này nhầm phục vụ cho giai cấp bốc lột. (Có nghĩa là sự bất bình đẳng trong xã hội là tất nhiên, là hợp lý). + Họ đánh giá không đúng vai trò của giáo dục, từ đó thiếu biện pháp giáo dục, bi quan trước sản phẩm xấu của giáo dục. Họ xem xét sự phát triển của trẻ một cách tách rời và không phụ thuộc và những điều kiện cụ thể mà trong đó quá trình phát triển của trẻ diễn ra. + Họ đều cho rằng trẻ em là đối tượng thụ động, cam chịu ảnh hưởng có tính chất quyết định của yếu tố sinh vật hoặc môi trường… Họ phủ nhận tính tích cực riêng của cá nhân, coi thường những mâu thuẫn biện chứng được hình thành trong quá trình phát triển tâm lý của cá nhân, mà không thấy được con
  19. người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể có ý thức sáng tạo nên hoàn cảnh. Câu hỏi: Trình bày nội dung cơ bản của thuyết tiền định. Đưa ra những nhận xét cơ bản về thuyết này trên phương diện sự phát triển tâm lý. Trả lời: Nội dung cơ bản của thuyết tiền định: - Quan điểm của thuyết này cho rằng di truyền, những đặc điểm bẩm sinh hay chính gen là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển tâm lý trẻ em. Sự phát triển tâm lý do các tiềm năng sinh vật gây ra và con người có tiềm năng đó ngay từ khi ra đời. - Sự phát triển chỉ là một quá trình trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường di truyền này cụ thể đó là sự mã hóa, chương trình hóa được trang bị trong gen. - Cũng theo luận điểm rằng di truyền là yếu tố quyết định sự phát triển tâm lý. Sự phát triển tâm lý các
  20. khả năng của con người là cái có sẵn. Quan điểm này cho thấy di truyền là yếu tố quyết định sự phát triển tâm lý còn môi trường là yếu tố điều chỉnh, biểu hiện của tính di truyền mà thôi. Chính di truyền mà không phải yếu tố khác sẽ quy định mức tối đa của sự phát triển - đường hướng và mức độ của nó. - Bẩm sinh di truyền là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển tâm lý cá thể mang vai trò quyết định nhưng môi trường là yếu tố điều chỉnh, biểu hiện của tính di truyền. Một số nhận xét cơ bản về thuyết này trên phương diện sự phát triển tâm lý - Trên bình diện văn hóa cũng khó có thể chối cãi hay loại bỏ vai trò của di truyền tuy nhiên không thể nói rằng di truyền quyết định văn hóa. Bản thân văn hóa luôn luôn phát triển biến động thì di truyền đến một lúc nào đó sẽ rất có thể theo kịp sự phát triển này. Hơn nữa, vì tính chất di truyền nên các cá thể đã khác nhau từ lúc đầu (khi con người được sinh ra) và liên tục vì văn hóa khác nhau con người lại liên tục khác nhau và vì thế không thể cho rằng di truyền quy định văn hóa.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2