intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại trường Đại học Sài Gòn

Chia sẻ: ViColor2711 ViColor2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
4
lượt xem
0
download

Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại trường Đại học Sài Gòn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích thực trạng dạy và học môn Tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn. Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 14 giảng viên đã và đang giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế và 180 sinh viên tham gia chương trình này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê phi tham số làm công cụ phân tích dữ liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại trường Đại học Sài Gòn

  1. VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 244-248 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN Trần Ngọc Mai - Nguyễn Hoàng Mỹ Thanh - Huỳnh Ngọc Trang Trường Đại học Sài Gòn Ngày nhận bài: 10/03/2019; ngày sửa chữa: 02/04/2019; ngày duyệt đăng: 10/04/2019. Abstract: The purpose of this article is to analyze the status of teaching and learning of English for specific purposes at Saigon University. The research sample is a group of 14 lecturers who have been teaching this subject and 180 students participating in this program. The non-parametric statistics methods is employed as a data analysis tool. Results of study indicate some limitations of the program, including the content of the syllabus, curriculum, professional qualifications of teachers, teaching methods, qualifications of students and number of students in class. Keywords: Specialized English, status of teaching and learning, non-parametric statistical methods. 1. Mở đầu 2.1. Khái quát chung về vấn đề dạy và học tiếng Anh Hiện nay, dân số thế giới xấp xỉ 7,5 tỉ người, trong đó chuyên ngành có khoảng 1,5 tỉ người nói tiếng Anh (chiếm khoảng 20% Theo Hutchinson, T. and A. Water, tiếng Anh chuyên tổng dân số toàn cầu) [1] và hầu hết những người này ngành (English for specific purposes - ESP) là thuật ngữ không nói tiếng Anh như tiếng bản ngữ. Ngoài việc được dùng để chỉ tiếng Anh được dùng trong chuyên môn làm sử dụng rộng rãi, tiếng Anh là ngôn ngữ nước ngoài được việc hoặc để phục vụ công việc ở từng chuyên ngành nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới. khác nhau [4]. Robinson cho rằng tiếng Anh chuyên Xét trên phương diện chính sách ngôn ngữ, không có ngành là các khoá học tiếng Anh thường hướng tới mục quốc gia nào trên thế giới đặt nặng vai trò của năng lực tiêu cuối cùng và dựa trên cơ sở khảo sát, phân tích nhu ngoại ngữ (tiếng Anh) trong đào tạo và sử dụng nhân lực cầu nhằm xác định cụ thể học viên phải làm gì và làm như ở Việt Nam [2]. Trong chương trình đào tạo đại học, được gì thông qua phương tiện tiếng Anh [5]. Trong khi cao đẳng, tiếng Anh là một môn học bắt buộc cho hầu đó, Richards và Schmidt cho rằng tiếng Anh chuyên hết các ngành đào tạo và là một trong những điều kiện ngành là tiếng Anh được sử dụng để làm phương tiện không thể thiếu để được công nhận tốt nghiệp. truyền đạt thông tin và được giới hạn trong mỗi lĩnh vực Kể từ năm học 2012-2013, quy định của Bộ GD-ĐT nhất định, tiếng Anh chuyên ngành chứa đựng những từ yêu cầu áp dụng chuẩn đầu ra về tiếng Anh cho sinh viên vựng, ngữ pháp và đặc trưng ngôn ngữ khác với tiếng (SV) đại học các khối không chuyên ngữ [3]. Điều này Anh thông thường [6]. Hiện nay, căn cứ trên mục đích đang góp phần thúc đẩy việc dạy và học ngoại ngữ ở các của khóa học thì tiếng Anh chuyên ngành được phân loại trường đại học, cao đẳng trở nên đáng quan tâm và cấp một cách tương đối như hình 1: thiết hơn. Phần lớn SV nhận thức được tầm quan trọng đó và đã có những thay đổi thích ứng trong việc học ngoại ngữ với kì vọng sau khi ra trường nắm bắt được nhiều cơ hội. Tuy vậy, nhìn chung kết quả học tiếng Anh của SV khối không chuyên ngữ chưa đạt kết quả như mong muốn, thực trạng SV học tiếng Anh nhưng không sử dụng được, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành chưa đáp ứng kì vọng nhà tuyển dụng. Nguyên nhân vì sao như vậy là câu hỏi được những nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và luận giải. Theo Basturkmen, tiếng Anh cho mục đích học thuật là Bài viết xem xét thực trạng dạy và học tiếng Anh được sử dụng trong các ấn phẩm học thuật như các tạp chuyên ngành của khối ngành Kinh tế tại Trường Đại học chí y học, pháp lí, khoa học công nghệ, kinh tế tài chính... Sài Gòn (khối không chuyên ngữ) bằng phương pháp Tiếng Anh cho mục đích nghề nghiệp được sử dụng bởi định lượng. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất một những người có chuyên môn cao như bác sĩ, luật sư và số biện pháp cải thiện tình trạng này trong thời gian tới. những người có chuyên môn nhưng ít chuyên nghiệp hơn 2. Nội dung nghiên cứu như khối công nhân kĩ thuật, kĩ thuật viên,... [8]. 244
  2. VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 244-248 Cho đến nay, tiếng Anh chuyên ngành đã được triển học Sài Gòn. Để đánh giá thực trạng dạy và học tiếng khai tại Việt Nam khá lâu, tuy nhiên thực tế vẫn còn tồn Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn, tại những vấn đề hạn chế nhất định đến từ cả hai phía nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng, phân người học lẫn người dạy dẫn đến kết quả đào tạo tiếng Anh tích dựa trên phương pháp thống kê suy diễn; các kết luận chuyên ngành vẫn chưa đạt được kì vọng. Theo Lâm được rút ra dựa trên kết quả kiểm định theo các phương Quang Đông thì hầu hết những đề cương chương trình và pháp thống kê phi tham số. giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được xây dựng dựa 2.2.2. Kết quả phân tích trên kinh nghiệm mà không được tiến hành phân tích nhu - Nội dung chương trình đào tạo (bảng 1): cầu thật thấu đáo, cẩn thận, kể cả nhu cầu của học viên lẫn Chương trình tiếng Anh chuyên ngành được thiết kế đòi hỏi trong thực tế công việc của chuyên ngành định với thời lượng 3 tín chỉ (45 tiết), nội dung chương trình giảng dạy. Nguyên nhân của thực trạng này được cho là do kinh phí biên soạn đề cương giáo trình còn hạn hẹp chủ yếu dựa vào những giáo trình sẵn có mà chưa thực chưa phân bổ hợp lí hoặc chưa có những chính sách hiện biên soạn dựa trên kết quả khảo sát nhu cầu của khuyến khích phù hợp trong quá trình biên soạn. Một số người học hoặc đánh giá của các chuyên gia trong ngành, chuyên ngành có nhiều khái niệm, thuật ngữ đặc thù, mà nhu cầu của người sử dụng lao động của ngành đó. Vì muốn giảng dạy được tiếng Anh chuyên ngành, giáo viên vậy, nội dung của chương trình còn nhiều bất cập so với tiếng Anh cũng phải có kiến thức nhất định về những khái mục tiêu đề ra. Để đánh giá sự phù hợp của nội dung niệm, thuật ngữ đó. Tuy nhiên, giảng viên (GV) tiếng Anh chương trình tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế so với mục chuyên ngành hiện nay phần lớn không có chuyên môn tiêu đào tạo, nghiên cứu sử dụng thang đo thứ bậc gồm 4 sâu về ngành đang dạy, họ chưa được đào tạo bài bản về mức độ (1: Không phù hợp, 2: Tương đối phù hợp, kiến thức chuyên ngành mà chủ yếu là tự học dẫn đến rất 3: Phù hợp, 4: Rất phù hợp). Bảng 1. Kiểm định sự phù hợp của nội dung chương trình so với mục tiêu Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) 2. Tương đối phù hợp 11 78,6 78,6 Trung vị: 2 3. Phù hợp 3 21,4 100,0 Total 14 100,0 Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-2,138; Asymp. Sig.=.033 Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25 nhiều những khái niệm, định nghĩa chuyên ngành không Kết quả bảng 1 cho thấy, giá trị trung vị (median) bằng được phân tích, giải thích đầy đủ, thấu đáo [9]. 2, trong số 14 ý kiến được khảo sát thì nội dung chương Mặt khác, phương pháp giảng được áp dụng chủ yếu trình so với mục tiêu được đánh giá tương đối phù hợp là đọc và dịch nhằm giải thích cấu trúc ngữ pháp và tăng chiếm tỉ lệ cao (78,6%), kế tiếp là phù hợp chiếm 21,4% vốn từ vựng, các phương pháp khác nhằm tăng kĩ năng và các mức độ khác không được lựa chọn. Mặt khác, kiểm giao tiếp hầu hết chưa được áp dụng phổ biến [10]; trình định Wilconxon có ý nghĩa thống kê mức 5% (Sig.=0,033) độ học viên học tiếng Anh chuyên ngành không đồng đều điều đó khẳng định rằng nội dung chương trình so với mục cũng là vấn đề cản trở rất lớn đến cả người học và người tiêu có giá trị nhỏ hơn trung vị, nghĩa là nội dung chương dạy. Bên cạnh đó, sĩ số lớp bố trí chưa hợp lí, phương pháp trình đào tạo chưa thật sự phù hợp với mục tiêu đào tạo. thi cử, đánh giá cũng là một trong những thực trạng đang tồn tại làm cho việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành còn - Nội dung giáo trình (xem bảng 2 trang bên): nhiều bất cập, chưa đáp ứng mục tiêu đào tạo. Hiện nay, giáo trình phục vụ giảng dạy tiếng Anh 2.2. Phân tích thực trạng dạy và học tiếng Anh chuyên chuyên ngành Kinh tế được sử dụng nguyên bản từ nhà ngành Kinh tế tại Trường Đại học Sài Gòn xuất bản nước ngoài, dẫn đến có những nội dung bài học 2.2.1. Phương pháp phân tích chưa thật sự phù hợp với bối cảnh đào tạo tại Việt Nam làm cho người học khó tiếp thu và người dạy khó tiếp Dữ liệu nghiên cứu được thu thập dựa vào bảng câu hỏi được thiết kế sẵn. Bảng câu hỏi được chia làm 2 phần: cận. Để đánh giá nội dung giáo trình giảng dạy tiếng Anh phần thứ nhất với mục đích thu thập những thông tin về chuyên ngành Kinh tế có thật sự phù hợp với mục tiêu nhân khẩu học của người tham gia trả lời phỏng vấn, đào tạo hay không, nghiên cứu sử dụng thang đo thứ bậc phần thứ hai xây dựng các biến đo lường thực trạng dạy gồm 4 mức độ (1: Không phù hợp, 2: Tương đối phù hợp, và học tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế tại Trường Đại 3: Phù hợp, 4: Rất phù hợp). 245
  3. VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 244-248 Bảng 2. Kiểm định sự phù hợp của nội dung giáo trình so với mục tiêu Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) 1. Không phù hợp 1 7,10 7,10 2. Tương đối phù hợp 10 71,4 78,5 Trung vị: 2 3. Phù hợp 3 21,5 100,0 Total 14 100,0 Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-2,668; Asymp. Sig.=.008 Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25 Kết quả bảng 2 cho thấy, giá trị trung vị (median) bằng giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế hiện nay chủ 2, trong số 14 ý kiến được khảo sát thì nội dung giáo trình yếu bằng phương pháp ngữ pháp. so với mục tiêu được đánh giá tương đối phù hợp chiếm tỉ - Kiến thức chuyên ngành của GV (xem bảng 4 trang bên): lệ cao (71,4%), kế tiếp là phù hợp chiếm 21,5%, không Phần lớn GV giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành phù hợp là 7,1% và các mức độ khác không được lựa chọn. Kinh tế được đào tạo bài bản và có chuyên môn sâu về Mặt khác, kiểm định Wilconxon có ý nghĩa thống kê mức ngôn ngữ học nhưng với những kiến thức về chuyên 5% (Sig.=0,008) điều đó khẳng định rằng nội dung giáo ngành Kinh tế thì họ vẫn còn có những hạn chế nhất định, trình so với mục tiêu có giá trị nhỏ hơn trung vị, nghĩa là dẫn đến việc diễn giải các khái niệm, định nghĩa, các nội dung giáo trình đào tạo tiếng Anh chuyên ngành Kinh thuật ngữ chưa thật sự thấu đáo, mang tính đa chiều. Kết tế chưa thật sự đáp ứng với mục tiêu. quả khảo sát cho thấy lượng kiến thức đáp ứng một phần - Phương pháp giảng dạy (bảng 3): cho giảng dạy chuyên ngành chiếm tỉ lệ cao (85,7%) và Mặc dù nội dung của đề cương thiết kế với kì vọng chỉ 2 ý kiến cho rằng hoàn toàn đáp ứng (14,5%). đảm bảo hoàn thiện bốn kĩ năng cho người học gồm nghe, Kết quả kiểm định Wilcoxon có ý nghĩa thống kê mức nói, đọc và viết, nhưng trong thực tế phương pháp giảng 10% (Sig.=.084) và trung vị mẫu nhỏ hơn trung vị tổng dạy chưa đáp ứng mục tiêu này. Phần lớn GV dạy tiếng thể, chứng tỏ rằng kiến thức chuyên ngành của GV chỉ đáp Anh chuyên ngành Kinh tế thường sử dụng phương pháp ứng một phần khi giảng tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế. đọc và dịch (Grammar Translation Method) mà chưa phối - Trình độ SV (xem bảng 5 trang bên): kết hợp hiệu quả những phương pháp khác, dẫn đến kết Mặc dù trước khi tham gia lớp tiếng Anh chuyên quả giảng dạy chưa đáp ứng kì vọng của người học. Nhằm ngành Kinh tế, SV đã được thi xếp lớp theo trình độ, đánh giá sự tin cậy của phương pháp giảng dạy, nghiên nhưng vẫn còn tồn tại thực trạng trình độ SV mỗi lớp cứu này sử dụng thang đo định danh gồm 1: Phương pháp không đồng đều, dẫn đến khó khăn cho GV khi thiết kế ngữ pháp, 2: Phương pháp nghe nói, 3: Phương pháp giao bài giảng. Trình độ SV hạn chế dẫn đến rất khó để tiếp thu tiếp, 4: Phương pháp tổng hợp [11]. các từ vựng cũng như các thuật ngữ chuyên ngành kinh tế. Kết quả thống kê trong bảng 3 cho thấy phương pháp Kết quả khảo sát 180 SV (bảng 5) cho thấy SV xếp ngữ pháp thường xuyên được sử dụng trong giảng dạy loại khá chiếm tỉ lệ cao (71,11%), loại trung bình chiếm tiếng Anh chuyên ngành Kinh tế (chiếm 57,1%), phương 19,44%, loại trung bình yếu 5%, loại giỏi chiếm 3,89%, pháp nghe nói chiếm 35,7% và chỉ có 7,2% GV sử dụng đặc biệt xếp loại kém là 1%. phương pháp giao tiếp, đặc biệt là phương pháp tổng hợp Mặt khác, kết quả phân tích phương sai một yếu tố không được sử dụng trong giảng dạy. Mặt khác kiểm (bảng 6) cho thấy thống kê F có ý nghĩa thống kê mức định phi tham số Wilcoxon có ý nghĩa thống kê mức 5% 5% (Sig.=0,000). Điều đó khẳng định rằng trình độ của (Sig.=.002), một lần nữa khẳng định rằng phương pháp SV có sự khác biệt (có ý nghĩa). Bảng 3. Kiểm định các phương pháp giảng dạy so với mục tiêu Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) 1. Phương pháp ngữ pháp 8 57,1 57,1 2. Phương pháp nghe nói 5 35,7 92,8 Trung vị: 1 3. Phương pháp giao tiếp 1 7,2 100,0 Total 14 100,0 Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-3,090; Asymp. Sig.=.002 Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25 246
  4. VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 244-248 Bảng 4. Kiểm định mức độ đáp ứng kiến thức chuyên ngành của GV Mức độ Tần số % Phần trăm tích lũy (%) 2. Đáp ứng một phần 12 85,7 85,7 Trung vị: 2 4. Hoàn toàn đáp ứng 2 14,3 100,0 Total 14 100,0 Wilcoxon Signed Ranks Test: Z=-1.728; Asymp. Sig.=.084 Nguồn: Kết quả xử lí dữ liệu từ SPSS 25 Bảng 5. Phân loại điểm trung bình Điểm số Tần số TB ĐLC % GTNN GTLN
  5. VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 244-248 nhất cho GV nâng cao trình độ và kiến thức chuyên [11] Harmer, J. (2015). The Practice of English ngành để đáp ứng nhu cầu giảng dạy một cách hiệu quả. Language Teaching Fifth Edition. Pearson - Đối với việc học: nhà trường cần phải thực hiện điều Education Limited. kiện tiên quyết một cách nghiêm ngặt để sàng lọc trình [12] Nguyễn Quyết (2018). Ứng dụng mô hình hồi quy độ SV trước khi tham gia lớp học tiếng Anh chuyên logit thứ bậc phân tích kết quả học môn Tiếng Anh ngành. Nghĩa là SV bắt buộc phải hoàn thành các học của sinh viên trường đại học ngoài công lập tại phần tiếng Anh tổng quát khi đó mới có đủ nền tảng kiến Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Giáo dục, số 444, thức để tham gia vào lớp tiếng Anh chuyên ngành. Bên tr 48-54. cạnh đó, nhà trường cần sắp xếp sĩ số lớp một cách hợp [13] Julie Pallant (2007). SPSS-Survival Manual. Open lí, khoa học và trang bị tốt các phương tiện hỗ trợ giúp University Press. GV phát huy tối đa hiệu quả phương pháp giảng dạy, giúp người học tiếp thu tốt nhất nội dung bài giảng. Tài liệu tham khảo NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH... [1] M.Samanth Reddy (2016). Importance of English (Tiếp theo trang 180) language in today’s world. International Journal of Academic Research, Vol. 3, Issue-4(2), pp. 179-184. Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi mới chỉ trình [2] Vũ Thị Phương Anh - Nguyễn Bích Hạnh (2005). bày tóm lượt về quan niệm chương trình, phân tích nội Năng lực tiếng anh của sinh viên các trường đại học dung chương trình môn Toán, nội dung CTGD môn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trước yêu cầu Toán theo chương trình mới ở Việt Nam và nội dung của một nền kinh tế tri thức: thực trạng và những chương trình môn Toán ở một số nước trên thế giới. Hi giải pháp. Báo cáo hội thảo khoa học, Đại học Quốc vọng từ đó có thể giúp cho các nhà quản lí, nghiên cứu gia TP. Hồ Chí Minh. giáo dục có những định hướng trong các nghiên cứu tiếp [3] Bộ GD-ĐT (2012). Công văn số 7274 /BGDĐT- theo khi xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa GDĐH về việc Hướng dẫn thực hiện kế hoạch triển mới nhằm phát triển năng lực cho người học, phát huy khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 trong các cơ được khả năng, sở trường của từng em trong quá trình sở giáo dục đại học. dạy học môn Toán ở trung học phổ thông. [4] Hutchinson, T - Waters, A. (1987). English for specific purposes, A learningcentred approach. Tài liệu tham khảo Cambridge: Cambridge Universiti Press. [1] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ [5] Robinson, P (1991). ESP today: A practitioner’s thông - Chương trình tổng thế. guide. Hemel Hemstead: Prentice Hall. [2] Nguyễn Thị Lan Phương (chủ biên, 2016). Chương [6] Richards, Jack C. - Richard W. Schmidt (2010). trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người Longman Dictionary of Language Teaching and học. NXB Giáo dục Việt Nam. Applied Linguistics, fourth edition. London: [3] Nguyễn Hữu Châu (2005). Những vấn đề cơ bản về Longman (Pearson Education). chương trình và quá trình dạy học. NXB Giáo dục. [7] Huhta M. (2010). Language and communication for [4] Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987). Giáo dục học professional purposes. Needs analysis methods in (tập 1). NXB Giáo dục industry and business and their yield to stakeholders. Yliopistopaino, Espoo. [5] Trần Công Phong - Nguyễn Thị Hồng Vân (2016). Xu thế phát triển Chương trình giáo dục phổ thông [8] Basturkmen, Helen (2010). Developing Courses for trên thế giới. NXB Giáo dục Việt Nam. English for Specifc Purposes. New York: Pelgrave- Macmillan. [6] Ministry of Education (2008). The Alberta Curriculum Grades 10-12. [9] Lâm Quang Đông (2011). Tiếng Anh chuyên ngành - Một số vấn đề về nội dung giảng dạy. Tạp chí Ngôn [7] Ministry of Education Singapore (2013). O - & N(A) - ngữ và đời sống, số 11(193), tr 27-32. Level Mathematics Teaching and Learning Syllabus. [10] Nguyễn Hoàng Tuấn (2007). Một vài suy nghĩ về việc [8] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ dạy tiếng Anh chuyên ngành ở bậc đại học. Giảng dạy thông môn Toán. tiếng Anh bậc đại học ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp. [9] Bộ GD-ĐT (2006). Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr 19-31. thức, kĩ năng môn Toán lớp 10, 11, 12. 248

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản