intTypePromotion=1

Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La về hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

Chia sẻ: DanhVi DanhVi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
10
lượt xem
0
download

Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La về hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La về hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực cũng như một số khó khăn mà giáo viên gặp phải khi đánh giá học sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La về hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 427 (Kì 1 - 4/2018), tr 11-14<br /> <br /> THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TỈNH SƠN LA<br /> VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC<br /> Lê Thị Thu Hà - Trường Đại học Tây Bắc<br /> Ngày nhận bài: 01/02/2018; ngày sửa chữa: 09/02/2018; ngày duyệt đăng: 28/02/2018.<br /> Abstract: Capacity-based assessment is the process by which teachers collect information, collate<br /> information with standards and provide judgments and solutions about the use of learned<br /> knowledge and skills in real life. Primary school teachers need to be aware of the nature and<br /> importance of this assessment. This paper presents the results of the research on the cognitive status<br /> of primary teachers in Son La province on the assessment of pupils in terms of their access to<br /> capacity as well as some difficulties faced by teachers in evaluating students.<br /> Keywords: Perception, assessment, competency, primary teachers.<br /> làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và<br /> vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện<br /> thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt<br /> ra của cuộc sống” [2; tr 23].<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày<br /> 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới<br /> căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH,<br /> HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã<br /> hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đang tiến<br /> hành đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông<br /> theo định hướng phát triển năng lực (NL) người học.<br /> Cùng với đó, phải thay đổi về phương pháp giáo dục và<br /> đổi mới cách đánh giá học sinh (HS), với yêu cầu tập<br /> trung đánh giá xem HS đã vận dụng kiến thức, kĩ năng<br /> học ở nhà trường vào thực tiễn cuộc sống như thế nào?<br /> Để làm được điều này, giáo viên (GV) phải chú trọng<br /> đến việc hình thành các phẩm chất và NL cho HS thông<br /> qua các bài học, môn học.<br /> <br /> Tiếp cận NL là quan điểm xem xét, giải quyết vấn đề<br /> NL, tức là quan điểm xem xét, giải quyết việc vận dụng<br /> những kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết thành<br /> công nhiệm vụ cụ thể trong tình huống xác định.<br /> Như vậy, có thể hiểu: đánh giá theo tiếp cận NL là<br /> quá trình thu thập các thông tin, đối chiếu các thông tin<br /> với chuẩn và đưa ra nhận định, giải pháp về khả năng<br /> vận dụng kiến thức đã học của HS vào các nhiệm vụ cụ<br /> thể trong tình huống xác định.<br /> <br /> Hiện nay, ở bậc tiểu học, việc đánh giá HS cũng được<br /> chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL. Sự thay<br /> đổi đó đã và đang là mối quan tâm của các nhà quản lí<br /> giáo dục, GV và phụ huynh HS. Ở tỉnh Sơn La, đánh giá<br /> HS tiểu học theo hướng tiếp cận NL cũng đã được triển<br /> khai, tuy nhiên không phải tất cả GV đều nhận thức đầy<br /> đủ và sâu sắc về vấn đề này. Bài viết trình bày kết quả<br /> khảo sát thực trạng nhận thức của GV tiểu học ở tỉnh Sơn<br /> La về đánh giá HS theo tiếp cận NL và một số khó khăn<br /> khi đánh giá HS theo tiếp cận NL.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực<br /> Có rất nhiều cách hiểu về NL dưới nhiều góc độ khác<br /> nhau: góc độ tâm lí, góc độ giáo dục... Dưới góc độ tâm<br /> lí, NL là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân<br /> đáp ứng yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt<br /> động ấy đạt kết quả cao [1; tr 237] hay “NL là khả năng<br /> <br /> Đánh giá theo tiếp cận NL là một xu thế tất yếu của<br /> giáo dục trong thời kì mới. Đối với giáo dục phổ thông<br /> nói chung, việc đánh giá theo tiếp cận NL giúp con người<br /> có được sự chủ động, tự tin và xử lí được nhiều tình<br /> huống trong học tập cũng như trong cuộc sống.<br /> 2.2. Khách thể và phương pháp nghiên cứu<br /> Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của GV tiểu học ở<br /> tỉnh Sơn La về đánh giá HS theo tiếp cận NL, chúng tôi<br /> tiến hành khảo sát trên 180 GV của 06 trường tiểu học<br /> (Quyết Tâm, Trần Quốc Toản, Quang Huy, Suối Bau,<br /> Hải Sơn, Chiềng Khoong) thuộc 3 huyện Sông Mã, Phù<br /> Yên và TP. Sơn La từ tháng 7-12/2017 bằng nhiều<br /> phương pháp nghiên cứu như: điều tra bằng bảng hỏi,<br /> phỏng vấn sâu, phương pháp thống kê toán học và sử<br /> dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lí số liệu.<br /> 2.3. Kết quả nghiên cứu<br /> 2.3.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về<br /> hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực (xem<br /> bảng 1)<br /> <br /> 11<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 427 (Kì 1 - 4/2018), tr 11-14<br /> <br /> Bảng 1. Nhận thức của GV tiểu học về hoạt động<br /> đánh giá HS theo tiếp cận NL<br /> STT<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> <br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> 12<br /> 13<br /> <br /> Nội dung<br /> <br /> ∑<br /> <br /> Thu thập thông tin<br /> Quan sát các biểu hiện về NL<br /> 460<br /> của HS<br /> Trò chuyện với HS<br /> 395<br /> Ghi chép những biểu hiện về<br /> 327<br /> NL của HS<br /> Thiết kế đề kiểm tra theo<br /> 430<br /> hướng phát huy NL của HS<br /> Đối chiếu thông tin với chuẩn<br /> Đánh giá vì sự tiến bộ của HS 433<br /> Dựa vào chuẩn kiến thức kĩ<br /> 470<br /> năng từng môn học<br /> Dựa vào các chỉ báo về các NL<br /> 305<br /> để đánh giá HS<br /> Đưa ra nhận định và giải pháp<br /> Đưa ra lời nhận xét mang tính<br /> 320<br /> tích cực<br /> Thường xuyên động viên,<br /> 423<br /> khích lệ HS<br /> Không so sánh HS này với HS<br /> 411<br /> khác<br /> Ghi nhận mọi kết quả và sự cố<br /> 444<br /> gắng của HS<br /> Đưa HS vào những tình huống<br /> 374<br /> trải nghiệm thực tiễn<br /> Kết hợp với phụ huynh HS<br /> 273<br /> trong việc đánh giá NL<br /> <br /> Điểm<br /> trung<br /> bình<br /> (ĐTB)<br /> <br /> Thứ<br /> bậc<br /> <br /> 2,56<br /> <br /> 2<br /> <br /> 2,19<br /> <br /> 8<br /> <br /> 1,82<br /> <br /> 10<br /> <br /> 2,39<br /> <br /> 5<br /> <br /> 2,41<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2,61<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,69<br /> <br /> 12<br /> <br /> 1,78<br /> <br /> 11<br /> <br /> 2,35<br /> <br /> 6<br /> <br /> 2,28<br /> <br /> 7<br /> <br /> 2,47<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2,08<br /> <br /> 9<br /> <br /> 1,52<br /> <br /> 13<br /> <br /> Có rất ít GV cho rằng, đánh giá HS theo tiếp cận NL<br /> là “Kết hợp với phụ huynh HS trong việc đánh giá NL”<br /> và “Dựa vào các chỉ báo về NL để đánh giá HS” (với<br /> ĐTB = 1,52 và 1,69) vì theo họ, việc đánh giá HS là do<br /> GV đánh giá trên lớp học và tại trường học còn phụ<br /> huynh cũng không mấy quan tâm đến vấn đề này và nó<br /> đang là xu hướng đánh giá khá mới mẻ. Bên cạnh đó,<br /> khái niệm “chỉ báo về NL” là một khái niệm còn xa lạ<br /> đối với GV tiểu học vùng cao, họ vẫn đánh giá HS theo<br /> cách “truyền thống” là dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng<br /> của từng môn học.<br /> 2.3.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về tầm<br /> quan trọng của hoạt động đánh giá học sinh theo tiếp<br /> cận năng lực (xem bảng 2)<br /> Bảng 2. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của hoạt<br /> động đánh giá HS theo tiếp cận NL<br /> STT<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> Bảng 1 cho thấy: đa số GV tiểu học đều cho rằng,<br /> hoạt động đánh giá HS theo tiếp cận NL là: “dựa vào<br /> chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học” với ĐTB là 2,61.<br /> Như vậy, đây vẫn là cách đánh giá “truyền thống”, nặng<br /> về đánh giá kiến thức hơn là đánh giá NL được hình<br /> thành ở HS. Tiếp đến là “Quan sát các biểu hiện về NL<br /> của HS” với ĐTB = 2,56. Nếu như trước đây lấy điểm<br /> số cuối cùng để đánh giá HS thì hiện nay GV cần thường<br /> xuyên quan sát, theo dõi các biểu hiện về NL của HS để<br /> làm căn cứ đánh giá, xếp loại. Kết quả này cho thấy, phần<br /> lớn GV đã hiểu được việc đánh giá theo NL không phải<br /> nặng về điểm số mà quan trọng là việc đánh giá phải<br /> được thực hiện thường xuyên hàng ngày và thông qua<br /> việc quan sát các biểu hiện về NL của HS. Từ khi thực<br /> hiện đánh giá HS theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT<br /> của Bộ GD-ĐT, nhiều GV đã hiểu đánh giá HS theo tiếp<br /> cận NL là đánh giá thường xuyên bằng nhận xét và cần<br /> “Ghi nhận mọi kết quả và sự cố gắng của HS” để từ đó<br /> các em có thể nhận biết được “giá trị” của bản thân mình.<br /> <br /> 12<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> Nội dung<br /> <br /> Mức độ nhận thức<br /> Không<br /> Quan<br /> Bình<br /> quan<br /> ĐTB<br /> trọng thường<br /> trọng<br /> Thu thập thông tin<br /> <br /> Quan sát<br /> các biểu<br /> hiện về<br /> 70<br /> 107<br /> 3<br /> NL của<br /> HS<br /> Trò<br /> chuyện<br /> 65<br /> 103<br /> 12<br /> với HS<br /> Ghi chép<br /> những<br /> biểu hiện<br /> 32<br /> 81<br /> 67<br /> về NL<br /> của HS<br /> Thiết kế<br /> đề kiểm<br /> tra theo<br /> hướng<br /> 147<br /> 3<br /> 30<br /> phát huy<br /> NL của<br /> HS<br /> Đối chiếu thông tin với chuẩn<br /> Đánh giá<br /> vì sự tiến<br /> 33<br /> 136<br /> 11<br /> bộ của<br /> HS<br /> Dựa vào<br /> chuẩn<br /> kiến thức<br /> 176<br /> 4<br /> 0<br /> kĩ năng<br /> từng môn<br /> học<br /> <br /> Thứ<br /> bậc<br /> <br /> 2,37<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2,29<br /> <br /> 5<br /> <br /> 1,81<br /> <br /> 12<br /> <br /> 2,65<br /> <br /> 2<br /> <br /> 2,12<br /> <br /> 8<br /> <br /> 2,98<br /> <br /> 1<br /> <br /> VJE<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12<br /> <br /> 13<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 427 (Kì 1 - 4/2018), tr 11-14<br /> <br /> Dựa vào<br /> các chỉ<br /> báo về<br /> 4<br /> 176<br /> 0<br /> các NL<br /> để đánh<br /> giá HS<br /> Đưa ra nhận định và giải pháp<br /> Đưa ra<br /> lời nhận<br /> xét mang<br /> 67<br /> 38<br /> 75<br /> tính tích<br /> cực<br /> Thường<br /> xuyên<br /> động<br /> 85<br /> 50<br /> 45<br /> viên,<br /> khích lệ<br /> HS<br /> Không so<br /> sánh HS<br /> 92<br /> 30<br /> 58<br /> này với<br /> HS khác<br /> Ghi nhận<br /> mọi kết<br /> quả và sự<br /> 65<br /> 38<br /> 77<br /> cố gắng<br /> của HS<br /> Đưa HS<br /> vào<br /> những<br /> tình<br /> 12<br /> 70<br /> 98<br /> huống<br /> trải<br /> nghiệm<br /> thực tiễn<br /> Kết hợp<br /> với phụ<br /> huynh<br /> 123<br /> 23<br /> 34<br /> HS trong<br /> việc đánh<br /> giá NL<br /> <br /> 2,02<br /> <br /> 9<br /> <br /> 1,96<br /> <br /> 10<br /> <br /> 2,22<br /> <br /> 6<br /> <br /> 2,19<br /> <br /> 7<br /> <br /> 1,93<br /> <br /> 11<br /> <br /> các tình huống khác nhau, từ đó hình thành NL tư duy,<br /> khả năng sáng tạo cho HS. Khi đánh giá HS theo hướng<br /> tiếp cận NL, GV cần “Đưa HS vào các tình huống trải<br /> nghiệm thực tiễn”, bởi nếu GV quá lạm dụng vào việc<br /> dạy lí thuyết thì HS sẽ máy móc, thụ động.<br /> Theo ý kiến của một số GV tiểu học tỉnh Sơn La thì<br /> yếu tố ít quan trọng trong đánh giá HS theo tiếp cận NL<br /> là “Kết hợp với phụ huynh HS trong quá trình đánh giá”<br /> với ĐTB là 1,52 bởi theo họ, thực tế nhiều phụ huynh<br /> không dành thời gian để trao đổi với GV về tình hình con<br /> cái của mình một cách thường xuyên, liên tục. Cô<br /> Nguyễn Ngọc B. (GV Trường Tiểu học Chiềng Khoong)<br /> chia sẻ: “Nhiều phụ huynh đi họp chỉ mong sao cô giáo<br /> nhanh nhanh thông báo các khoản tiền nộp của con để<br /> còn về làm việc khác, chứ họ ít quan tâm đến các NL của<br /> con mình”.<br /> 2.3.3. Một số khó khăn của giáo viên tiểu học khi đánh<br /> giá học sinh theo tiếp cận năng lực<br /> Trong quá trình thực hiện đánh giá HS theo tiếp cận<br /> NL, GV tiểu học tỉnh Sơn La gặp rất nhiều khó khăn, điều<br /> đó đã ảnh hưởng đến kết quả đánh giá (xem bảng 3).<br /> Bảng 3. Khó khăn của GV khi đánh giá HS<br /> theo tiếp cận NL<br /> STT<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 2,49<br /> <br /> 3<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> <br /> 1,52<br /> <br /> 5<br /> <br /> 13<br /> <br /> 6<br /> <br /> Bảng 2 cho thấy: đa số GV tiểu học của tỉnh Sơn La<br /> đều cho rằng, yếu tố quan trọng nhất của đánh giá HS<br /> theo tiếp cận NL là “Dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng<br /> của từng môn học” với ĐTB = 2,98, xếp thứ 1. Bởi vì,<br /> để đánh giá được NL HS thì GV cần phải có các chuẩn<br /> kiến thức, kĩ năng của từng môn học, đó là tiền đề để hình<br /> thành các NL cần thiết ở trường tiểu học. Tiếp theo là<br /> “Thiết kế đề kiểm tra theo hướng phát huy NL của HS”<br /> (ĐTB =2,65) bởi muốn đánh giá được NL của HS thì<br /> khâu thiết kế đề kiểm tra là vô cùng quan trọng. Khi xây<br /> dựng đề kiểm tra, GV phải đưa ra được những câu hỏi<br /> “mở” giúp HS vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết<br /> <br /> 13<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> 12<br /> 13<br /> <br /> Nội dung<br /> <br /> ∑<br /> <br /> Thu thập thông tin<br /> Chưa thường xuyên quan sát các<br /> 340<br /> biểu hiện về NL của HS<br /> Ít trò chuyện với HS<br /> 416<br /> Chưa biết cách ghi chép những<br /> 370<br /> biểu hiện về NL của HS<br /> GV chưa biết cách thiết kế đề<br /> kiểm tra theo hướng phát huy 515<br /> NL của HS.<br /> Đối chiếu thông tin với chuẩn<br /> Chưa có thói quen đánh giá vì sự<br /> 324<br /> tiến bộ của HS<br /> Nặng về việc dựa vào chuẩn<br /> 394<br /> kiến thức kĩ năng từng môn học<br /> Ít dựa vào các chỉ báo về các NL<br /> 347<br /> để đánh giá HS<br /> Đưa ra nhận định và giải pháp<br /> Ít đưa ra lời nhận xét mang tính<br /> 390<br /> tích cực<br /> Ít động viên, khích lệ HS<br /> 471<br /> Hay so sánh HS này với HS<br /> 460<br /> khác<br /> Chưa có thói quen ghi nhận mọi<br /> 500<br /> kết quả và sự cố gắng của HS<br /> Ít đưa HS vào những tình huống<br /> 429<br /> trải nghiệm thực tiễn<br /> Khó kết hợp với phụ huynh HS<br /> 538<br /> trong việc đánh giá NL<br /> <br /> ĐTB<br /> <br /> Thứ<br /> bậc<br /> <br /> 1,89<br /> <br /> 12<br /> <br /> 2,31<br /> <br /> 7<br /> <br /> 2,06<br /> <br /> 10<br /> <br /> 2,86<br /> <br /> 2<br /> <br /> 1,80<br /> <br /> 13<br /> <br /> 2,19<br /> <br /> 8<br /> <br /> 1,93<br /> <br /> 11<br /> <br /> 2,17<br /> <br /> 9<br /> <br /> 2,62<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2,56<br /> <br /> 5<br /> <br /> 2,78<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2,38<br /> <br /> 6<br /> <br /> 2,99<br /> <br /> 1<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số 427 (Kì 1 - 4/2018), tr 11-14<br /> <br /> Bảng 3 cho thấy: khó khăn lớn nhất mà GV gặp phải<br /> khi tiến hành đánh giá HS theo tiếp cận NL là “Khó kết<br /> hợp với phụ huynh HS trong việc đánh giá NL” (ĐTB =<br /> 2,99). Có rất nhiều nguyên nhân như: nhiều phụ huynh<br /> HS là người dân tộc thiểu số, tiếng phổ thông chưa thạo,<br /> thậm chí có phụ huynh còn không biết chữ; hơn nữa, với<br /> họ, khái niệm NL còn trừu tượng và khó hiểu. Khó khăn<br /> tiếp theo mà GV tiểu học gặp phải đó là “Chưa biết cách<br /> thiết kế đề kiểm tra theo hướng phát huy NL của HS”<br /> (ĐTB = 2,86), mặc dù GV đã được tập huấn để thiết kế<br /> đề kiểm tra theo đúng hướng mà Bộ GD-ĐT yêu cầu bao<br /> gồm có 4 mức độ: biết, hiểu, vận dụng trong tình huống<br /> tương tự, vận dụng trong tình huống sáng tạo. Tuy nhiên,<br /> khi thực hiện lại gặp rất nhiều khó khăn, bởi họ không<br /> xác định được các mức độ khi thiết kế đề kiểm tra, khó<br /> lượng hóa mức độ sáng tạo của HS.<br /> Khi đánh giá HS theo hướng tiếp cận NL, GV ít gặp<br /> khó khăn trong việc “Quan sát thường xuyên các biểu<br /> hiện về NL của HS” hay “Đánh giá vì sự tiến bộ của<br /> HS”, vì đây là công việc thường xuyên hàng ngày, hàng<br /> tuần, hàng tháng nên họ nắm bắt được sự tiến bộ của HS.<br /> Bên cạnh đó, việc thực hiện đánh giá HS theo tiếp cận<br /> NL ở các trường vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu<br /> số còn gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế, văn<br /> hóa, xã hội... vì vậy, cần có thời gian để GV thích ứng<br /> với cách đánh giá theo hướng tiếp cận này.<br /> Khó khăn của GV khi đánh giá HS theo tiếp cận NL<br /> có sự khác nhau giữa các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh<br /> Sơn La, xem biểu đồ 1.<br /> 3.5<br /> <br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Nguyễn Xuân Thức (2007). Tâm lí học đại cương.<br /> NXB Đại học Sư phạm.<br /> [2] Nguyễn Công Khanh (chủ biên) - Đào Thị Oanh Lê Mỹ Dung (2014). Kiểm tra, đánh giá trong giáo<br /> dục. NXB Đại học Sư phạm.<br /> [3] Bộ GD-ĐT (2016). Thông tư số 22/2016/TTBGDĐT ngày 22/9/2016 về “Quy định đánh giá học<br /> sinh tiểu học”.<br /> [4] Phó Đức Hòa (2008). Đánh giá trong giáo dục tiểu<br /> học. NXB Đại học Sư phạm.<br /> [5] Nguyễn Khải Hoàn - Nguyễn Bá Đức (2015). Đánh<br /> giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực. NXB<br /> Đại học Thái Nguyên.<br /> [6] Bộ GD-ĐT (2015). Đề án đổi mới chương trình,<br /> sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ban hành kèm<br /> theo Quyết định số 404/QĐ-TTg năm 2015 của Thủ<br /> tướng Chính phủ.<br /> [7] Hoàng Mai Lê (2017). Đổi mới đồng bộ phương<br /> pháp và đánh giá học sinh ở nhà trường tiểu học.<br /> Tạp chí Giáo dục, số 405, tr 1-2; 25.<br /> <br /> 3<br /> 2.5<br /> 2<br /> 1.5<br /> 1<br /> 0.5<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> Thành phố<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> Phù Yên<br /> <br /> HS, sự hợp tác trong đánh giá của HS... GV vùng sâu<br /> vùng xa gặp nhiều khó khăn hơn do nhận thức chưa sâu<br /> sắc về đánh giá theo tiếp cận NL và họ cũng chưa sẵn<br /> sàng đón nhận hướng đánh giá mới. GV vẫn còn gặp<br /> nhiều khó khăn trong cả 3 khâu của quá trình đánh giá.<br /> Đặc biệt là khó khăn trong việc “Thiết kế đề kiểm tra<br /> theo hướng phát huy NL của HS” hay khó khăn “Khó<br /> hợp tác với phụ huynh trong đánh giá HS”. Nhiều GV<br /> chưa biết thiết kế đề kiểm tra theo hướng tiếp cận NL,<br /> vẫn còn đưa ra những câu hỏi nặng về lí thuyết, kiểm<br /> tra kiến thức là chủ yếu.<br /> 3. Kết luận<br /> Đánh giá theo tiếp cận NL là rất quan trọng đối với<br /> HS trong thời kì hiện đại. Nếu GV không nhận thức được<br /> tầm quan trọng của cách đánh giá này thì họ sẽ không<br /> thích ứng được. Việc tìm hiểu nhận thức của GV tiểu học<br /> ở Sơn La về đánh giá theo tiếp cận NL là cơ sở để nâng<br /> cao khả năng thích ứng của GV với việc đánh giá HS<br /> theo hướng mới. Đa số GV tiểu học đã nhận thức được<br /> tầm quan trọng của đánh giá HS theo tiếp cận NL. Tuy<br /> nhiên, giữa nhận thức với thực tế hoạt động đánh giá còn<br /> là một khoảng cách rất xa, bởi khi tiến hành đánh giá theo<br /> hướng này, GV còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại<br /> do các điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau. Để<br /> nâng cao hiệu quả khi đánh giá HS, mỗi GV tiểu học cần<br /> trau dồi, tự học tập nghiên cứu để nhận thức đầy đủ, sâu<br /> sắc về bản chất và tầm quan trọng của đánh giá HS theo<br /> hướng tiếp cận NL.<br /> <br /> 9 10 11 12 13<br /> Sông Mã<br /> <br /> Biểu đồ 1. So sánh khó khăn của GV khi đánh giá HS theo<br /> tiếp cận NL ở các địa bàn khác nhau của tỉnh Sơn La<br /> Biểu đồ 1 cho thấy, khi đánh giá HS theo tiếp cận<br /> NL thì GV ở huyện Sông Mã gặp khó khăn nhiều nhất;<br /> tiếp đến là GV ở huyện Phù Yên, GV ở TP. Sơn La gặp<br /> ít khó khăn nhất. Điều này cũng dễ hiểu bởi khi đánh<br /> giá theo hướng mới thì GV ở vùng trung tâm có nhiều<br /> điều kiện thuận lợi hơn như NL của GV, trình độ của<br /> <br /> 14<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản