intTypePromotion=1

Tiểu luận: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Bắc Á

Chia sẻ: Trang Thanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:12

0
139
lượt xem
22
download

Tiểu luận: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Bắc Á

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài tiểu luận phân tích các yếu tố ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Bắc Á như Phật giáo, Phong tục tập quán,... Tham khảo nội dung tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Đông Bắc Á

  1. ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ ĐẾN ĐÔNG BẮC Á I. Đông Bắc Á Ảnh hưởng của văn hóa  Ấn Độ  đến Đông Bắc Á, chủ  yếu thông qua  con đường truyền giáo và Con đường tơ lụa. 1  Màu sắc văn hóa Ấn Độ thể hiện ở Đông Bắc Á chủ yếu chịu sự chi phối   của tôn giáo, mạnh mẽ, đặc trưng nhất là  Phật giáo, từ  đó kéo theo những  ảnh  hưởng về  mặt khoa học, nghệ  thuật điêu khắc, kiến trúc, hội họa…tất nhiên là  theo hơi hướng Phật giáo.  I. 1. Phật giáo a. Trung Quốc Về  mặt địa lý, Phật giáo đã theo chân các nhà sư  truyền giáo Phạm   Tăng được truyền đến Trung Quốc theo hai ngả  đường là đường bộ  và đường   thủy. Về đường bộ chủ yếu là 2 con đường giaO thông lớn: phía Bắc và phía Nam  của các nước Tây vực. Về  sau, giữa 2 con đường trên, còn có con đường “Nhập   trúc cầu pháp” của ngài Pháp Hiển. Về đường thủy thì chủ yếu từ các hải cảng ở  tỉnh Quảng Đông. Trong khoảng thời gian dài hơn 2000 năm từ khi bắt đầu du nhập vào  Trung Hoa cho đến hiện tại, đạo Phật đã nhiều lần không thành và suy vong theo  các triều đại.  Bốn thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo: ­Từ Tam quốc đến Tây Tấn: đây là thời kỳ có nhiều vị cao tăng   từ Tây vực sang truyền đạo, đồng thời từ các vị vua chúa đến dân gian   đều quy ngưỡng theo đạo Phật.  1   Con đường tơ  lụa là con đường thương mại thời cổ do Trung Quốc khai thông cách đây hơn 2000 năm nổi tiếng   thế  giới, là chiếc cầu nối giữa Trung Quốc với các nước Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, góp phần quan trọng cho sự   giao lưu vật chất và văn minh phương Đông và phương Tây.   Con đường tơ lụa bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh qua các nước Mông Cổ, Ấn Độ,  Afghanistan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp, xung quanh vùng Địa Trung Hải và đến tận Châu Âu. Con đường còn đi  đến cả Hàn Quốc, Nhật Bản, có chiều dài khoảng 7 ngàn cây số.
  2. ­Thời Nam Bắc triều: đây là thời kỳ mà Bodhi Dharma tử  Tây   Trúc sang truyền pháp Thiền tôn. ­Thời   Đường:   dưới   thời   Đường   Thái   Tôn,   Đường   Huyền   Trang nhận thấy kinh điển nước nhà hoặc bị  thiêu hủy vỉ  giặc giã   hoặc sai nguyên bản, nên Ngài đã tìm sang  Ấn Độ  học đạo với các vị   minh sư, sau 15 năm, Ngài trở về mang theo nhiều kinh tạng Phạn văn.   Sau Huyền Trang là Nghĩa Tịnh, ông mang về  60 bộ  kinh, 230 quyển.   Đây là thời kỳ lừng lẫy nhất của Phật giáo. ­Thời Minh: sau giai  đoạn Phật giáo lao đao, đến thời Chu   Nguyên Chương, đạo Phật mới lấy lại vẻ  huy hoàng, do lúc nhỏ, Chu   Nguyên Chương là một vị Sa­di, nên ông rất ủng hộ Phật giáo. Đây là   thời hưng thịnh cuối cùng của Phật giáo, và đến 1912 Cách mạng Tam   dân chủ nghĩa, Phật giáo mới trỗi dậy bằng hình thức nghiên cứu Phật   học và sự thành lập các hội Phật giáo trên khắp cả nước. Là một loại hình thái ý thức, một mặt, Phật giáo thông qua tư  tưởng   siêu nhiên xuất thế  của mình, cùng vói chủ  trương tu thân, tề  gia, trị  quốc, bình  thiên hạ của Nho gia và học thuyết dưỡng sinh, thành tiên của Đạo giáo cùng nhau   bổ  sung, do đó đối với việc bảo hộ, củng cố chế  độ  chính trị  phong kiến đã khởi  lên tác dụng tích cực, trở  thành bộ  phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng xã   hội phong kiến; mặt khác, Phật giáo với tinh thần từ  bi cứu thế, phổ  độ  chúng  sanh, cũng không ngừng khích lệ chúng đệ tử tích cực đóng góp vào sự nghiệp tiến  bộ và từ thiện xã hội. Nhìn từ  mặt phát triển của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc,  Phật giáo tại Trung Quốc lưu truyền và thâm nhập phát triển, một mặt làm giàu  văn hóa truyền thống, một mặt trong thời gian dài cùng với tư  tưởng Nho gia và  Đạo gia so sánh, xung đột tranh luận và dung hợp, Phật giáo trở  thành một trong 3   bộ phận không thể thiếu được đối với nền văn hóa Trung Hoa. Ngoài ra, Phật giáo   truyền vào Trung Quốc, một mặt làm giàu phương thức tư  duy và kho tàng triết 
  3. học Trung Quốc; mặt khác thông qua các tư  tưởng như  thể  dụng tương tức, thời  gian không gian vô hạn, tâm tánh nhiễm tịnh, kiến tánh thành Phật... đã làm rộng   lĩnh vực nghiên cứu của nền triết học Trung Quốc, làm lớn chiều sâu tư  duy của  triết học Trung Quốc, và đẩy mạnh sự phát triển lớn lao của triết học Trung Quốc.  b. Tây Tạng Văn hóa Tây Tạng chịu sự  giao lưu với các quốc gia láng giềng như  Bhutan, Nepal, các khu vực kề  sát  Ấn Độ  như  Sikkim, Ladakh, và các tỉnh kề  bên   của Trung Quốc. Trong kho tàng văn hóa đó, đạo Phật nổi lên như  một hạt nhân  tiêu biểu nhất vừa tựu trung được những đặc điểm văn hóa xã hội đặc sắc của  vùng đật và con người Tây Tạng vừa khái quát, ký giải được sức lan tỏa to lớn của   văn hóa Tây Tạng. Các nhà truyền giáo Ấn Độ đầu tiên đến Tây Tạng truyền bá Đạo Phật   vào thế  kỷ  VII SCN. Được tái nhập vào thế  kỷ  XI, chủ  yếu từ  vương quốc Pala   thuộc Đông Ấn và xứ Kashmir, đạo Phật từ đấy trở nên trung tâm của văn hóa và xã   hội Tây Tạng. Phật giáo Tây Tạng là một hình thức Đại Thừa, có nhiều trường  phái và cách thực hành. Một mặt, đặc tính bí truyền và nhiều nghi thức của nó bắt   nguồn từ Mật Tông Ấn Độ, một phái Phật giáo “huyền bí”, kết hợp giữa tư tưởng   Phật giáo và Ấn Độ giáo. I. 2. Thiền Thiền tông (chán zòng, Ti’an, Zen…) là một tông phái thuộc Phật giáo Đại  thừa (Mahayana), khởi nguyên từ một phương pháp tụ tập của Ấn Độ giáo và được  Phật tổ Thích ca mâu ni (Shakyamuni) sử dụng như một phương pháp tụ  tập, một  cách tư duy để đạt tới chân lý. Sơ tổ của Thiền là Ca­diếp. Sư  là một trong mười  đệ tử xuất sắc nhất của Ðức Phật, nên còn được gọi là Ma­ha (Ðại) Ca­diếp. Sau   sư  tổ Ca­diếp, Thiền tông Ấn Ðộ  truyền tiếp được 27 đời. Vào đầu thế  kỷ  VI, vị  tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Ðộ là Bồ Ðề Ðạt Ma lên đường giáo hoá đông độ.
  4. Nội dung cơ bản của triết lý sống Thiền dực trên quan điểm về sự hướng   nội của mỗi cá nhân.  Vào hậu bán thế  kỷ  thứ  6, Thiền được Đạt Ma Sư  Tổ  truyền bá vào   Trung Quốc. Đến đời tổ  thứ 5 là Hoằng Nhẫn thì đồ  đệ  chia làm 2 phái.Tổ  thứ  6   Huệ  Năng lập Nam Tông, Thần Tú khai sáng Bắc Tông.Từ  cửa đồ  đệ  của Huệ  Năng là Nam Nhạc phân ra thành hai chi Lâm Tế, Vi Ngưỡng, từ  cửa một đồ  đệ  khác là Thanh Nguyên lại xuất hiện 3 tôn phái khác: Tào Động, Vân Môn, Pháp  Nhãn. Cả  năm phái gọi là "ngũ gia".Thêm vào đó, phái Lâm Tế  lại đẻ  ra hai phái  Dương Kỳ, Hoàng Long, kết cục có tất cả 6 nhánh.  I.3. Phong tục tập quán I.3.1. Tang chay Do ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ, các nước Đông Bắc Á mai táng  người chết theo hình thức hỏa táng. I.3.2. Các ngày lễ Phật Về  phương diện phong tục, theo sự  lưu truyền của Phật giáo tại Trung   Quốc, một vài ngày lễ  truyền thống của Phật giáo dần dần trở  thành ngày lễ  của   dân gian, như mồng 8 tháng chạp âm lịch, vốn là ngày kỷ niệm Ðức Phật Thích Ca   Mâu Ni thành đạo, sau thời kỳ Nam Bắc triều, kết hợp với ngày lễ tháng chạp vốn   có mặt lâu đời tại Trung Quốc, đó là nguồn gốc của ngày lễ mồng tám tháng chạp  ăn cháo; lại như, để  kỷ  niệm Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, ngày 15  tháng 4 dương lịch, dân tộc Tây Tạng đều cử hành “lễ Tát cách đạt ngõa”; lại như,  Phật giáo Nam tông cho rằng, ngày 15 tháng 04 là ngày Phật đản, cũng là ngày Ðức  Phật Thành đạo và Niết bàn, dân tộc Thái tin theo Phật giáo Nam truyền, vì thế vào   ngày này đều bỏ  ra 3 đến 5 ngày làm ngày đầu năm mới, đi khắp xóm làng rảy   nước để chúc mừng. Tại Nhật Bản, ngày sinh của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni được biết là  ngày 8 tháng 4 âm lịch. Từ  Minh Trị  duy tân, dương lịch được áp dụng trên khắp  Nhật Bản và từ đó những ngày kỷ niệm đều lấy nguyên ngày tháng cũ mà áp dụng 
  5. qua dương lịch không cần phải đối chiếu để  tính lại. Người ta cử hành ngày Phật  đản đúng ngày 8 tháng 4 dương lịch. Ngày đó cũng là ngày hoa anh đào bắt đầu nở  nên cũng được gọi là ngày Lễ hội hoa anh đào (Hana matsuri). Trong một cái nhà lồng hình hộp vuông có nóc mái, gọi là Hanamido,  người ta tôn trí chính giữa một pho tượng sơ sinh đứng trên tòa sen thường là cánh,   tay phải đưa lên ngón trỏ chỉ trời, tay trái duỗi thẳng xuống ngón trỏ chỉ đất. Chung   quanh ao sen là ao cam thảo (Amacha) có úp những cái gáo cán dài làm bằng  ống   tre. Khách thập phương đến váy lạy rồi dùng gáo múc nước trà cam thảo dội lên  pho tượng từ đầu xuống chân gọi là tắm Phật. Hanamido được thiết đặt ở giữa sân  trước chùa hoặc một vài nơi công cộng trang nghiêm. I.3.3. Chấm đỏ Cùng với việc mở ra con đường tơ lụa, tập tục tô điểm của người Ấn Độ  cũng  ảnh hưởng đến nội địa Trung Quốc, vừa tô “điểm may mắn” vừa tránh yêu  trừ tà. Ngưòi Trung Quốc đương thời có một cách nói, trẻ em từ 17 tuổi trở xuống   hồn không toàn vẹn, có thể tận mắt thấy yêu ma. Bởi vậy, nhiều người muốn để  cho con gái trưởng thành thuận lợi, đặc biệt chú ý “tô điểm may mắn” cho trẻ nhỏ,  lâu dần hình thành tập tục. II. Sự du nhập của Phật giáo vào các nước Đông Nam Á (Việt Nam) Phật giáo tồn tại và liên tục phát triển là cả  một quá trình vừa phải   đấu tranh với các tôn giáo khác (như  Balamôn giáo, Hindu giáo...) vừa phải đấu   tranh ngay trong nội bộ Phật giáo về mặt giáo lý, và sau đó Phật giáo đã hình thành   2 giáo phái: Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana).  Đông Nam Á cơ bản tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa và căn cứ  vào địa  bàn  ảnh hưởng người ta thường gọi Phật giáo Đông Nam Á là Phật giáo Nam   Tông. Còn các nước Bắc Á như Trung Quốc, Triều Tiên ­ Hàn Quốc, Nhật Bản (kể  cả  Việt Nam) tiếp thu Phật giáo Đại thừa, nên thường được gọi là Phật giáo Bắc  Tông. Việt Nam tiếp thu cả hai trường phái trên (do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn  
  6. Độ  và gián tiếp từ  Trung Quốc). Phật giáo vào Đông Nam Á khá sớm. Nó thâm  nhập vào từng quốc gia trong những thời gian, không gian và con đường khác nhau,  sự ảnh hưởng của nó cũng không đều nhau. Người ta dự đoán Phật giáo vào Đông   Nam Á khoảng thế  kỷ  I­II đầu công nguyên và  ở  mỗi quốc gia nó du nhập trong   khoảng thời gian khác nhau: Việt Nam: Phật giáo du nhập vào khoảng những năm  194­195 và trung tâm Phật giáo lớn nhất thời  đó là Luy Lâu (nay thuộc huyện  Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Đạo Phật truyền vào Việt Nam (khi đất nước ta còn   gọi là Văn Lang ­ Giao chỉ) do hai ngả đường bộ  và thủy, giao liên giữa Ấn độ  và  Trung Hoa, phải ngang qua Việt Nam. Về Đường Bộ  đi qua miền Trung Á (Mông  Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật bản.  Về  Đường  Thủy thì qua ngả Srilanka, Java thuộc Indonésia và Trung Hoa.  Nước ta  ở  vào giữa hai con đường  ấy, và do sự  ghé lại của những  thương nhân và tăng sĩ  Ấn Độ  đã mang hạt giống Bồ  Đề  ­ Đạo Phật ­ trồng trên   đất Giao Chỉ  ngay từ  đầu kỷ  nguyên Tây lịch. Rất có thể  là trước kỷ  nguyên Tây  lịch người Việt đã có biết đến Đạo Phật rồi.   Và Luy Lâu được coi là chiếc nôi của Phật giáo. Nó được coi là Trung tâm  Phật giáo xuất hiện sớm nhất  trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu  vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung tâm Phật giáo Luy Lâu; Trung tâm Phật giáo   Lạc Dương và Bành Thành (thuộc Trung Hoa). Quan trọng nhất, Phật giáo Việt Nam cho đến bây giờ, đó là sự hoà hợp của  Phật giáo  Ấn Độ  với tín ngưỡng bản địa, chứ  không phải là sản phẩm của 1.000  năm Bắc thuộc.  Khi đó, ở Luy Lâu có tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, mây mưa sấm chớp. Phật   giáo  Ấn Độ  vào Việt Nam tìm cách hoà hợp với tín ngưỡng này, nên mới sinh ra  truyền thuyết về  Man Nương, là nguồn gốc để  có hệ  thống tín ngưỡng Tứ  pháp  cho đến tận bây giờ… Gắn với truyền thuyết Man Nương  ở  vùng Dâu (Thuận 
  7. Thành ­ Bắc Ninh), nghệ  thuật và lễ  hội Tứ pháp hiện vẫn thịnh hành, tuy những  lễ cầu đảo hô phong hoán vũ không còn nữa.  Yếu tố Ấn Độ lưu giữ ở  Phật giáo Việt Nam: Trước hết  đó là vật thờ  có hình linga, chính là Đức Thạch Quang, trong   truyền thuyết là đứa bé được Khâu đà la đưa vào thân cây Dung thụ hoá thành được   thờ trong chùa Dâu . Thứ hai, cách tạo tượng mây mưa sấm chớp giống hệt tượng dòng Ấn Độ  ­   Khơme. Các tượng Tứ Pháp đều cởi trần, quấn xà rông, nhân tướng theo kiểu  Ấn   Độ, mũi cao, lõ… Nhưng những thân hình đều là Phật mẫu nên mang vẻ  đẹp gợi  cảm của phụ nữ, rất đặc biệt trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Dấu  ấn  Ấn Độ  còn thể  hiện trên những ván khắc chữ  Phạn, tuy niên đại  không lâu, phần lớn  ở thế kỷ 19 nhưng vẫn còn nguyên chữ  Phạn.sau này khi đạo  Phật được chia làm 2 nhánh chính là :Phật giáo Nguyên Thủy (Nam Tông) và Phật   giáo Đại Thừa (Bắc Tông) thì cả hai nhánh này đều làn lượt được truyền vào nước   ta. Đó là những dấu ấn quan trọng cho thấy những nét đặc trưng mang đậm văn   hóa  Phật giáo Ấn Độ. Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống người Việt Trong suốt chiều dài lịch sử, tâm thức người Việt đã chịu ảnh hưởng thuyết  nhân quả, luân hồi. Người Việt Nam nào từ lúc nằm nôi cũng được nghe những câu  “ở hiền thì lại gặp lành, ở ác gặp dữ tan tành ra tro”  “ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha nhân đức đời con sang giàu” Những truyện ngụ  ngôn, có tính cách luân lý và nhân qua thường quấn quýt   lấy nhau, Kéo Cày Trả  Nợ, Ân Đức, Hai Vợ  Chồng Con Chiền Chiện, Ông Sư,   Chẽo Cờ và Vẹt, Phù Du và Đom Đóm…   Và còn biết bao nhiêu đặc tính khác của Phật giáo rất phù hợp với dân tộc  tính, dân tộc tính, dân tộc trí, đã làm nảy nở  trong những nếp sống hằng hữu để 
  8. vươn lên cuộc sống trong sáng, cao cả, toàn mỹ. Đó là những nét điển hình để  chứng minh rằng văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc có những mối duyên gặp gỡ  rất đồng nhất tế nhị. Không chỉ  riêng nước Việt nam mà đối với bất cứ  một nước nào khi Đạo   Phật truyền tới cũng đều được các nhóm dân tộc hoan hỷ  long trọng tiếp nhận,   không nơi nào và chẳng lúc nào bị ruồng bỏ, bởi vì Đạo Phật là đạo Từ Bi, lấy tình   thương làm động lực phát triển lòng Từ, lấy trí tuệ  làm mục tiêu nhắm tới Giác  Ngộ Giải Thoát Con Người. Được như vậy là vì Đạo Phật có một tôn chỉ rất rộng   rãi: tôn trọng những đặc tính của mỗi dân tộc, mà chỉ  cần khai thác phần “nhân  tính” để hỗ tương, với mục đích dìu dắt con người đạt tới đích Chân Thiện Mỹ; và  khi Đạo Phật đến dân tộc nào cũng vẫn kính trọng nếp sống cổ  truyền, những   phong tục sẵn có. Chỉ  vì tinh thần giáo lý Giác ngộ  Giải Thoát Tự  Chủ  của Đạo  Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ  ở đâu hạng người nào khi họ  biết  hướng đến chân lý  II.1. Chữ viết Chữ  Sanscrit (Ấn Độ) đã được du nhập vào Đông Nam Á từ  rất sớm, vào  khoảng những thế kỷ đầu công nguyên. Trên cơ sở của văn tự Sanscrit, các dân tộc   Đông Nam Á đã sáng tạo ra chữ  viết riêng của nước mình. Hàng loạt từ   Ấn Độ  được   du   nhập   vào   tiếng   Melayu   (ngôn   ngữ   quốc   gia   của   Malaysia,   Indonesia,   Brunei, Singapore), tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Thái. Chữ  Thái cổ  đã được   hình thành từ  đầu thế  kỉ  XIII và mang nhiều yếu tố  của loại chữ  Pê­gu cổ­ loại   chữ  xuất hiện vào những thế  kỉ đầu công nguyên và chịu ảnh hưởng của loại chữ  cổ   Ấn Độ. Trong tiếng Việt, một số  từ  chỉ  cây cối như  “mít”, “lài” và những từ  thuộc về Phật giáo: “Bụt”, “bồ đề”, “bồ tát”, “chùa”…đều có nguồn gốc từ Ấn Độ.  II.2. Ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ đối với văn hóa người Khmer Phật giáo Nam Tông là tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer. Văn  hoá của Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần và trở thành yếu tố chi 
  9. phối tư  tưởng, tình cảm của cộng đồng dân cư. Ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín   ngưỡng, nơi dạy chữ  dân tộc, dạy văn hoá và cũng là trung tâm sinh hoạt cộng   đồng của đồng bào Khmer. Có thể nói trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt Phật giáo đóng  một vai trò đặc biệt quan trọng, là chất men kết dính cộng đồng dân cư  bền chặt  nhất, đây là nét đặc thù nổi bật nhất của xã hội Khmer truyền thống, cho dù Phật   giáo Tiểu thừa chỉ mới du nhập vào ĐBSCL từ khoảng thế kỷ XII, nhưng nó đã chi  phối khá sâu sắc đời sống nông thôn Khmer. Một nét đẹp về  văn hoá của người  Khmer ở ĐBSCL là tất cả nam công dân đều biết chữ. Theo tập quán truyền thống,   người con trai khi lớn lên phải vào chùa đi tu, đi tu là hình thức vừa học chữ  vừa   học đạo, tu để trở thành người có nhân cách, có văn hoá và là một hình thức để báo  hiếu cha mẹ  đã có công dưỡng dục, sinh thành. Đối với đông đảo tín đồ  Khmer,  công việc giáo dục của nhà chùa chủ  yếu thông qua hình thức thuyết pháp và tu  thiền. Điều này được phản ánh trong mọi lễ hội Phật giáo, như lễ Phật đản, Nhập   hạ, Xuất hạ, ban hành giáo lý... Sư sãi là tầng lớp được cộng đồng kính trọng. Vì   vậy, đạo Phật có ảnh hưởng quan trọng và chi phối nhiều mặt đời sống xã hội của  người Khmer ĐBSCL. II.3. Ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ đến Văn hóa Chăm Bàlamôn giáo du nhập vào Champa rất sớm, trước khi lập vương quốc Lâm  ấp, muộn nhất là đầu công nguyên và có thể  còn trước đó nữa. Bốn bia ký bằng   chữ  Phạn có niên đại thế kỷ VII được tìm thấy ở Quảng Nam và Phú Yên ở  triều  đại Bhadresvaravamin, ba trong bốn bia ký đó ghi nhận lãnh địa dành cho vị  thần   này. Còn  bia ký  Mỹ  Sơn  thì  nói  đến sự  thành kính dành cho Mahesvara,  Uma,   Brahma, Vishnu. Đến thế  kỷ thứ VII,  ấn Độ  giáo mà chủ  yếu là Shiva giáo đã trở  thành tôn giáo chính thống. Từ đây hình thành khu di tích Mỹ Sơn. Từ thời Lâm ấp   đến Hoàn Vương (từ thế  kỷ II đến thế kỷ  IX), đạo Bàlamôn đã hiện diện và luôn   luôn được coi trọng. Theo nhiều nhà nghiên cứu Champa thì Bàlamôn giáo đã đến 
  10. Champa trước cả  Phật giáo. Sử  gia D.Hall có nhận xét như  sau về  tôn giáo vào  Champa: Bàlamôn giáo là tôn giáo của giai cấp quý tộc, nên không thu được lớp  bình dân đại chúng. Tập quán bản xứ  vẫn tiếp tục phát triển song song với tập  quán ấn Độ. Chính vì vậy mà nói đến  ảnh hưởng của  Ấn Độ  trong việc hình thành văn   hóa Chăm thì  Bàlamôn  giáo là yếu tố  đóng vai trò quan trọng nhất.  Bàlamôn giáo  (Brahmanism) là tôn giáo hình thành trên cơ  sở  kinh Veda do người Aryen từ  phía  Tây Bắc đưa vào. Đạo Bàlamôn tôn thờ  BRAHMA (nghĩa là "Đại Hồn"), một ý  niệm trừu tượng của kinh Veda. Brahma là chúa tể các thần, nguồn gốc của vũ trụ,   có quyền năng vô biên. Ngài hiện  ở ba ngôi như  thể  thống nhất của một bộ ba vị  thần tượng trưng cho ba giai đoạn của sự  sống:  Brahma (Thần Sáng tạo), Visnu  (Thần Bảo tồn) và Siva (Thần Phá hủy). Sau khi đạo Phật lụi tàn trên đất  Ấn Độ, Bàlamôn giáo được cải biên thành   Ấn Độ giáo (Hinduism). Nguồn ảnh hưởng Ấn Độ, tuy đóng một vai trò quan trọng  trong sự  hình thành văn hóa Chăm, nhưng nó không phải là tất cả. Kế  thừa di sản  phong phú của văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa  của cả nguồn ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa.  Từ  chỗ  cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi đạo này mới du   nhập, dần dần chỉ có một mình Siva được đề cao bởi lẽ tính cách Siva phù hợp hơn  cả  với tính cách bản địa của người Chăm. Và trong Siva muôn mặt với hàng trăm   tên, chỉ có Siva dưới dạng Linga hoặc với Linga được phổ biến bởi lẽ tục thờ cột  đá như một dạng của tín ngưỡng phồn thực vốn là truyền thống lâu đời của người   nông nghiệp. Cuối cùng, Siva thì được hình dung thành người Chăm (ngay cả  con  bò thần Nandin của Siva cũng được thể  hiện dưới dạng  con trâu quen thuộc; còn  Linga thì ở chỗ này được thay bằng ông vua ­ anh hùng dân tộc Chăm, ở chỗ khác  thì được thay bằng nữ thần Mẹ quê hương xứ sở. Thành ra trên thực tế, thần Siva  cùng bạn bè, bộ  hạ  của ông với những lí lịch  Ấn Độ  xa lạ  chỉ  còn tồn tại trong ý 
  11. nghĩ của tầng lớp trí thức và tu sĩ Bàlamôn; đối với số đông người dân Chăm, thần  Siva, tượng Linga,v.v.. chỉ là hình thức, còn ước vọng phồn thực và lòng sùng kính  các nữ thần địa phương, các anh hùng dân tộc mới là nội dung. Đạo Bàlamôn xa lạ  đã được người Chăm biến cải thành đạo Bà chăm gần gũi; đạo Bà Chăm không còn   là Bàlamôn giáo Ấn Độ nữa mà chỉ có thể xem như một biến thể của nó.  Và đạo Bà Chăm một biến thể  đạo Bàlamôn đã cho ta thấy sức mạnh bản  địa hóa  ấy. Người Chăm theo đạo Bàlamôn cũng chịu một số   ảnh hưởng của tôn  giáo như  trong ăn uống, họ  kiêng thịt bò, khi chết họ  hoả  táng. Ăn Tết Katê hàng  năm vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 9 âm lịch ta). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tôn giáo Bàlamôn hiện nay  ở  người Chăm   không còn hội đủ  những yếu tố  của một tôn giáo chính thống, hệ  thống giáo lý,  giáo luật, hệ  thống giáo chủ  và tín đồ  không rõ ràng   và ng ười Chăm theo đạo  Bàlàmôn không tự gọi mình là người Chăm Bàlamôn mà gọi là Chăm Ahiêr. Nhưng,   mặc dù đã bị  bản địa hóa khá mạnh, chức sắc, tăng lữ  Bàlamôn và nhiệm vụ  của   họ   vẫn   được   duy   trì   một   cách   có   hệ   thống.   Trong   Bàlamôn   giáo:   “đẳng   cấp   Bàlamôn là đẳng cấp cao nhất, được sinh ra từ  miệng Sanura (Manu) “Bàlamôn  được coi là thần trên mặt đất”, chủ  trì chăm lo việc cúng bái, thao túng đời sống   tinh thần thời cổ  đại và trung thế  kỷ”. Hiện nay, các tăng lữ  pà xế  (passeh) vẫn  nắm giữ phần hồn của cộng đồng người Chăm Bàlamôn. Xã hội Bàlamôn vốn là xã  hội phân biệt đẳng cấp, được hình thành nên để  bảo vệ  cho quyền lợi của đẳng  cấp tu sĩ Bàlamôn.  Văn hóa Chăm bao gồm nhiều lĩnh vực, nhưng trong đó nổi bật nhất là kiến   trúc và điêu khắc. Thành tựu nổi bật của điêu khắc và kiến trúc Chăm là kiến trúc  đền tháp và điêu khắc trên đền tháp. Đền tháp ấy là đền tháp tôn giáo.  Không những kinh kệ,nghệ thuật,giáo lý,mà ngay cả kiến trúc người chăm  cũng mang những nét văn hóa ấn độ rõ nét như hình tượng núi Meru (trung tâm vũ  trụ,nơi ở của thần linh).thờ các vị thần dị dạng,và kiến trúc các ngôi đền chùa....
  12. Tôn giáo đóng vai trò cực kì quan trọng trong đời sống người Chăm, nó được  vật chất hóa qua điêu khắc và kiến trúc. Qua kiến trúc và điêu khắc, ta sẽ tìm hiểu   quan niệm tôn giáo của người Chăm. Kết luận : qua dòng lịch sử phát triển văn hóa của các dân tộc trên đất nước  Việt Nam chúng ta.ta thấy được tấm ảnh hưởng và sự quan trọng  của các tôn giáo  từ Ấn Độ. Các tôn giáo này đã hòa nhập vào nền văn hóa bản địa làm phong phú và  đa dạng hơn nền văn hóa của chúng ta.và trong đó hầu hết các tôn giáo này được  du nhập vào theo con đường hòa bình và tiếp thu co chọn lọc một cách tự nguyện.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản