intTypePromotion=1

Tiểu luận Chuyên đề lý luận về NNPQ và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam: Nhận thức về quyền tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chia sẻ: Trần Thị Phương Loan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:15

0
182
lượt xem
51
download

Tiểu luận Chuyên đề lý luận về NNPQ và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam: Nhận thức về quyền tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Chuyên đề lý luận về NNPQ và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam: Nhận thức về quyền tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trình bày cơ sở lý luận chung về quyền tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; thực trạng việc thực hiện quyền tư pháp và định hướng cải cách tư pháp ở Việt Nam trong thời kì đổi mới; kết luận. Mời các bạn tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Chuyên đề lý luận về NNPQ và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam: Nhận thức về quyền tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN Học phần: Chuyên đề lý luận về NNPQ và vấn đề xây dựng NNPQ  XHCN ở Việt nam Đề tài:  Nhận thức về quyền tư pháp trong xây  dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở  Việt Nam  Giảng viên hướng dẫn:  Th.S Dương Đình Tùng                        Sinh viên thực hiện:        Trần Thị Phương Loan                        Lớp:                                  13SGC 1
  2. Đà Nẵng, 2016                                 PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình hình thành và phát triển, nước ta từng trải qua giai  đoạn “sử dụng” nguyên tắc tập quyền, theo nguyên tắc này, quyền lực nhà  nước thuộc về nhân dân nhưng tập trung vào Quốc hội và Quốc hội được  Hiến pháp năm 1980 xác định là cơ quan có toàn quyền. tuy nhiên, bước vào  giai đoạn đổi mới, nguyên tắc này đã bộc lộ ra nhiều hạn chế, không còn  phù hợp với quan điểm phát huy quyền lực thuộc về nhân dân. Nhận thức  rõ điều này, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên xã hội  chủ nghĩa (1991) và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã  nhấn mạnh quyền lực nhà nước là thống nhất, Nhà nước cộng hòa xã hội  chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân  dân, do nhân dân và vì nhân dân (Điều 2 khoản 1 Hiến pháp 1992 (sửa  đổi)). Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, trong một xã hội dựa  trên nền kinh tế thị trường như nước ta, xu hướng lạm quyền và vi hiến  của cơ quan hành chính – nhà nước trong quá trình thực thi luật pháp là rất  rõ rệt. Vì vậy, để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở  Việt Nam, đạt đến mục tiêu tổ chức, hoạt động tích cực, phát triển bền  vững thì cần có các cơ chế hành lang giúp nó vận hành hiệu quả. Trong đó, 
  3. có yêu cầu về hoàn thiện hệ thống luật pháp. Đặc biệt, theo tinh thần của  Hiến pháp 2013, vấn đề định hình lại quyền hạn, vị trí cũng như chiến  lược cải cách tư pháp trong giai đoạn đổi mới là một đòi hỏi cấp thiết,  không những có ý nghĩa về mặt tư duy pháp lý, lý luận mà còn đem lại hiệu  quả thực tiễn to lớn nếu được quan tâm và thực hiện đúng đắn.  Để góp phần làm rõ vấn đề trên, cũng như để nghiên cứu lý luận và  đề xuất các kiến nghị, giải pháp thích hợp, tôi lựa chọn đề tài: Nhận thức  về quyền tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa ở Việt Nam 2. Đối tượng nghiên cứu ­ Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền ­ Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 3. Phạm vi nghiên cứu Vị trí quyền tư pháp trong quyền lực nhà nước, thực trạng và định  hướng chiến lược cải cách tư pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp  quyền ở Việt Nam. 3
  4. PHẦN 2. NỘI DUNG Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TƯ PHÁP TRONG  XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm ­ Nhà nước pháp quyền (NNPQ): là một phạm trù thuộc khoa học  chính trị ­ pháp lý, xuất hiện khá sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, bắt  nguồn từ tư tưởng về nguyên tắc cai trị bằng luật pháp (rule by law). Nhà  nước pháp quyền, hiểu một cách cơ bản nhất là một chế độ xã hội và một  chính thể nhà nước đặt pháp luật là nguyên tắc tối thượng.  ­ Quyền tư pháp: được hiểu là chức năng xét xử các hành vi vi phạm  pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp luật nhằm lập lại công bằng,  công lý trong xã hội. Theo nghĩa rộng, chức năng tư pháp bao gồm các hoạt  động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.  1.2  Cơ sở lý luận về quyền tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp  quyền XHCN Việt Nam 1.2.1 Lịch sử phát triển của nhà nước pháp quyền và vị trí quyền tư  pháp trong phân chia quyền lực nhà nước
  5. Mặc dù ý niệm về “Nhà nước pháp quyền” (rule of law) được các nhà  nhà triết học Hy Lạp ít nhiều đã đề cập, nhưng phải đến thời kỳ Phục  hưng và Khai sáng châu Âu, khái niệm này mới được thực sự luận bàn và  phát triển và làm tiền đề cho sự thịnh hành ở thế kỷ XX trở đi trên quy mô  toàn cầu. Thời kỳ Phục hưng và Khai sáng châu Âu là thời kỳ phát triển mạnh  mẽ của các trào lưu tư tưởng về đề cao vai trò của pháp luật trong việc xác  lập các nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cho  việc tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân. Nhà nước pháp quyền theo quan niệm của các nhà tư tưởng Phục  Hưng và Khai Sáng, đặc biệt là Charles Luis Montesquieu (1689 – 1775), đó  là sự phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh (lập pháp, hành pháp  và tư pháp) rạch ròi, sao cho pháp luật được đề cao và thực thi hiệu quả,  các quyền và tự do cơ bản của công dân được bảo đảm. Nhà nước pháp  quyền là nhà nước nơi những người được ủy giao trọng trách quản lý và  điều hành xã hội, hay nói chung là những người được giao cho việc cai trị,  phải thông qua cơ chế phổ thông đầu phiếu, do người dân bầu ra, dù bằng  hình thức bầu trực tiếp hay qua hình thức đại diện.  Montesquieu đặc biệt nhấn mạnh đến sự phân chia giữa các nhánh  quyền lực nhà nước và về mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp (nghị  viện/quốc hội), với cơ quan hành pháp (chính phủ) và cơ quan tư pháp (tòa  án) để hạn chế sự tùy tiện hay vượt quá giới hạn của bất cứ quyền lực  nào, nhất là quyền hành pháp. NNPQ được thực hiện thông qua mô hình  dân chủ điển hình nhất là dân chủ nghị viện, theo đó quyền lập pháp (nghị  viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (chính phủ). Như vậy chính  phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có  được sự hậu thuẫn của nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của  5
  6. dân chúng. Tương tự như vậy, quyền tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng  với một số quyết định của chính phủ, đồng thời giúp công dân bảo vệ  được các quyền và tự do trong trường hợp các quyền ấy bị tùy tiện tước đi  bởi cơ quan hành pháp. Trong sự phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh rạch ròi như  vậy, quyền tư pháp tồn tại với vị trí độc lập, phân quyền và đáng được  phân quyền hơn cả. Đơn cử như Cộng hòa liên bang Hoa Kỳ, mô hình phân  chia quyền lực nhà nước của họ có thể tóm tắt như sau: Trong đó, tổng thống không được quyền trình dự án luật trước Nghị  viện. Quyền lập pháp của Hiến pháp được qui định dành riêng cho cơ quan  lập pháp ngay từ khi có sáng quyền lập pháp. Chỉ có nghị viện mới có  quyền này. Nhưng bằng các con đường không chính thức, tổng thống ­  người đứng đầu hành pháp can thiệp rất sâu vào quá trình lập pháp của  Nghị viện. 
  7. Nếu lạm quyền/ vi phạm pháp luật, tổng thống có thể bị xét xử theo thủ  tục đàn hạch (impeachment), Hạ viện sẽ buộc tội, Thượng viện sẽ xét xử.  Ngược lại, tổng thống cũng có thể kiềm chế Nghị viện bằng quyền phủ  quyết (VETO). Như vậy, chúng ta có thể thấy lập pháp và hành pháp thực chất không  có sự phân chia tuyệt đối với nhau, theo chế độ đại nghị hay tổng thống  đều phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp, mà không hề  phụ thuộc vào tư pháp. Vậy nên, tư pháp – được thực hiện bằng tòa án  phải độc lập là một nguyên tắc đảm bảo cho tòa án có thể xét xử công  bằng và đúng đắn quyền lợi các bên.  1.2.2.  Cơ sở pháp lý của quyền tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp  quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trước đây, chưa có một văn bản pháp luật nào, kể cả Hiến pháp chính  thức xác định khái niệm tư pháp có nội hàm gì, cơ quan tư pháp bao gồm  những cơ quan nào, mà chỉ nêu chung chung trong các Nghị quyết của Bộ  chính trị về công tác tư pháp hay hoạt động tư pháp bao gồm: hoạt động  điều tra, hoạt động truy tố, hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án.  Và Hiến pháp năm 2013 đã đánh dấu một giai đoạn mới trong nhận  thức về tư pháp ở Việt Nam. Cụ thể: Theo điều 2, khoản 3 và điều 102, khoản 1 Hiến pháp nước Cộng hòa  xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Quyền lực nhà nước là  thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà  nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, “Tòa  án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  Nam, thực hiện quyền tư pháp” 7
  8. Với quy định này, văn bản luật cao nhất nước ta đã định hình và thu  hẹp phạm vi của quyền tư pháp trong quyền xét xử, được thực hiện bởi  Tòa án nhân dân Chương II. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP VÀ  ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH  TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI  KÌ ĐỔI MỚI. 2.1 Thực trạng việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam. Để nhận thấy rõ hơn về công tác thực hiện tư pháp ở nước ta, cần  xem xét từ mô hình nhà nước pháp quyền mà nước ta đã và đang xây dựng:   nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vậy, nhà nước pháp quyền xã hội  chủ nghĩa có gì khác so với nhà nước pháp quyền tư sản­ vốn là nơi đầu  tiên hình thành nên nhà nước pháp quyền. Điểm khác biệt căn bản đó là ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa nói  chung và đối với Việt Nam nói riêng, đều sử dụng chế độ nhất nguyên  chính trị, đây là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản  dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản chống lại giai cấp vô sản, đại diện  cho quyền lợi và là lực lượng tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân  lao động. Chính vì vậy, khi xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta,  Đảng cộng sản cũng trở thành lực lượng cầm quyền, hướng tới nhà nước  pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân” (Điều 2 Hiến  pháp 2013). Đặc điểm trên cũng là tính đặc thù của nhà nước pháp quyền xã hội  chủ nghĩa. Và thuận lợi cơ bản của nước ta­ một nước đi theo định hướng  xã hội chủ nghĩa khi xây dựng nhà nước pháp quyền đó là sự đồng thuận từ  xã hội, với nền tảng liên minh công­ nông­ tri thức, khối đại đoàn kết dân 
  9. tộc rộng rãi trên cả nước, tạo nên một nguồn sức mạnh to lớn, phát huy  sức mạnh dân chủ. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội tại nước ta còn  mang nhiều hạn chế, đặc biệt là ở tính hoàn bị của hệ thống luật pháp.  Cần nhìn nhận rõ nguyên nhân đến từ sự thiếu thoàn thiện của luật pháp  khiến cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gặp  nhiều khó khăn, chứ không phải đến từ việc giữ vững nguyên tắc tập trung  dân chủ khi xây dựng nhà nước pháp quyền ở một nước xã hội chủ nghĩa  như nước ta.  2.1.1 Thực trạng việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam Như đã trình bày, tư pháp vốn dĩ nên “là cành quyền lực đáng được  phân quyền hơn cả”1. Phân quyền ở đây, tức là công nhận tính độc lập  trong các hoạt động của nó. Trước khi được quy định về cơ quan thực  quyền tư pháp trong Hiến pháp 2013 (Hiến pháp 1992 sửa đổi) là Tòa án  nhân dân thì quyền tư pháp ở Việt Nam từng được phối hợp bởi nhiều cơ  quan: Tòa án, Thủ tướng, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Có thể  thấy, sự ảnh hưởng của các cơ quan vốn mang chức năng lập pháp (Quốc  hội), hành pháp (Chính phủ) đã ảnh hưởng và tác động đến tính độc lập  của cơ quan tư pháp như thế nào. Không như ở các nước tư bản là hoạt động tư pháp thuộc về cơ quan  xét xử, ở nước ta còn bao gồm cả cơ quan điều tra, truy tố,… Xuất phát từ  sự phân quyền không rạch ròi giữa hành pháp và tư pháp. Ngoài ra còn bởi  vì nhà nước ta hoạt động và tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, tòa án  không thể độc lập đưa ra quyết định mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chỉ  đạo, các văn bản hướng dẫn từ cơ quan nhà nước và đảng lãnh đạo; phạm  1 N.Đ.Dung. Tạp chí khoa học DDHQGHN, Luật học 25 (2009), tr.135 9
  10. vi xét xử bị bó hẹp vào khuôn khổ nhất định, không có thẩm quyền xét xử  đối với các hoạt động thuộc lập pháp, hành pháp, các cơ quan lãnh đạo. 2.1.2 Định hướng cải cách tư pháp trong thời kì đổi mới ở nước ta  hiện nay “Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền  lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì  người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan  tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành  pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp”2 Với tư cách là người phát triển hoàn thiện học thuyết tam quyền phân  lập, nền tảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền, Montesquieu cũng đưa  ra nhận định về sự cần thiết độc lập của tư pháp. Hay như Cộng hòa liên bang Hoa Kỳ­ một nhà nước pháp quyền theo  xu hướng rắn (phân chia rạch ròi). Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư  pháp hoàn toàn độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế và đối trọng lẫn  nhau. Trong đó, quyền tư pháp được thực hiện bởi tòa án, hoàn toàn độc  lập với quyền lập pháp và hành pháp; thẩm phán xét xử tuân theo pháp luật,  được bổ nhiệm suốt đời và không ai có quyền cách chức trừ khi vi phạm  pháp luật, bị thải hồi theo thủ tục đàn hạch (impeachment); đặc biệt, có  quyền xét xử các cơ quan nhà nước và các quan chức vi phạm pháp luật  hành chính khi thực thi công vụ, xem xét tính hợp hiến của các luật và văn  bản dưới luật. Từ thực trạng về thực hiện quyền tư pháp đã nêu trên ở nước ta, trong  đường lối đổi mới Đảng đã hết sức quan tâm đến việc đổi mới, cải cách  hệ thống tư pháp. Thể hiện qua chỉ đạo chung của Đại hội đại biểu toàn  2 Montesquieu. Bàn về tinh thần pháp luật. Quyển XII, chương 3
  11. quốc lần thứ XII: Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền  lực nhà nước, nhât là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ  quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư  pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền  lực và trách nhiệm của mỗi quyền.3 Thực hiện theo chỉ đạo chung đó, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết về  Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49­NQ/TW  ngày 2­6­2005) Vấn đề trọng tâm về đổi mới, cải cách tư pháp trong xây dựng nhà  nước pháp quyền ở nước ta là tăng cường tính độc lập của tòa án , tính độc  lập trong thực hiện quyền xét xử, đảm bảo nguyên tắc này được có hiệu  lực thực tế. Hiến pháp 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002 là  những văn bản quan trọng nhất làm cơ sở pháp lý cho việc thiết lập môt hệ  thống tòa án nhân dân độc lập Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp  phải quán triệt các nguyên tắc của việc thực hiện quyền tư pháp như  nguyên tắc khách quan, vô tư, công bằng, độc lập và chỉ cần tuân theo pháp   luật của các chức danh tư pháp khi thực hiện tư pháp; nguyên tắc chịu  trách nhiệm của các cơ quan, chức danh tư pháp về các quyết định của  mình; nguyên tắc đảm bảo việc nhân dân tham gia và giám sát hoạt động  tư pháp;…;nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luậ, trước các  cơ quan tố tụng.4 3 Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, tr.40 4 Giáo trình trung cấp lý luận chính trị­hành chính: Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và  pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nxb Lý luận chính trị, tr.55 11
  12. PHẦN 3. KẾT LUẬN 1. Kiến nghị giải pháp Trước thực trạng tổ chức cũng như hoạt động còn nhiều hạn chế của  hệ thống tư pháp, đảng và nhà nước ta đã chủ động đưa ra những chính  sách, chỉ đạo điều chỉnh và có kế hoạch cải cách về lâu dài. Với tư cách là công dân nước CHXHCN Việt Nam, cá nhân tôi muốn  nêu ra một số giải pháp về cải cách tư pháp ở nước ta: ­ Học hỏi: kinh nghiệm ở các nước trong khu vực và quốc tế về tính  hiệu quả của một số mô hình về nhà nước pháp quyền như đề cao tính  tối cao của Hiến pháp, tinh thần thượng tôn pháp luật, tính độc lập của tư  pháp. Áp dụng một cách linh hoạt vào đặc điểm tình hình nước ta, đảm  bảo giữ vững bản sắc. ­ Phân quyền rõ ràng: quyền tư pháp cũng như lập pháp và hành pháp  cần có sự phân chia rạch ròi (xu hướng rắn), không nhầm lẫn và tiếm  quyền lẫn nhau, có sự phối hợp, hỗ trợ nhưng không cản trở quá trình  hoạt động của nhau. ­ Hoàn thiện hệ thống luật pháp: tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tư  pháp được độc lập trong quyền hạn của mình. Đồng thời, mở rộng quyền  hạn của tư pháp đến chỗ đối tượng xét xử các hành vi của lập pháp và  hành pháp.
  13. 2. Kết luận Theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc XII đó là: Xây dựng, hoàn  thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả  lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ  thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Các Bộ, ban ngành  đã tích cực hoàn thiện hệ thống luật pháp, đặc biệt là nhìn nhận và đánh  giá đúng đắn vai trò cũng như vị trí của tư pháp trong xây dựng Nhà nước  pháp quyền. Chủ động đưa ra chiến lược cải cách cho hệ thống tư pháp,  cả về mặt lý luận và đảm bảo thực tiễn thực hiện. Tuy khó tránh khỏi  những khó khăn và hạn chế nhưng đây là một tín hiệu đáng mừng đối với  hệ thống tư pháp nói riêng và quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã  hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung. 13
  14. PHẦN 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. GS.TS Trần Ngọc Đường, Một số vấn đề về phân công, phối hợp   và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt  Nam (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 [2]. C.L.Montesquieu, Bàn về tinh thần pháp luật (De L’esprit Des  Lois), Hoàng Thanh Đạm dịch, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 [3]. TS. Mai Thị Thanh, Hình thức Nhà nước và vấn đề xây dựng Nhà  nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 [4]. Học viện chính trị quốc gia TP.HCM, Giáo trình trung cấp lý luận  chính trị­ hành chính: Những vẫn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà  nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nxb Lý luận chính trị, 2016 [5]. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị  quốc gia, Hà Nội, 2016 [6]. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà  Nội, 2014         [7]. Nghị quyết số 49­NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2009 của Bộ Chính  Trị  về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020
  15.         [8]. Nguyễn Đăng Dung, Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực  Nhà nước, Tạp chí Khoa học ĐH QGHN, Luật học 25 (2009), tr.135­144 [9]. http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi­hanh­phap­luat.aspx? ItemID=181 [10]. http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien­cuu­trao­doi.aspx? ItemID=1989                      15
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2