intTypePromotion=3

Tiểu luận tài chính quốc tế: Diễn biến khủng hoảng tài chính Argentina giai đoạn 1999-2002 và bài học cho Việt Nam

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:34

0
163
lượt xem
42
download

Tiểu luận tài chính quốc tế: Diễn biến khủng hoảng tài chính Argentina giai đoạn 1999-2002 và bài học cho Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận tài chính quốc tế: Diễn biến khủng hoảng tài chính Argentina giai đoạn 1999-2002 và bài học cho Việt Nam nhằm khái quát chung về đặc điểm tự nhiên – xã hội của Argentina, nguyên nhân khủng hoảng tài chính Argentina, phạm vi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Argentina, nguy cơ nợ công tại Việt Nam, thực trạng nợ công tại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận tài chính quốc tế: Diễn biến khủng hoảng tài chính Argentina giai đoạn 1999-2002 và bài học cho Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌ C NGOẠI THƯƠN G KHOA SAU ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Tiểu luận DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ARGENTIN A GIAI ĐOẠN 1999-2002 VÀ BÀI HỌ C CHO VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn: TS.Mai Thu Hiền Nhóm thực hiện: Nhóm 5 72. Nguyễn Huy Thành 33.Nguyễn Thị Mai Hương 52. Đinh Văn Nghị 76. Nguyễn Thị Minh Thu 88. Đỗ Quang Tùng Lớp: TCNH 19A Hà Nội - Năm 2013
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................... 1 1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên – xã hội của Argentina ....................3 2. Giai đoạn phát triển thần kì 1992 - 1998............................................................4 3. Những dấu hiệu bất ổn – Khủng hoảng xảy ra: ...............................................6 4. Khủng hoảng Argentina 2001-2002 (giai đoạn sau 2001)...............................9 PH ẦN II: N GUYÊN NHÂN KH ỦNG HO ẢNG ARG ENTINA ................................ 13 I. Nguyên nhân nội tại ..................................................................................................13 1. Hệ thống chuẩn tiền tệ currency board: ..........................................................13 2. Thâm hụt ngân sách quá lớn...............................................................................15 3. Các chính sách quản l ý kinh tế vĩ mô sai lầm: ................................................17 II. Ảnh hưởng từ bên ng oài ..........................................................................................18 1. Các tổ chức tin dụng quốc tế (IM F) ..................................................................18 2. Các quốc gi a các.....................................................................................................20 PHẦN III: KẾT LUẬN ....................................................................................................21 I. Phạm vi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Argentina:.......................................21 1. Khu vực M ỹ – Latin ..............................................................................................21 2. Thế giới ....................................................................................................................22 II. Nguy cơ khủng hoảng tại Việt Nam: .......................................................................22 1. Thực trạng nợ công ở Việt Nam.........................................................................22 2. Tỷ lệ vay nợ nước ngoài (< 40% GD P). .............................................................25 3. Cơ chế giám sát các khoản vay nước ngoài .....................................................26 4. Bộ máy quản lý: Giải quyết tham nhũng, cổ phần hóa ồ ạt và thất thoát ..................................................................................................................................27 I II. Bài học kinh nghiệm: ................................................................................................28
  3. LỜI MỞ ĐẦU Nhắc đến Argentina, người ta nhớ ngay đến điệu nhảy Tango nổi tiếng, nhớ đến nền văn hóa tiêu biểu cho văn hóa Mỹ Latinh: dân dã, đầy chất bốc lửa, say đắm và quyến rũ, nhớ tới những con người thân thiện, hiếu khách, cởi mở. Tất cả tạo nên một Argentina đặc sắc, khiến cho bước chân của những du khách tới thăm đất nước xinh đẹp này cứ lưu luyến mãi không thôi. Không chỉ văn hóa, thế giới còn biết đến một Argentina có nền kinh tế phát triển nhất ở Mỹ Latinh với GDP tính theo sức mua tương đương là 599,1 tỉ USD, đứng thứ 22 thế giới. Thu nhập bình quân đầu người là 15.000 USD với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, dân số được đào tạo cao, ngành nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, công nghiệp đa dạng. Tuy nhiên, trong khung nhạc phát triển đất nước, ngoài những nốt thăng rực rỡ còn in dấu những nốt trầm. Đó là khủng hoảng nợ, thất nghiệp, lạm phát… điển hình phải kể đến cuộc khủng hoảng 2001. Tháng 12/2001, hệ thống ngân hàng Argentina sụp đổ, nhấn chìm một trong những trung tâm kinh tế năng động và thành công tại khu vực Nam Mỹ. Gần như chỉ sau một đêm, đất nước này đã rơi vào cảnh đói nghèo, chỉ trong vòng 5 tuần 5 vị tổng thống lên chức xuống chức. Người dân, công nhân, viên chức xuống đường biểu tình… Nợ nước ngoài: 160 tỷ USD (tức 40% GDP của Argentina bằng 1/7 tổng nợ của các nước đang phát triển); thâm hụt ngân sách năm 2001: 6,5 tỷ USD; thất nghiệp tăng tới mức kỷ lục trong nhiều năm: 20% ở thủ đô Buenos Aires, và thậm chí cao hơn nhiều tại các tỉnh nghèo, thu nhập của người dân giảm 14%; 15% dân số sống dưới mức nghèo đói theo tiêu chuẩn của A rgentina (thu nhập dưới 450 USD/tháng cho một gia đình bốn người)… Vậy nguyên nhân thực sự của sự sụp đổ này là do đâu? Đó là một vấn đề lớn mà nhiều nhà nghiên cứu kinh tế đã tốn không ít giấy mực. Đây cũng là
  4. đề tài mà nhóm chúng tôi đưa ra để thảo luận, từ điển hình của Argentina mà rút ra những bài học cho Việt Nam trong giai đoạn hiên nay, khi Việt Nam cũng đang được xem là một thần kỳ mới. Bài tiểu luận của của nhóm được phân chia làm 3 phần chính: PHẦN I: DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG PHẦN II: NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG ARGENTINA PHẦN III: KẾ LUẬN T Nhóm tiểu luận cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS. Mai Thu Hiền đã giúp đỡ chúng em rất nhiều trong việc hoàn thành bài tiểu luận.
  5. PHẦN I: DIỄN BIẾN CU ỘC KHỦNG HOẢNG 1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên – xã hội của Argentina Argentina nằm ở cực nam Nam Mỹ, là nước lớn thứ hai ở Mỹ Latinh s au Brax . in * Phía Bắc giáp Bolivia (832 km) * Phía Tây giáp Chi Lê (5.150 km) * Phía Đông Bắc giáp Paraguay (1.880 km) * Phía Đông giáp Uruguay (579 km), Braxin (1.224 km) Địa hình phong phú, đồng bằng Pampas màu mỡ nằm ở nửa phía Bắc, khu vực đất đai rộng lớn bao quanh Patagonia nằm ở phía Nam, dãy A ndes gồ ghề chạy dọc biên giới phía Tây. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên: các vùng đồng bằng màu mỡ ở Pampas, chì, kẽm, thiếc, đồng, quặng sắt, mangan, dầu lửa, uranium. Vì trải dài trên nhiều vĩ độ và chênh lệch độ cao lớn, Argentina có nhiều kiểu khí hậu khác nhau. Ôn đới là kiểu khí hậu chi phối, kiểu khí hậu cận nhiệt hiện diện ở miền Bắc và kiểu khí hậu cận cực hiện diện ở miền Nam đất nước. Khí hậu miền Bắc có đặc điểm mùa hè nóng ẩm ướt và mùa đông khô vừa, thỉnh thoảng gây hạn hán trong một thời gian. Miền Trung có mùa hè nóng với sấm chớp và mùa đông lạnh. Các vùng phía Nam có mùa hè ấm áp, mùa đông lạnh với những trận mưa tuyết lớn, đặc biệt trong vùng núi. Càng lên cao, khí hậu càng lạnh giá.
  6. Argentina là nước cộng hòa lập hiến. Hiến pháp A rgentina được sửa đổi năm 1994. Tổng thống được bầu cử trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm và có thể được tái cử một lần. Cơ quan lập pháp Argentina bao gồm quốc hội lưỡng viện (gồm cả Thượng viện và Hạ viện). - Các đảng phái chính trị: Argentina có 25 đảng chính trị hợp pháp. - Cơ cấu hành chính: Gồm 1 thành phố tự trị (Buenos A ires) và 23 tỉnh 2. Giai đoạn phát triển thần kì 1992 - 1998 Từ những năm 1980, A rgentina chìm đắm trong chế độ quân chủ chuyên chế và từ sau năm 1983 thì nước này mới có sự thay đổi về chế độ. Tuy vậy, những hậu quả mà chế độ quân chủ chuyên chế tạo ra là rất sâu sắc và kéo dài với các khoản nợ nước ngoài khổng lồ và một nền kinh tế rối ren, hỗn loạn. Những nỗ lực của chính quyền mới (dưới thời Tổng thống Alfonsin) bằng việc đưa ra đồng tiền mới (đồng A ustral) thay thế đồng tiền cũ đang lưu hành để chi trả các khoản nợ nước ngoài. Tuy nhiên, những nỗ lực này đã không thành công, đồng A ustral mất giá, siêu lạm phát xảy ra (năm 1989 lạm phát lên tới 5.000%). a. Chính sách 1991 Tổng thống Carlos MENEM bắt đầu nhiệm kỳ năm 1989 khi A rgentina rơi vào tình trạng nợ nước ngoài lớn, lạm phát lên tới 200%/tháng và năng suất giảm mạnh. Để vượt qua khủng hoảng kinh tế, chính phủ đã thực hiện các biện pháp sau: 1. Ngày 1/4/1991, quốc hội Argentine thông qua “currency board”. Điều luật này cho phép thành lập hội đồng tiền tệ với nhiệm vụ chính nhằm duy trì
  7. tỷ giá giữa peso với USD, và giới hạn việc in ấn đồng peso xuống mức cần thiết cho việc mua dollar trên thị trường tiền tệ 2. Xây dựng hệ thống tiền tệ kép (bi-monetary) đảm bảo vai trò ngang nhau giữa đồng peso với ngoại tệ (chủ yếu là đô la Mỹ). Người dân A rgentina có quyền trả bằng bất kỳ đồng tiền nào trong các giao dịch của mình. 3. Tự do hóa hoàn toàn hệ thống ngân hàng, bao gồm việc tư nhân hóa gần như tất cả các ngân hàng nhà nước ở địa phương và bán một ít các tổ chức tài chính trung bình và lớn cho nước ngoài. 4. Tự do hóa hoàn toàn việc luân chuyển tư bản - cả tài chính lẫn đầu tư trực tiếp - mà không có bất kỳ hạn chế nào. 5. Tư nhân hóa các công ty nhà nước từ công ty hàng không đến công ty điện và Bưu điện, trong khi nước này chưa hề có một hệ thống luật lệ mạnh và đầy đủ. 6. Loại bỏ gần như tất cả các hàng rào phi thuế quan, và cắt giảm thuế từ trung bình 45% đầu thập niên 90 xuống còn 11% năm 2000. Với 3 giai đoạn cải cách 1991. 1995, 1998, thị trường việc làm linh hoạt ở nước này đã được cải thiện đáng kể, điển hình là số lượng công nhân được kí kết hợp đồng và được dào tạo tăng từ 6% năm 1995 lên 12% năm 1997.Năng suất lao động trung bình tăng 3% từ 1991-1998.GDP tăng trưởng từ mốc giảm liên tục 0.5% trong suốt những năm 1980 đã bật mạnh mẽ lên tới hơn 10% trong 2 năm đầu tiền của chính sách cải cách và 5% năm 1993-1994.
  8.  Kết quả: lạm phát giảm đáng kể, ổn định giá được đảm bảo, và giá trị của tiền tệ được bảo tồn. Những yếu tố đó khiến A rgentina được ngợi khen như là một điển hình của sự thần kỳ mới và là một trong những “học trò xuất sắc” được IMF thừa nhận. 3. Những dấu hiệu bất ổn – Khủng hoảng xảy ra: Nhìn chung, việc ban hành Luật Chuyển đổi đã có những tác động tích cực trong việc kiểm soát lạm phát, nhưng mặt trái của nó là ở chỗ: Thứ nhất, để duy trì được tỷ giá 1 ARA = 1 USD, NHTƯ Argentina phải có lượng dữ trữ ngoại tệ Iớn để sẵn sàng can thiệp thị trường bất cứ lúc nào và với bất cứ dung lượng nào. Tuy vậy, A rgentina lại không đáp ứng được đòi hỏi tiên quyết này. Thực tế là họ đã phải bù đắp lượng ngoại tệ bị thiếu hụt so với yêu cầu dự trữ để can thiệp thị trường bằng việc tăng cường vay nợ nước ngoài. Cố thể nói, việc duy trì chính sách tỳ giá theo "chuẩn tiền tệ" như vậy quả là quá tốn kém mà lại hết sức mong manh, thiếu sự bền vững. Thứ hai, việc duy trì tỷ giá 1 ARA = 1 USD mặc dù giúp kiểm soát lạm phát (thông qua khống chế lượng Peso được phát hành phù hợp với lượng USD giao dịch trên thị trường), nhưng điều này lại khiến cho ngân sách Chính phủ bị thâm hụt càng nghiêm trọng. Nguyên do là với các qui định trong Luật Chuyển nhượng thì Chính phủ không được in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Thứ ba, chính sách "chuẩn tiền tệ" cũng làm cho đồng Peso lên giá, hệ quả là hàng nhập khẩu từ nước ngoài rẻ hơn đáng kể so với hàng sản xuất
  9. trong nước. Sự suy yếu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong nước so với quốc tế do chính sách vô tình tăng giá đồng nội tệ đã gây hậu quả hàng loạt doanh nghiệp trong nước bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng mạnh. Thứ tư, việc cho phép dân chúng tự do lựa chọn nắm giữ USD hay ARA đã vô tình khiến tình trạng "chảy máu ngoại tệ" trong nền kinh tế, do dân chúng tăng cường chuyển từ đồng Peso sang nắm giữ USD để đi du lịch nước ngoài hay mua sắm các hàng hóa nhập khẩu giá rẻ. Điều này đã làm cho dự trữ ngoại tệ bị sụt giảm nghiêm trọng. Điều này khiến đồng Peso ngày càng bị mất giá so với USD. Xử lý bất cập nghiêm trọng này buộc Chính phủ phải tăng cường vay nợ nước ngoài để bù đắp đúng lượng ngoại tệ đã bị chảy ra nước ngoài. Thứ năm, cũng do chính sách "chuẩn tiền tệ" khiến NHTƯ không làm tròn vai của mình khi là "cứu cánh cuối cùng". Khi hệ thống ngân hàng bị lâm vào khủng hoảng và cần sự giải cứu từ NHTƯ thông qua các khoản cho vay tái chiết khấu thì lại khống được đáp ứng. Thứ sáu, đồng Peso được neo chặt với USD nên về nguyên lý thì lãi suất của A RA phải tương đương với lãi suất USD. Nếu điều kiện này không được duy trì thì lập tức hoạt động A rbitrage sẽ xảy ra. Điều này hàm ý rằng, NHTƯ Argentina đã bị mất đi sự chủ động trong sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết kinh tế vĩ mô (chẳng hạn có thể tăng lãi suất để chống lạm phát hay giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế). Thêm vào đó, tình trạng tham nhũng tại nước này diễn biến hết sức phức tạp, hầu như rất khó kiểm soát và ngăn chặn, nên ngân sách Argentina vốn đã bị thâm thủng lại càng bị làm trầm trọng hơn. Vì thế, những dấu hiệu bất ổn đầu tiên đã xuất hiện:
  10.  Cuối những năm 90, chính phủ Argentina đã tận dụng uy tín đang lên của quốc gia để liên tục vay nợ nước ngoài, các khoản nợ nước ngoài âm thầm tăng lên dần, bắt đầu là ngưỡng an toàn từ tỉ lệ nợ dưới 50% GDP (35% trong năm 1995 cho đến gần 65% năm 2001).  Cuối thập kỷ 90, đồng dollar Mỹ tăng giá dẫn đến việc đồng peso cũng tăng giá theo so với đồng tiền các nước đối tác thương mại nước này, làm giảm khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Argentina  Năm 1994 khủng hoảng đồng peso Mexico làm ảnh hưởng đến nguồn vốn, mất nguồn tiền gửi ngân hàng, và khủng hoảng nghiêm trọng trong thời gian ngắn; một loạt chính sách cải cách để nâng đỡ hệ thống ngân hàng trong nước được đưa ra. Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế được phục hồi nhanh chóng, đạt 8% vào năm 1997.  Năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á nổ ra và lan ra khắp các nước đang phát triển trên thế giới  Năm 1998, tình hình tài chính thế giới rối loạn do các vấn đề của Nga và nỗi lo lắng của các nhà đầu tư vào Brazil đã làm cho lãi suất trong nước tăng lên mức cao nhất trong hơn ba năm, làm giảm một nửa tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế.  Năm 1999 Brazil buộc phải phá giá đồng real 29% làm ảnh hưởng rất lớn đến Argentina vì đây là nước xuất khẩu chủ yếu của Argentina.  Từ những năm 1999, Argentina đã bắt đầu gặp phải những mất cân đối trong chi tiêu ngân sách, mức tiêu dùng giảm 2,1% và đầu tư giảm 12,8%.
  11.  Tháng 12 năm 1999, chính phủ đã tăng thuế và cắt giảm chi tiêu để giảm thâm hụt, làm GDP ở mức 2,5% năm 1999.  Tăng trưởng năm 2000 càng trở nên tồi tệ ở mức 0,8%. Cả các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều hoài nghi về khả năng trả nợ của chính phủ và giữ tỷ giá cố định theo đồng USD.  Ngày 10/3/2000, IMF đồng ý một thỏa thuận cho vay dự phòng trị giá 7,2 tỷ USD trong 3 năm cho Argentina với điều kiện nước này phải điều chỉnh tài chính chặt chẽ và đạt mức tăng trưởng GDP 3,5% vào năm 2000 (thực tế tăng trưởng GDP năm 2000 của nước này chỉ là 0 5%).  Ngày 29/5/2000, Chính phủ tuyên bố cắt giảm chi ngân sách 1 tỷ USD với hy vọng việc " chịu trách nhiệm tài chính" sẽ khôi phục lại niềm tin đối với nền kinh tế.  Ngày 18/12/2000, chính quyền Tổng thống De La Rua thông báo cần sự trợ giúp cả gói 40 tỷ USD của IMF. 4. Khủng hoảng Argentina 2001-2002 (giai đoạn sau 2001) Hệ thống ngân hàng A rgentina sụp đổ vào vào tháng 12/2001, nhấn chìm một trong những trung tâm kinh tế năng động và thành công nhất tại khu vực Nam Mỹ. Gần như chỉ sau một đêm, đất nước này rơi vào cảnh đói nghèo. Tình cảnh sau đó hết sức hỗn độn. Chỉ trong vòng 2 tuần, có tới 5 vị Tổng thống lên và xuống chức. Người dân, công nhân, viên chức xuống đường biểu tình. Chính quyền A rgentina cho rằng thủ phạm là các chính sách mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới áp dụng tại đây từ những năm 1990. Kể từ đó đến nay, giới lãnh đạo nước này đi theo một đường lối tài chính độc lập và đã phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường xa để Argentina đạt được sức mạnh như họ đã từng có.
  12.  Diễn biến: Năm 2001, những bất ổn đạt đến đỉnh cao, với mức tiêu dùng vào cuối quí 3 giảm sâu tới 5,8% và đầu tư giảm 17,5%, kéo theo tăng trưởng GDP âm và thất nghiệp tăng cao kỷ lục (18,3%).  Ngày 12/1/2001, do kinh tế của Argentina vẫn còn suy thoáỉ mạnh, IMF tăng thỏa thuận ngày 10/3/2000 lên 7 tỷ USD như một phần của gói 40 tỷ USD viện trợ cả gói liên quan đến Ngân hàng Phát triển Trung Mỹ, WB, Tây Ban Nha và tư nhân cho vay. Thỏa thuận này nhằm đảm bảo GDP của nước này sẽ tăng trưởng ở mức 2,5% năm 2001 (thực tế năm 2001 GDP nước này tăng trưởng - 5%).  Ngày 17/6/2001, Chính phủ thông báo khoản nợ trị giá 29.5 tỷ USD được hoán đổi từ khoản nợ ngắn hạn thành khoản nợ mới với thời gian đáo hạn dài hơn và lãi suất cao hơn.  Ngày 19/6/2001, giảm giá 7% đồng Peso trong tương quan so sánh với USD, đối với thương mại hàng hóa với kỳ vọng cải thiện năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế của nước này.
  13.  Ngày 29/7/2001, Quốc hội thông qua “Luật Thân hụt bằng 0”, đòi hỏi một ngân sách cân bằng vào quí IV/2001.  Ngày 7/9/2001, dựa trên những cam kết của Argentina thực thi Luật Thâm hụt bằng bằng 0, IMF tăng cam kết cho vay lên 7,2 tỷ USD.  Tháng 10/2001, Chính phủ sử dụng trái phiếu địa phương “scrip” để trả lương một cách phổ biến khi nguồn thu ngân sách Chính phủ bị giảm sút nghiêm trọng.  Ngày 6/11/2001, Chính phủ chỉ đạo việc đảo nợ lần 2: Đổi 60 tỷ USD trái phiếu với mức lãi suất trung bình 11-12%/năm lấy thương phiếu với kỳ hạn dài hơn, nhưng lãi suất chỉ 7%. Các tổ chức đánh giá trái phiếu quốc tế coi đó là một sự “vỡ nợ mang tính hiệu quả”.  Ngày 30/11/2011, dân chúng đổ xô đi rút tiền ở các NHTM, làm dự trữ của NHTƯ giảm khoảng 2 tỷ USD/ngày  Ngày 5/12/2001 khi IMF từ chối giải ngân khoản vay trị giá 1,24 tỷ USD. Số tiền này nằm trong khuôn khổ khoản vay trọn gói 39,7 tỷ USD (đã được thỏa thuận vào cuối tháng 12/2000), đẩy Argentina đứng trước nguy cơ vỡ nợ đối với các khoản nợ nước ngoài trị giá đến 146 tỷ USD (trong đó, riêng các khoản nợ Chính phủ đạt tới 132 tỷ USD, chiếm 46% GDP cùng năm của nước này). A rgentina tuyên bố phá sản ngay sau đó. Cướp bóc và bạo loạn nổ ra khắp nơi khiến vài chục người chết.  Tháng 12/2001, Chính Phủ ra hạn mức rút tiền là 1000 USD/tháng. Thay các khoản tiền gửi bằng trái phiếu chính phủ thời hạn 10 năm  Ngày 24/12/2001, Chính phủ A rgentina chính thức tuyên bố đình chỉ các khoản nợ nước ngoài lớn nhất trong lịch sử. Nếu tính trung bình nợ nước ngoài bình quân/người của Argentina thì mỗi người phải gánh trên lưng mình tới trên 3.000 USD (kể cả những đứa trẻ mới chào đời).  Tháng 1/2002, thả nổi tiền, Peso mất giá 29%, USD/peso = 1,4
  14.  Tháng 2/2002, USD/peso=2,6 người dân A rgentina rút 100 triệu USD khỏi ngân hàng mỗi ngày. Chính Phủ phải ra hạn mức rút tiền mới là 500 USD/tháng  Tháng 3/2002, tài sản ngân hàng được chuyển đổi sang đồng Peso, các ngân hàng lỗ khoảng 10-20 tỷ USD. USD/peso=3,75, các ngân hàng bắt đầu thiếu tiền mặt  Ngày 19/4/2002, NHTƯ Argentina quyết định tạm ngừng vô thời hạn tất cả các giao dịch ngoại hối cho tới khi Chính phủ có được một chương trình kinh tế ngăn chặn dòng vốn tháo chạy ồ ạt khỏi các ngân hàng thương mại (NHTM) (trung bình khoảng 100 triệu USD/ ngày). Song, quyết định này cũng không tồn tại được lâu, bởi ngày 26/4/2002, tức là chỉ 1 tuần sau khi ngưng hoạt động, các NHTM nước này mở cửa trở lại, tình hình càng trở nên tồi tệ hơn rất nhiều. Những bất ổn về chính trị cộng với những sai lầm của Chính phủ trong ứng phó với khủng hoảng (thực hiện chế độ đa tỷ giá, áp dụng các biện pháp kiểm soát hành chính đối với giá cả, các biện pháp bảo hộ khác.) đã khiến cho tình hình ngày càng trở nên xấu đi trong năm 2002: thị trường chứng khoán suy sụp, đồng Peso bị mất giá mạnh, lạm phát bùng phát, thất nghiệp gia tăng, tăng trưởng kinh tế giảm sút nghiêm trọng.
  15. PHẦN II: NGUYÊN NH ÂN KH ỦNG HOẢNG ARGENTINA I. Nguyên nhân nội tại 1. Hệ thống chuẩn tiền tệ c urrency board: Theo TS. Quách Mạn h Hào, một currency board tồn tại khi NHTW một quốc gia cam kết hỗ trợ tiền tệ q uốc gia, mức cung tiền, bằng dự trữ nước ngoài tại mọi thời điểm. Về cơ chế vận hành của currency board như sau: cấm khôn g cho phép NHTW phát hành các khoản nợ - tiền có quyền lực cao (high-power money) - nếu như không được bảo đảm hỗ trợ 100% bằng lượng dự trữ ngoại tệ tương đương. Hệ thống này chỉ cho phép NHTW phát hành thêm một lượng tiền tương ứng với lượng ngoại tệ vừa mới bổ sung. Do đó, giá trị đồng tiền luôn được bảo đảm và đồng thời cũng giúp kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, currency board khác với hệ thống “tỷ giá cố định” (fixed exchange rate system). Bởi vì, “tỷ giá cố định” mặc dù cũng duy trì giá trị đồng tiền như currency board nhưng lại không có độ tin cậy cao, nói là “tỷ giá cố định” nhưng thật ra đồng tiền cũng có khả năng bị phá giá. Còn currency board thì không như vậy, nó luôn giữ đúng tỷ giá trao đổi đã được ấn định trước đó. Do đó, currency board luôn đạt được sự tin tưởng cao từ các nhà đầu tư. Với việc áp dụng currency board, Argentina đã đ ạt được những thành công bước đầu  Khống chế lạm phát: việc giữ cố định tỉ giá làm hạn chế lượng cung tiền bởi chính phủ phải giữ cân bằng lượng cung tiền peso và lượng USD có
  16. trên thị trường. Thực tế chính sách này thực sự có hiệu quả trong kiềm chế lạm phát từ năm 1991 đến năm 1994 .  Cuộc sống của người dân được nâng lên, giá cả ổn định, người dân có thể vay nợ bắng đồng dollar với mức lãi suất thấp.  Việc cố định tỉ giá cũng khiến Argentina thu hút và giữ chân được các nhà đầu tư do lãi suất ngân hàng được đảm bảo bởi chính sách neo tỉ giá vào đồng USD, nhà đầu tư nước ngòai có thể yên tâm rằng trong tương lai không phải lo lắng về sự biến động tỷ giá. Tuy nhiên, những nhược điểm của nó được bộc lộ thời gian không lâu sau đó:  Đầu tiên, là việc NHTW không thể tự chủ trong chính sách tiền tệ. Nguyên nhân là do lãi suất của đồng nội tệ phải đúng bằng lãi suất của đồng ngoại tệ, nếu không hoạt động arbitrage sẽ xảy ra. Do đó, NHTW không thể giảm lãi suất để kích thích đầu tư hoặc tăng lãi suất để kiềm hãm lạm phát.  Thứ hai, currency board có khuynh hướng khuyến khích các nhà đầu tư trong nước kinh doanh quốc tế vay nợ bằng ngoại tệ mà không hề có bất cứ biện pháp phòng ngừa rủi ro nào cả, dẫn đến vay nợ quá mức. Chính vì vậy mà khi khủng hoảng xảy ra, các nhà đầu tư này sẽ là những người chịu thiệt hại lớn nhất.  Thứ ba, NHTW không thể thực hiện chức năng là người cho vai cuối cùng (nguyên nhân là do hệ thống currency board quy định không cho phép ngân hàng phát hành tiền nếu không có lượng ngoại tệ tương ứng bổ xung). Do đó, khi khủng hoảng niềm tin xảy ra, NHTW không thể cung cấp cho các NHTM những khoản vay ngắn hạn được, làm cho các NHTM này không thể chi trả các khoản nợ sắp đáo hạn cho khách hàng. Cuối cùng, tất yếu là hệ thống ngân hàng sẽ sụp đổ.
  17.  Thứ tư, do không thể in thêm tiền và dự trữ ngoại tệ ngày càng ít đi nên ngân sách chính phủ sẽ bị thâm hụt nghiêm trọng. Chính vì vậy, chính phủ Argentina phải bù đắp thăm hụt ngân sách bằng các khoản vay nợ từ nước ngoài. Điều này làm cho tình trạng nợ nước ngoài của Argentina ngày càng gia tăng.  Thứ năm, chính sách currency board làm cho hàng hoá xuất khẩu ngày càng tăng lên (do đồng đôla tăng giá) và hàng nhập khẩu ngày càng rẻ đi. Do đó, hàng trăm doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp nước ngoài, buộc phải dẫn đến phá sản.  Thứ sáu, việc đôla hoá nền kinh tế đã tạo ra một hệ thống “tiền tệ kép” (bimonetary system), cho phép người dân tự do quy đổi từ Peso sang đôla một cách dễ dàng. Điều này đã làm cho một lượng lớn ngoại tệ “chảy” ra nước ngoài (nguyên nhân là từ những chuyến du lich, nghỉ mát, mua hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ từ nước ngoài), dẫn đến dự trữ ngoại tệ trong nước bị giảm sút. 2. Thâm hụt ngân sách quá lớn
  18. Theo những số liệu chính thức của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ Nợ/GDP tăng trưởng đều đặn kể từ năm 1993 và có bước đột phá đáng kể từ sau năm 1998. Tuy nhiên những số liệu thực tế này đã đánh giá thấp những món nợ này trong suốt nửa đầu của những năm 90 có nghĩa là những con số này trên thực tế còn cao hơn và sự tăng trưởng của chúng cũng có ít tác dụng tích cực trong giai đoạn này. Ngoài ra, một phần của các khoản nợ sau năm 1995 phản ánh quá trình cải cách hệ thống lương hưu (Cải cách lương hưu sang hệ thống tự tài trợ làm giảm nợ cho chính phủ vì ko phải trả lương hưu cho người dân) Do đó, yếu tố khủng hoảng thứ hai của Argentina gắn liền với việc chính phủ của Tổng thống Carlos Menem trong nhiệm kỳ thứ hai của mình đã tận dụng uy tín đang lên của quốc gia để liên tục vay nợ nước ngoài. Đương nhiên mọi lý lẽ lúc bấy giờ đều được lý giải khá hợp lý. Cứ như thế các khoản nợ nước ngoài âm thầm tăng lên dần, bắt đầu là ngưỡng an toàn từ tỉ lệ nợ dưới 50% GDP (35% trong năm 1995 cho đến gần 65% năm 2001) Việc chính phủ mắc nợ nhiều đã làm lãi suất trong nước gia tăng (tăng lãi suất để bù đắp ngân sách). Nhiều công ty trong nước đã phải đóng cửa vì tín dụng cho sản xuất, kinh doanh trở nên quá khả năng thanh toán. Sự thâm hụt ngân sách quá lớn tạo ra tình trạng lo sợ rằng chính phủ sẽ mất khả năng trả nợ. Chính phủ gặp khó khăn trong việc khuyến khích mọi người mua trái phiếu của mình và không thể tài trợ bằng các khoản cho vay nước ngoài; để xử lý vấn đề khó khăn về ngân sách, chính phủ buộc các ngân hàng phải mua một lượng lớn trái phiếu. Khi các nhà đầu tư mất niềm tin vào khà năng của chính phủ trong việc hoàn trả các khoàn nợ, thì giá của chúng giảm xuống, tạo nên một lỗ hổng lớn trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại. Sự suy yếu như vậy trong bảng tổng kết tài sản làm ngân hàng có ít nguồn lực
  19. để cho vay và tình hình thiếu vốn cho vay góp phần tạo ra sự thu hẹp trong hoạt động kinh tế. 3. Các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô sai lầm: Sai lầm đầu tiên của chính phủ Argentina là việc tự do hóa hoàn toàn hệ thống ngân hàng, bao gồm việc tư nhân hóa hoàn toàn gần như tất cả các ngân hàng nhà nước ở địa phương và bán một ít tổ chức tài chính trung bình và lớn cho nước ngoài. Hệ thống ngân hàng tiềm ẩn những yếu kém đã làm suy yếu dần khả năng chống chịu trước những cú sốc, và cả chế độ tỷ giá cố định 1 peso đổi 1 đô la. Trước hết, các ngân hàng hoàn toàn thiếu những quy định được quy định rõ ràng để phòng ngừa những hậu quả lên khả năng thanh toán của khu vực phi mậu dịch của việc điều chỉnh tỷ giá thực dẫn tới không cân bằng. Do không có sự mất giá danh nghĩa, điều chỉnh này sẽ dẫn tới thời kỳ lạm phát danh nghĩa và thất nghiệp chậm chạp. Thứ hai, hệ thống tài chính ngày càng tư nhân hóa và trở nên quá yếu đuối trước tình trạng khủng hoảng nợ nước ngoài không thể kiểm soát được. Thứ ba, những biện pháp bảo vệ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng cho phép bất cứ người gửi tiền nào rút tiền, cho thấy sự không phù hợp của hệ thống thanh toán khi tình trạng rút tiền ồ ạt xảy ra. Thứ hai, đó là việc tự do cho luân chuyển tư bản - cả trực tiếp và gián tiếp - mà không có bất kỳ hạn chế nào, dẫn đến việc ngoại tệ bị “bay hơi” do những chi tiêu mua sắm của người dân ở nước ngoài, và tiêu dùng hàng xuất khẩu. Thứ ba, tư nhân hóa các công ty nhà nước, từ công ty hàng không đến công ty điện và bưu điện, trong khi Argentina không hề có luật lệ mạnh và đầy đủ, dẫn đến nguồn thu ngân sách của chính phủ không có gì ngoài thuế,
  20. không thể tự chủ trong thu – chi ngân sách. Làn sóng tư hữu hóa trong những năm 1990, dưới thời tổng thống Menem, đã làm nhiều người mất việc. Và do phần lớn các công ty tư nhân hóa thuộc lĩnh vực dịch vụ nhu yếu như cung cấp điện, nước... nên các công ty này đẩy giá cả các mặt hàng dịch vụ của mình cao hơn. Cuộc khủng hoảng của Argentina trở nên trầm trọng khi nhu cầu tiêu dùng trong nước suy giảm, nhiều doanh nghiệp phá sản và ngày càng có thêm nhiều người bị sa thải. Các khoản nợ của chính phủ cũng theo đó gia tăng vì thất thu từ nguồn thuế thu nhập đánh vào doanh nghiệp. Trong khi đó Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khẳng định mình sẽ không giúp Argentina thoát khỏi khủng hoảng bằng cách chi trước những khoản tiền vay đã được thông qua để nước này thanh toán nợ. Thứ tư, loại bỏ gần như hàng rào thuế quan và cắt giảm thuế xuất khẩu từ trung bình 45% đầu thập niên 90 xuống còn 11% năm 2000. Khi đồng USD lên giá, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu giảm cùng đó là khoản nhập khẩu tăng liên tục, và mọi thứ đều dần bộc lộ. Bên cạnh đó, chính sách Hội đồng tiền tệ làm cho hàng hoá xuất khẩu ngày càng mắc lên do đồng đôla tăng giá và hàng nhập khẩu ngày càng rẻ đi. Do đó, hàng trăm doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp nước ngoài, buộc phải dẫn đến phá sản II. Ảnh hưởng từ bên ngoài 1. Các tổ chức tin dụng quốc tế (IMF) Trong suốt những năm 90, A rgentina trở thành một của tổ chức quốc tế, đặc biệt đối với IMF. Đây được coi như hình mẫu cho các nền kinh tế mới nổi noi theo. Tổ chức Tiền tệ thế giới đã ủng hộ cho các chính sách kinh tế vĩ mô các cải cách quan trọng trong nền kinh tế (tự do hó a thị trường tài chính, tư

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản