intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận triết học: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac & vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
96
lượt xem
18
download

Tiểu luận triết học: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac & vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận triết học: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac & vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác nhằm trình bày bối cảnh chung về sự ra đời của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac, nội dung chính của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac, vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac đối với sự ra đời của triết học Mác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận triết học: Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiobac & vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác

  1. Trường Đại H ọc Kinh Tế TPHCM Viện Đào Tạo S Đại Học au TIỂU LUẬN Đề Tài 11 CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠB ẮC & VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC Học Viên thực hiện: Lâm Việt Thăng. STT: 88, nhóm 9, lớp Đêm 3, khóa 22. Giảng viên phụ trách: TS Bùi Văn Mưa. TPHCM, tháng 12 năm 2012. 1
  2. Tổng quan về đề tài, mục đích mà người thực hiện đề tài phải đạt được: - Người thực hiện cần nắm được về bối cảnh chung của triết học cổ điển Đức. Lí do triết học CNDV nhân bản Phoiơbắc ra đời. - Triết học CNDV nhân bản P hoiơbắc có những khác biệt gì hoàn thiện hơn các nhà Triết Học trước và những hạn chế gì? - Triết học Mác ra đời như thế nào? Kế thừa CNDV của P hoi ơ bắc những gì? Có những đặc điểm gì hoàn thiện hơn so với PhoiơBắc nói riêng và những nhà triết học khác nói chung? TÀI LIỆU SỬ DỤNG: - ĐẠI CƯƠNG VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC-TS BÙI VĂN M ƯA-năm 2011. - HỆ TƯ TƯỞN G ĐỨC – Nhà xuất bản sự thật - năm 1977. - QU AN ĐIỂM DU Y VẬT VỀ XÃ HỘI CỦA C.MÁC VÀ PH. ENG EL TRONG HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC-TẠP CHÍ TRIẾT HỌC 2006- NGUYỄN NG ỌC HÀ. - MỘT SỐ THÔ NG TIN VỀ PHOIƠBẮC TRÊN INTERNET. 2
  3. I/ BỐI CẢNH CHUNG VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CNDV NHÂN BẢN PHOIƠBẮC. 1/ BỐI CẢNH CHUNG CỦA NỀN TRIẾT HỌ C CỔ ĐIỂN ĐỨC: Triết học cổ điển Đức tiếp tục phát huy truyền thống Duy Lý của Phương Tây, khôi phục lại quan niệm coi Triết Học là Khoa Học của mọi khoa học. Các triết gia như CănTơ, Hegel, Phoiơbắc …ra sức xây dựng các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người để là cơ sở cho những hoạt động đó. Tuy nhiên, do cố khắc phục những hạn chế siêu hình và máy móc trong nền triết học Duy Vật thế kỷ XVII-XVIII mà triết học cổ điển Đức rơi vào chủ nghĩa Duy Tâm, Thần bí. Dù vậy, họ vẫn biết tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học truyền thống của nhân loại, phát triển thêm và xây dựng được phép biện chứng như một học thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới. Vì vậy, Triết học cổ điển Đức mang tính Duy Tâm-Thần bí, là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX. Hegel (1770-1831)- Một nhà triết học vĩ đại trong lịch sử Triết học của Nhân Loại-đã xây dựng hệ thống triết học Duy Tâm khách quan biện chứng nổi tiếng. Các tác phẩm chính của ông là Hiện Tượng Luận Tinh Thần, Bách Khoa Toàn Thư Các Khoa Học Triết Học. Hệ thống triết học Hegel đánh giá chung như sau: 1. Thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung. 2. Phép biện chứng là linh hồn sống động. Hegel còn xây dựng các nguyên tắc của lô-gích biện chứng, các quan điểm biện chứng về nhận thức, ông đã đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biện chứng, lô-gích học và nhận thức luận. Phép biện chứng của Hegel về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giam hãm trong hệ thống Triết Học Duy Tâm Thần Bí. Vì vậy, bên cạnh những nội 3
  4. dung biện chứng, tiến bộ, khoa học và cách mạng lại có không ít quan điểm siêu hình, phản khoa học và bảo thủ và trong nó chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn. 2/ TIỂU SỬ VÀ HOÀ N CẢNH RA ĐỜ I CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT NH ÂN BẢN PHOIƠBẮC: PHOIƠBẮC (1804 - 1872) là một đại biểu lỗi lạc của nền triết học cổ điển Đức, nhà duy vật lớn nhất của triết học thời kỳ trước Mác, nhà vô thần, bậc tiền bối của triết học M ác. Ông sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức. Ông đã theo học ở trường đại học tổng hợp Beclin, tham gia phái Hegel trẻ. Về sau ông tách khỏi phái này, trở thành người phê phán hệ thống của Hegel, xây dựng hệ thống Triết Học Duy Vật riêng của mình. Các tác phẩm triết học lớn của ông là "Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Triết Học Tương Lai" (l843); "Bản Chất Của Cơ Đốc Giáo", "Lịch Sử Triết Học". Trong các tác phẩm này Phoiơbắc luận chứng cho những quan điểm duy vật của ông. Sau khi Hegel qua đời, những người theo học thuyết Heg đã phân hoá thành hai el nhóm là "Hegel trẻ" và "Hegel già". Phái Hegel già thì bám lấy mặt bảo thủ của hệ thống Hegel, bảo vệ chế độ nhà nước Phổ đã lỗi thời về mặt lịch sử. Trái lại phái Hegel trẻ lại phát triển triết học Hegel về phía lập trường giai cấp tư sản cấp tiến, dân chủ, đòi cải cách nhà nước Phổ theo hướng tư sản. Họ nắm lấy tinh thần của phép biện chứng trong triết học Hegel. Trong nhóm "Hegel trẻ" có cả Phoiơbắc, Mác và Engel. Thời trẻ, Phoiơbắc gia nhập phái Hegel trẻ, tin rằng tôn giáo, các khái niệm của tinh thần tuyệt đối thống trị thế giới hiện thực. Về sau, chịu ảnh hưởng của các nhà khai sáng pháp Thế Kỷ XVIII Phoiơbắc quay sang phê phán Hegel, ngày càng ngã sang lập trường duy vật. Hạn chế cơ bản nhất của triết học Hegel, theo Phoiơbắc, là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, là quan điểm duy tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối được hiểu như một lực lượng siêu tự nhiên. Phoiơbắc vạch ra sự liên kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa Duy Tâm và Thần Học nhằm nô dịch 4
  5. con người (coi ý niệm tuyệt đối tha hoá thành giới tự nhiên cũng giống như quan niệm Chúa trời tạo ra thế giới). Phoiơbắc chỉ ra rằng Hegel chỉ khác thần học ở chỗ ông đã sử dụng một hình thức khác để diễn đạt tư tưởng của mình, tức là ông đã biến lịch sử thần học thành cái gọi là tư duy logic mà thôi. Vì vậy, Phoiơbắc cho rằng: "Triết học Hegel là chỗ ẩn náu cuối cùng của thần học... mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại như sau: tồn tại - chủ thể, tư duy - thuộc tính." II/ NỘI DUNG TƯ TƯỞN G TRIẾT HỌ C CỦA CND V PHOIƠ BẮC. Đối lập với triết học Hegel, Phoiơbắc cho rằng con người không phải là nô lệ của thượng đế hay tinh thần tuyệt đối mà là sản phẩm cao nhất của tự nhiên; con người là biểu hiện của sự phát triển hoàn thiện nhất của giới tự nhiên. Vì vậy, nhận thức con người là nền tảng và chìa khoá để nhận thức thế giới. Phoiơbắc nói rằng, phải giải quyết vấn đề quan hệ tư duy - tồn tại trên lập trường duy vật. Tư duy là chức năng của một dạng vật chất có tổ chức cao là cơ thể người. Bản thân con người cụ thể là sự thống nhất giữa thể xác của anh ta với tư duy là chức năng của cơ thể đó, giữa cấu trúc và chức năng, giữa giải phẫu và sinh lý. Coi con người là sự thể hiện hoàn hảo mối quan hệ tư duy - tồn tại, Phoiơbắc khẳng định chỉ có thể giải quyết vấn đề vật chất - tinh thần trong nhân bản học, quy các vấn đề triết học thành các vấn đề quan hệ giữa các ngành khoa học nghiên cứu giải phẫu và sinh lý, cấu trúc và chức năng. Chân lý, theo phoiơbắc, không phải là CN Duy Vật hay CN Duy Tâm... chân lý chỉ có thể là nhân bản học, tức học thuyết về con người. Vậy con người là gì? Phoiơbắc cho rằng đó là những con người bằng xương, bằng thịt đang sống và làm việc, là chính bản thân chúng ta chứ không phải là con người trong trí tưởng tượng. Hơn tất cả các sự vật hiện tượng khác trong giới tự nhiên, con người là một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có hoài bão, khát vọng, là một bộ phận của tự nhiên mà xét theo bản chất là có tình thương yêu. Con người trong triết học phoiơbắc là con người cụ thể bằng xương, bằng thịt. Bản chất con người là tổng thể những khát vọng, khả năng, nhu cầu của anh ta. 5
  6. Phoiơbắc cũng nhận thấy ảnh hưởng to lớn của môi trường, điều kiện sống, hoàn cảnh đối với tư duy và ý thức con người. Ông quả quyết rằng trong cung điện người ta suy nghĩ khác trong lều tranh. Rằng nếu cơ thể một người đói chất thì trong đầu óc và trái tim anh ta cũng không có chất cho đạo đức và các quan niệm khác. Tuy nhiên, hạn chế của Phoiơbắc ở đây là ông chưa thấy con người xã hội, không thấy rằng con người được tạo nên và bị chi phối bởi các quan hệ xã hội như thế nào. Ông chỉ xét con người về mặt sinh học mà thôi (là một bộ phận của tự nhiên, tách rời các điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử). Khi nghiên cứu và đánh giá sự phê phán của Phoiơbắc đối với Hegel cũng như học thuyết của ông về con người chúng ta có thể rút ra mấy nhận xét sau: Thứ nhất, Phoiơbắc phê phán Hegel trên lập trường nhân bản học duy vật, phê phán ý niệm tuyệt đối của Heg nhưng đồng thời lại phủ nhận luôn cả phương el pháp tư duy biện chứng của Hegel. Phoiơbắc tuyên bố: "phép biện chứng không phải là sự độc thoại của một nhà tư tưởng với chính bản thân mình, mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh". Phương pháp biện chứng trên thực tế đã bị phoiơbắc tầm thường hoá, quy thành mối quan hệ giao tiếp thông thường giữa mọi người trong xã hội. Đây là hạn chế cơ bản của Phoiơbắc trong việc phê phán và đánh giá triết học Hegel. Thứ hai, con người được Phoiơbắc hiểu theo nghĩa cá thể (individium). Mỗi người đều có những nét riêng biệt mà không ai có, vì vậy bản chất của con người rất da dạng. "tất cả chúng ta là những con người, nhưng mỗi con người lại là một người khác" Quan niệm trên đây của Phoiơbắc về con người có điểm hợp lý ở chỗ nó được xây dựng trên nền tảng duy vật. Hơn nữa nó đề cao tính cá thể của con người, nhấn mạnh sự năng động và sáng tạo cá nhân của con người cũng như những lợi ích, nhu cầu cá nhân của con người. Tuy nhiên, hạn chế của Phoiơbắc là ở chỗ ông 6
  7. không nhận thấy bản chất xã hội của con người, cũng như vai trò của hoạt động thực tiễn con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Ông không coi trọng một thực tế là mỗi người tuy là cá thể nhưng lại sinh ra trong một hoàn cảnh xã hội nhất định; thuộc một tầng lớp hoặc giai cấp nhất định, thuộc một dân tộc và một thời đại lịch sử nhất định. Vì vậy, theo nhận xét của Engel, con người của Phoiơbắc là con người phi lịch sử, phi giai cấp... và vì vậy, cực kỳ trừu tượng. Rốt cuộc quan niệm của Phoiơbắc về con người, kể cả xét theo khía cạnh cá thể được coi là điểm mạnh nhất ở ông, cũng phải nhường bước cho một số nhà tâm sinh lý học đương thời và sau ông như Freud, ở khía cạnh xã hội, khía cạnh mà phoiơbắc hầu như không đề cập đến, về sau được M ác nghiên cứu Quan niệm của Phoiơbắc về tôn giáo và cuộc đấu tranh chống tôn giáo. Cụ thể hoá những quan niệm trên đây về con người, Phoiơbắc phân tích các vấn đề tôn giáo : - Tôn giáo, theo ông, là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người. Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin, và an ủi. Bản chất của thần học, do vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú của con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề xã hội. - Tôn giáo thực chất là sự thể hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí. Phoiơbắc nói: "Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con người như thế. Giá trị của chúa không vượt quá giá trị con người. Ý thức của Chúa là tự ý thức của con người, nhận thức của chúa là tự nhận thức của con người". Thực ra "bản chất thần thánh không là cái gì khác, mà là bản chất của con người, nhưng đã được tinh chế, khách quan hoá, tách rời với con người hiện thực bằng xương, bằng thịt". Tóm lại, tôn giáo là bản chất của con người đã bị tha hoá. "Thánh thần của con người có trong tinh thần và trái tim của anh ta". (L.Phoiơbắc: tuyển tập triết học. Matxcơva 1957. T.2. tr. 42 - 43- Tiếng Nga). 7
  8. Những quan niệm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản đã chỉ ra nguồn gốc tâm lý, tình cảm và tâm linh của con người đối với tôn giáo, đồng thời cho thấy nội dung nhân bản trong các quan niệm thần thánh nhưng chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế chính trị- xã hội và văn hoá của vấn đề. Đây cũng là hạn chế chung của các nhà tư tưởng trước Mác trong việc lý giải nguồn gốc và bản chất của tôn giáo. Tuy phê phán kịch liệt tôn giáo, nhưng Phoiơbắc thực tế chỉ phê phán Cơ đốc giáo. Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều cần thiết đối với đời sống con người. Cho nên thay vào Cơ đốc giáo, con người "cần... một tôn giáo mới", vì chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người. Mặc dù sự an ủi trên là giả dối nhưng chúng ta không thể làm gì khác và phải chấp nhận sự dối trá đó. Đúng như Engel nhận xét rằng "Phoiơbắc hoàn toàn không muốn xoá bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn giáo. Ngay cả triết học cũng phải hoà vào tôn giáo. Thứ tôn giáo mà Phoiơbắc đề cao hiểu theo nghĩa của ông là tôn giáo tình yêu, là quan hệ thân thiện giữa người và người. Tôn giáo tình yêu của Phoiơbắc dựa trên triết học nhân bản của ông. Ông cho rằng nó phản ánh được cái gì đó vĩnh hằng trong con người. Vì vậy, nó cần thiết phải tồn tại chừng nào xã hội loài người còn tồn tại. Và phải hình thành nên tình cảm tôn giáo. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng Phoiơbắc là nhà duy vật vĩ đại trong THCĐ Đức. Mác đánh giá cao vai trò của Phoiơbắc, coi ông là người không úp mở tuyên bố địa vị thống trị của chủ nghĩa duy vật. (trong tác phẩm Phoiơbắc và sự cáo chung...). Mác và Engel tự coi mình là môn đồ của Phoiơbắc, giá trị tư tưởng đó của triết học phoiơbắc là điều không thể phủ nhận được. III/ VAI TRÒ CỦA CN DV PHOIƠBẮC VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌ C MÁC: Sự ra đời của triết học M ác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của toàn nhân loại. Nó là hình thức phát triển cao nhất của 8
  9. chủ nghĩa duy vật và của phép biện chứng. Đó là kết quả của triết học duy vật trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, đồng thời cũng là kết quả của sự phát triển của phép biện chứng trong cuộc đấu tranh với phép siêu hình trong lịch sử triết học. Tuy nhiên, Tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học của Hegel và triết học Phoiơbắc. Riêng giới hạn của bài tiểu luận này là nói đến vai trò của CNDV Phoiơbắc với sự ra đời của triết học Mác nên sẽ chỉ tập trung vào triết học Phoiơbắc mà thôi. -C.Mác và Ph.Ăngghen chịu ảnh hưởng sâu sắc những quan niệm duy vật của L.Phoiơbắc: “không phải chúa Trời sáng tạo ra con người, mà chính con người sáng tạo ra chúa Trời”. Theo nhà duy vật Đức, “con người đang khách quan hóa bản chất của mình và biến mình thành đối tượng của cái bản chất đã bị khách quan hóa này – và đây chính là bí mật của tôn giáo”. Luận điểm của L.Phoiơbắc - “bản chất của thần thánh không là cái gì khác ngoài bản chất của con người bị khách quan hóa, tách biệt khỏi con người cá thể, nghĩa là tách biệt khỏi con người hiện thực bằng xương bằng thịt”- đã trở thành “sợi chỉ đỏ” trong quan niệm của C.Mác và Ph. Ănghen về tôn giáo. C.M ác đã bày tỏ sự ủng hộ Phoiơbắc, thể hiện một tình cảm bái phục nhà duy vật này trong cuộc tranh luận giữa ông với nhà thần học, nhà triết học theo phái Hêghen trẻ - Đ.Stơrauxơ (1808 - 1874) năm 1842. Sau đó, C.M ác đoạn tuyệt với nhóm Béclin trong phái Hêghen trẻ. C.M ác và Ph.Ăngghen không có tác phẩm chuyên bàn về tôn giáo, nhưng vấn đề tôn giáo đã được các ông đề cập ngay trong những tác phẩm đầu tay. Tiếp thu quan niệm duy vật của Phoiơbắc - “Chúa trời chẳng qua chỉ là cái bản chất chủ quan của con người đã bị tách biệt theo cách riêng của mình và do vậy, những hành động cao đẹp của con người hoá ra lại không phải xuất phát từ con người, mà từ Chúa trời”, nhưng đi xa hơn Phoiơbắc, C.M ác đã nhận thấy mối quan hệ giữa tôn giáo và các thế lực chính trị - xã hội. Trong Về vấn đề Do Thái (1843), C.M ác đã phê phán mối quan hệ giữa nhà nước và G iáo hội ở châu Âu. Theo ông, “cái gọi là nhà 9
  10. nước Cơ Đốc Giáo là một nhà nước không hoàn bị, và Đạo Cơ Đốc là sự bù đắp và thần thánh hoá sự không hoàn bị đó… Còn nhà nước dân chủ, một nhà nước thật sự, thì không cần đến tôn giáo để bù đắp về mặt chính trị cho mình". Trong khi Brunô Bauơ - người không tán thành phân biệt người Đức gốc Do Thái theo đạo Do thái với người Đức gốc Đức theo đạo Kitô, đòi giải phóng người Do Thái khỏi đạo Kitô, và tách rời những vấn đề tôn giáo khỏi những vấn đề chính trị, thì C.M ác lại khẳng định sự gắn kết giữa giải phóng tôn giáo và giải phóng chính trị. Ông đặt vấn đề xoá bỏ chế độ tư hữu, xoá bỏ chế độ người bóc lột người cùng với tất cả những gì là sản phẩm, là tàn dư của chế độ đó, trong đó có tôn giáo, nhằm xây dựng một nhà nước hoàn toàn thế tục. Sự không thể khoan nhượng của Chủ Nghĩa Cộng Sản với Tôn Giáo còn được C.M ác và Ph.Ăngghen tiếp tục trong Hệ Tư Tưởng Đức (1845 - 1846). Bênh vực chủ nghĩa Duy Vật của Phoiơbắc trước sự phê p hán của các nhà duy tâm Đức theo phái Heg trẻ, các ông cho rằng, “trong tôn giáo, người ta biến thế giới kinh el nghiệm của mình thành một cái gì đó chỉ có trong tư tưởng, trong tưởng tượng đối lập với họ như một cái gì đó xa lạ. Để giải thích điều đó, không thể lại dùng những khái niệm khác, không thể lại dùng “tự ý thức“, hoặc những cái nhảm nhí tương tự như thế được, mà phải xuất phát từ toàn bộ phương thức sản xuất và giao tiếp hiện đang tồn tại“. Mác đánh giá cao Chủ Nghĩa Duy Vật của Phoiơbắc nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông. Chính Mác & Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc và dựa trên hệ thống triết học này để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình Để tiếp cận đúng xã hội dân sự (hay xã hội công dân), C. Mác đòi hỏi trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc, phải xuất phát từ “quan điểm của chủ nghĩa duy vật mới là xã hội loài người, hay loài người xã hội hóa” và phải vượt qua quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ là xã hội “công dân”. C.Mác yêu cầu phải khắc phục quan điểm 10
  11. xã hội công dân tư sản chỉ nhấn mạnh mối liên hệ của những con người thị dân, tức là những con người “độc lập” thông qua cái nút lợi ích tư nhân và tính tất yếu tự nhiên vô ý thức của những cá nhân nô lệ cho doanh nghiệp, nô lệ cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác. Theo tinh thần này, có thể hiểu, dưới chủ nghĩa xã hội, kể cả trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng cần phải xây dựng xã hội dân sự là xã hội của những con người tự chủ, giàu tính người, đoàn kết thúc đẩy phát triển và thực hành quyền lợi cộng đồng, chứ không phải những con người cá nhân vị kỷ, nô lệ cho kinh tế thị trường, nô lệ cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác. Những học thuyết triết học trước triết học Mác thường mới dừng lại ở việc giải thích thế giới, cho nên họ chưa đề cập đến vai trò của hoạt động thực tiễn đối với lý luận, lý luận thường tách rời với thực tiễn. Do vậy, không tránh khỏi tình trạng rơi vào quan điểm duy tâm về xã hội. Ngay cả ở trong triết học Phoiơbắc tuy coi vấn đề con người là trung tâm thế nhưng đây chỉ mới là con người thuần túy về mặt sinh vật, chưa phải con người với tính cách là chủ thể hoạt động cải tạo thế giới. Còn triết học M ác đã xác định rõ: Nhiệm vụ của mình không chỉ dừng lại ở giải thích thế giới mà chủ yếu là tìm ra các phương tiện, các biện pháp để cải tạo thế giới bằng cách mạng. Triết học Mác thường lấy hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội, cải tạo thế giới của con người là điểm xuất phát và thông qua quá trình hoạt động thực tiễn để hoàn thiện hệ thống lý luận của mình. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, triết học Mác đã tạo ra được sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Lý luận xuất phát từ thực tiễn, chịu sự quyết định của thực tiễn; khi ra đời, lý luận định hướng hoạt động thực tiễn. Vì thế, so với các học thuyết triết học khác thì triết học Mác luôn luôn được bổ sung và hoàn thiện. IV/ KẾT LUẬN: Phoiơbắc đã thấy triết học Hegel mắc sai lầm ngay từ khởi điểm xuất phát và cả trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với tinh thần, giữa con người với 11
  12. thế giới. Hạn chế cơ bản nhất của Hegel là ở chỗ dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm để xây dựng học thuyết triết học. Cho nên triết học Heg không tạo ra el được bức tranh trung thực về thế giới. Phoiơbắc cho rằng muốn xây dựng được một học thuyết triết học đúng đắn phải dựa trên lập trường duy vật. Tuy nhiên quan niệm về xã hội ông lại thể hiện quan điểm duy tâm. Phoiơbắc chưa thấy được vai trò của thực tiễn xã hội quyết định sự vận động phát triển của xã hội loài người. Mặc dù còn những hạn chế siêu hình trong quan điểm về tự nhiên duy tâm trong quan điểm về xã hội, chưa có quan điểm duy vật triệt để về con người nhưng Phoiơbắc đã có công lao trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật chống lại quan điểm duy tâm và tôn giáo. Vì thế, quan điểm duy vật của Phoiơbắc cùng với tư tưởng biện chứng của Cantơ và phép biện chứng của Hêghen trở thành tiền đề lý luận hình thành triết học Mác. C.M ác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm duy vật về xã hội mà nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm đã bị “tống ra khỏi” lĩnh vực xã hội. Đó là: quan điểm về các hành vi lịch sử đầu tiên của con người; quan điểm về tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật; quan điểm về vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội; quan điểm về hai quan hệ song trùng trong sự sản xuất ra đời sống; quan điểm về vai trò của quan hệ giữa người và người về vật chất đối với quan hệ giữa người và người về tinh thần. Như vậy, triết học M ác ra đời là sản phẩm của Lịch sử. Nó mang tính quy luật của sự phát triển khoa học và triết học nói riêng. Chính Mác & Engel là những thiên tài đã khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà loài người đã đạt được, để xây dựng học thuyết triết học Duy Vật Biện Chứng, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra. Leenin viết: “chủ nghĩa Mác…không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Học thuyết của 12
  13. ông ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội.” MỤC LỤC I/ Bối Cảnh Chung và Hoàn Cảnh ra đời của CNDV Nhân Bản Phoiơbắc……………………………………………………..trang 3. 1. Bối cảnh chung của Nền triết học cổ điển Đức………..trang 3-4. 2. Tiểu Sử & Hoàn Cảnh ra đời của CNDV Nhân Bản Phoiơbắc……………………………………………….trang 4-5. II/ Nội dung tư tưởng triết học của CNDV Phoiơbắc……….trang 5-9 III/ Vai Trò của CNDV Phoiơbắc với sự ra đời của Triết Học Mác…………………………………………………………...trang 9-12 IV/ Kết Luận:………………………………………………...trang 12. V/ Tài Liệu Tham Khảo……………………………………...trang 13. 13
  14. VI/ TÀI LIỆU T AM KH ẢO : H - ĐẠI CƯƠNG VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC-TS BÙI VĂN M ƯA. - HỆ TƯ TƯỞN G ĐỨC – Nhà xuất bản sự thật - năm 1977. - QU AN ĐIỂM DU Y VẬT VỀ XÃ HỘI CỦA C.MÁC VÀ PH. ENG EL TRONG HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC-TẠP CHÍ TRIẾT HỌ C 2006- NGUYỄN NG ỌC HÀ. - MỘT SỐ THÔ NG TIN VỀ PHOIƠBẮC TRÊN INTERNET. 14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản