TIỂU LUẬN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ GẮN KẾT XÂY DỰNG ĐẢNG VỚI CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Chia sẻ: Pham Vu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:89

0
268
lượt xem
82
download

TIỂU LUẬN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ GẮN KẾT XÂY DỰNG ĐẢNG VỚI CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: tư tưởng hồ chí minh về sự gắn kết xây dựng đảng với chỉnh đốn đảng', luận văn - báo cáo, báo cáo khoa học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ GẮN KẾT XÂY DỰNG ĐẢNG VỚI CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

  1. TIỂU LUẬN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ GẮN KẾT XÂY DỰNG ĐẢNG VỚI CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
  2. Với tư cách người khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, Đảng ta đã xác định một cách rõ ràng và dứt khoát rằng, trong suốt tiến trình công cuộc đổi mới này, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng không chỉ có nghĩa đây là nhiệm vụ mang tầm quan trọng hàng đầu, mà còn có nghĩa là nhiệm vụ đóng vai trò chi phối, quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới. Để xây dựng Đảng ta thành một Đảng mang tầm trí tuệ, tầm tư tưởng, tầm phẩm chất, tầm năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn cần có, đủ đảm đương được vai trò lãnh đạo và đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, thành một Đảng thực sự “vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức”, khi thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định, Đảng “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn”(1). Quan điểm nhất quán này của Đảng ta – quan điểm gắn kết xây đựng Đảng với chỉnh đốn Đảng – có cội nguồn tư tưởng từ tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền. Thật vậy, là người sáng lập và trực tiếp lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên đưa ra quan điểm gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, mà còn là người luôn kiên định, luôn giữ vững quan điểm này. Với Người, gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng không chỉ là một quy luật tất yếu, mà còn là sự vận động và phát triển của Đảng trong suốt tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Với Người, xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng là hai mặt của một quá trình thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kết với nhau vì mục tiêu đem lại cho Đảng một chất lượng mới, một tầm cao mới để Đảng luôn tồn tại với tư cách người lãnh đạo cách mạng, luôn phát triển với tư cách
  3. Đảng cầm quyền. Do vậy, với Người, xây dựng và chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt, mang tầm chiến lược, mà còn là công việc thường xuyên của Đảng trong vai trò lãnh đạo cách mạng, bởi “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(2). “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam” và “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”, “chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(3). Do vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với “lý luận cách mạng tiền phong” mà có nó, “Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trước hết phải dựa trên nguyên tắc nền tảng là nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin “làm cốt”. Sở dĩ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đòi hỏi chúng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt” là bởi, đối với sự vận động và phát triển của Đảng ta, chủ nghĩa Mác – Lênin, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “lý luận cách mạng tiền phong”, là “lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng”, mà còn là “học thuyết dạt dào sức sống”, có khả năng làm cho Đảng ta “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” và giúp cho Đảng ta “khơi nguồn sức mạnh” của chính mình, “khơi nguồn lực lượng và sức mạnh sáng tạo của nhân dân” để giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo(4). Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt” để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trở thành một Đảng cách mạng tiên phong, “Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam” không có nghĩa là giáo điều theo từng câu, từng chữ của C.Mác, của Ph. Ăngghen, của V.I.Lênin, mà như Hồ Chí Minh đã nói, là nắm vững tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hoá dân tộc và nhân loại, tham khảo những kinh nghiệm của các nước, các Đảng anh em, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam để định ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn cho cách mạng Việt Nam; là phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, hiểu rõ phong trào cách
  4. mạng Việt Nam để vận dụng sáng tạo và hơn nữa, còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, xây dựng và chỉnh đốn Đảng còn đòi hỏi Đảng phải luôn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội – “con đường chung của thời đại, của lịch sử” – trên đất nước ta; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; kiên định sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển và thực hành dân chủ rộng rãi với tư cách “cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(5); xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Để làm tròn sứ mệnh lịch sử lớn lao đó, trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm và kiên quyết từ bỏ những gì đã trở nên lạc hậu, lỗi thời hay sai trái để tạo ra những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn. “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình – Người nhấn mạnh – là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(6). Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ của nhân dân; Đảng cầm quyền nhưng nhân dân là chủ; không chỉ có nước mới lấy dân làm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc, bởi cái gốc này chính là cái đem lại sinh lực vô tận cho Đảng; Đảng cầm quyền nhưng Đảng không có quyền lợi gì của riêng mình, ngoài quyền lợi của giai cấp, của dân tộc, của nhân dân. Do vậy, theo Hồ Chí Minh, xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của Đảng luôn đòi hỏi Đảng phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, thực hiện “Đảng – dân một ý chí” để Đảng không ở trên dân, cũng không ở ngoài dân, mà ở trong dân, trong lòng nhân dân và “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7). Với những nhận thức sâu sắc đó, ngay từ khi đứng ra thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
  5. “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”(8). Kể từ đó, trong suốt những năm tháng lãnh đạo Đảng, lãnh đạo cách mạnh Việt Nam, Người đã đưa ra nhiều quan điểm đúng đắn để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nhận thức một cách đúng đắn rằng, Đảng phải “giành được địa vị lãnh đạo” và luôn củng cố địa vị lãnh đạo ấy bằng cách thường xuyên kết hợp xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng để “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, vững mạnh, để luôn được quần chúng thừa nhận Đảng là “một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất”. Không chỉ thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng, Đảng chỉ có thể trong sạch, vững mạnh, chỉ trở thành đội tiên phong và giành được vai trò lãnh đạo cách mạng, khi gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng trở thành một nguyên tắc, một nhu cầu bức thiết trong suốt quá trình vận động và phát triển của Đảng với tư cách người lãnh đạo cách mạng và mỗi khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới thì đây là “việc cần phải làm trước tiên”. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng không biết mệt mỏi của mình, trong suốt những năm tháng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm gắn việc xây dựng đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam với việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam;xây dựng Đảng, không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ Đảng phải gắn liền với chỉnh đốn Đảng, thường xuyên nâng cao sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Với quan điểm nhất quán này, với nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết là cái làm nên sức mạnh to lớn của Đảng, là cội nguồn dẫn đến mọi thành công của Đảng, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân và với tư cách là hiện thân cho sự đoàn kết trong Đảng, mỗi khi “nói về Đảng”, về sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói về việc giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Thấu hiểu hơn ai hết truyền thống đoàn kết của Đảng ta ngay từ những ngày đầu thành lập, nhận thức sâu sắc hơn ai hết về vai trò cực kỳ quan trọng của sự
  6. đoàn kết, nhất trí trong Đảng, Người đã khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” và chính là “nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Với khẳng định này, với mong muốn đã trở thành khát vọng – mong muốn việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng cần phải trở thành truyền thống của Đảng ta, Người yêu cầu Đảng ta, từ Trung ương đến các chi bộ, từ cán bộ lãnh đạo đến đảng viên thường, đều “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(9). Nhận thức sâu sắc truyền thống đoàn kết trong Đảng bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, với lập trường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là quan niệm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng để tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, làm cho toàn Đảng trở thành một khối đoàn kết vững chắc và mọi đảng viên trong Đảng đều phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất ấy cũng là một nguyên tắc vận động và phát triển của Đảng cầm quyền. Với khẳng định này, Người đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng cũng như khối đại đoàn kết toàn dân và coi việc xây dựng sự đoàn kết trong Đảng là nòng cốt để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Người coi sự thống nhất về đường lối, về quan điểm là cơ sở để tạo nên sự thống nhất về hành động trong toàn Đảng nhằm đưa đường lối, quan điểm của Đảng vào cuộc sống, biến các chủ trương của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Không chỉ thế, Người còn cho rằng, trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, khi tình hình càng phức tạp, nhiệm vụ càng nặng nề thì khi đó, “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”, bởi sự đoàn kết thống nhất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến sự đoàn kết thống nhất của nhiều cán bộ, đảng viên, đến sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng(10). Gắn kết xây dựng với chỉnh đốn Đảng để tạo nên sự đoàn kết thống nhất trong toàn
  7. Đảng, theo Hồ Chí Minh, trước hết Đảng phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức của Đảng để tạo nên trong toàn Đảng sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động và làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(12), vừa phát huy được sức mạnh của mỗi đảng viên, vừa phát huy được sức mạnh của toàn Đảng; phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ để mọi cán bộ, đảng viên đều có thể tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề hệ trọng của Đảng; thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách với tư cách nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và đặc biệt, phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tư cách nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, quy luật phát triển của Đảng. Nói về điều này, Người đã nhấn mạnh rằng, “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”(13). Rằng, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”(14). Đặc biệt nhấn mạnh vai trò lớn lao của việc thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình trong sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng nhằm tạo ra sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và coi đó là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là quy luật phát triển của Đảng, là phương thức không những phải “luôn luôn dùng”, mà còn phải “khéo dùng”, phương thức tốt nhất, hiệu quả nhất và là “vũ khí sắc bén” để giữ gìn, củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói về công tác này. Người cho rằng, tự phê bình và phê bình phải trở thành công việc hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, từ người lãnh đạo đến đảng viên thường, từ cấp trên đến cấp dưới đều phải thường xuyên, nghiêm túc thực hiện “tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Làm được như thế thì theo Người, “trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng”(14). Với Người, tự phê bình và phê bình không chỉ giới hạn trong nội bộ Đảng, mà còn cần phải được mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân lao động. Để tiến bộ, mọi cán bộ, đảng viên đều phải biết “lắng nghe ý kiến của quần chúng”, “phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”, đồng thời phải thường xuyên nâng cao tính tự giác và luôn giữ thái độ trung thực, đúng mực trong tự phê bình và
  8. phê bình, phải “biết thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí khác để cùng nhau tiến bộ”(15). Trong tự phê bình và phê bình, theo Người, không được cá nhân chủ nghĩa, không được phép mưu cầu lợi ích cá nhân, không được kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, phê bình người khác nhưng lại không muốn người khác phê bình mình, không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không nghiêm túc, không thật thà, “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín”. Tự phê bình và phê bình, Người nhấn mạnh, không phải chủ yếu là để xử lý, mà cái chính là để mỗi cán bộ, đảng viên đều nhận thức rõ mặt tốt mà phát huy, mặt còn yếu kém mà khắc phục, sửa chữa, nhất là để cùng nhau tiến bộ và đặc biệt, trong tự phê bình và phê bình phải lấy “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” làm phương châm chủ đạo. Gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng để “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặc biệt nhấn mạnh vai trò hết sức quan trọng của việc giữ gìn, củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình, mà còn khẳng định vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng. Coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đạo đức cách mạng là cơ sở nền tảng của Đảng cầm quyền, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đến việc xây dựng Đảng ta thành một Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”. Với quan niệm đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, “ra sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; “ra sức học tập” chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình để cùng tiến bộ, khi gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng trên nền tảng đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(16). Rằng, sự nghiệp cách mạng rất vẻ vang nhưng cũng vô cùng khó khăn, gian khổ mà Đảng là người lãnh đạo, do vậy, “cũng như sông thì có
  9. nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(17). Với quan niệm như vậy về vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, với nhận thức sâu sắc rằng “một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hành đạo đức cách mạng mà bản thân Người là một tấm gương ngời sáng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho chúng ta, khi nói về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Người vẫn không quên căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(18). Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng để Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cầm quyền, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ những người kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng. Coi việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, Người luôn yêu cầu Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người cách mạng vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Với tư cách người cộng sản quốc tế, luôn quan tâm đến phong trào cộng sản thế giới, người suốt đời phụng sự không chỉ cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, mà cả cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu Đảng ta và bản thân Người cũng thế, ra sức hoạt động và góp phần đắc lực vào việc xây dựng khối đoàn kết giữa các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách “có lý có tình” và coi đó cũng là một nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng, gắn xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng.
  10. Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, sự gắn kết giữa xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng là để xây dựng Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to lớn của giai cấp và của dân tộc, một Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, một Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng vì mục tiêu lâu dài ấy, trước hết phải làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất trên cơ sở tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ rộng rãi, phải làm cho Đảng trở thành một Đảng có đạo đức, có trí tuệ và hơn nữa, phải làm cho Đảng luôn là một Đảng cầm quyền, luôn xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, thiết lập “quan hệ máu thịt” với nhân dân, thực hiện “Đảng – dân một ý chí”; đồng thời phải chăm lo đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau và góp phần đắc lực vào việc xây dựng khối đoàn kết giữa các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế. Không chỉ thế, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải gắn bó hữu cơ với “chỉnh đốn lại Đảng”. Chỉnh đốn Đảng là cơ sở để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và đối với một Đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng, khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, chỉnh đốn Đảng cũng là “việc cần phải làm trước tiên”. Chỉnh đốn Đảng là làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi chi bộ đều phải ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉnh đốn Đảng cũng là để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; để Đảng luôn giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng, vai trò tiền phong gương mẫu và phát huy được sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của mình; để Đảng không trở thành quan liêu, xa dân, thoái hoá, biến chất; để củng cố và nâng cao lòng tin của dân với Đảng. Chỉnh đốn Đảng không có nghĩa là Đảng phạm phải những sai lầm, thiếu sót nào đó cần phải sửa chữa, khắc phục, chỉnh đốn lại, bởi một Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng không thể tránh khỏi thiếu sót, sai lầm. Chỉnh đốn lại Đảng cái chính là để nâng chất lượng, năng lực lãnh đạo của Đảng lên một tầm cao mới, đủ sức hoàn thành những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, nhất là khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới.
  11. Kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc chúng ta cùng nhau nhắc lại tư tưởng của Người về sự gắn kết xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, thiết nghĩ, là cần thiết và bổ ích, khi chúng ta đang sôi nổi thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà một trong những mục tiêu của nó là xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, như Người luôn nhấn mạnh, luôn yêu cầu mỗi khi nói về Đảng, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.r (*) , Phó Giáo sư, tiến sĩ, Phó tổng biên tập Tạp chí Triết học. (1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21. (2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.268. (3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr. 268, 280. (4) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.517, 519 -520. (5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 249. (6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr. 261. (7) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 498. (8) Hồ Chí Minh. Sđd., t.3, tr. 3. (9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 497. (10) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr. 492. (11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr. 553. (12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr. 492. (13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 497 – 498. (14) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr. 239. (15) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr. 209, 289. (16) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr. 283.
  12. (17) Hồ Chí Minh. Sđd., t.5, tr. 252 – 253. (18) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 557 - 558, 498. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI TƯ CÁCH THƯỚC ĐO TRÌNH ĐỘ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI NGUYỄN MINH HOÀN (*) Tiến bộ xã hội là một phạm trù mang tính lịch sử. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử nhất định, vào địa vị xã hội và vào trình độ nhận thức, có người quan niệm sự vận động của lịch sử diễn ra như thế này, có người lại quan niệm sự vận động của lịch sử diễn ra như thế khác. Mặc dù vậy, trong lịch sử, khuynh hướng vận động của xã hội, dù được quan niệm là diễn ra theo hướng nào đi chăng nữa, thì phần đông các nhà tư tưởng đều cho rằng, khuynh hướng biến đổi của xã hội nói chung thường bắt nguồn từ sự xung đột giữa người với người, trước hết trong những lĩnh vực kinh tế – xã hội (đặc biệt là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và địa vị xã hội). Rằng, việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích trong xã hội ngày càng công bằng hơn chính là nguồn gốc, là động lực cho sự vận động và phát triển theo hướng tiến bộ của xã hội. Song, công bằng xã hội còn là thước đo trình độ của tiến bộ xã hội trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử và được thể hiện ra ở trình độ giải phóng con người. Tuy không để lại một tác phẩm nào chuyên bàn về tiến bộ xã hội, nhưng với quan niệm duy vật về lịch sử, về thực chất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trực tiếp bàn về tiến bộ xã hội và từ đó, đề xuất quan niệm về tiến bộ xã hội trong toàn bộ di sản lý luận của mình trên cơ sở vạch rõ hạn chế của những quan điểm trước đó về tiến bộ xã hội. Một trong những hạn chế đó, theo các ông, là ở chỗ, do bị bó hẹp trong điều kiện lịch sử cụ thể và lợi ích giai cấp, các quan niệm ấy đã không thấy được vai trò quyết định của lĩnh vực sản xuất vật chất đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội. Các tác giả của những quan điểm đó hầu như chỉ đi tìm nguyên nhân vận động của lịch sử xã hội từ những lực lượng phi vật chất (mà thường thuộc về lĩnh vực ý thức xã hội). Vì thế, những tiêu chuẩn được xác định để đánh giá sự tiến bộ của xã
  13. hội trong những quan điểm ấy cũng chỉ là sự cụ thể hoá ý thức xã hội bằng những tiêu chuẩn, như sự phát triển của ý thức đạo đức, sự phát triển ý thức về tự do, sự phát triển của lý tính - tư duy, sự phát triển ý thức pháp quyền, sự phát triển ý niệm tuyệt đối,... Ngược lại với những quan điểm đó, C.Mác và Ph.Ăngghen coi lịch sử xã hội là một quá trình phát triển theo quy luật khách quan, nội tại và tất yếu, tương tự như quá trình phát triển trong thế giới tự nhiên. C.Mác viết: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”[i], mà quá trình vận động tiến lên của các hình thái kinh tế - xã hội ấy, suy cho cùng, đều bị quy định bởi sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Quá trình vận động và phát triển của xã hội diễn ra hết sức phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn, trải qua những bước quanh co, kể cả những bước thụt lùi. Mặc dầu vậy, đó không bao giờ là một quá trình vận động vô hướng, mà luôn là một quá trình vận động theohướng tiến bộ, tức là theo hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Nói cách khác, sự vận động của xã hội tuy diễn ra theo nhiều hướng khác nhau, hay nói như C.Mác, trong sự vận động của xã hội, “người ta luôn thấy có những trường hợp thoái bộ và loanh quanh”[ii], hoặc như V.I.Lênin đã nói, nếu “cho rằng lịch sử thế giới tiến lên một cách đều đặn, bằng phẳng, không có - đôi khi - những bước nhảy lùi lớn, thì là không biện chứng, không khoa học, không đúng về mặt lý luận”[iii], nhưng sự vận động ấy bao giờ cũng diễn ra theohướng chủ đạo là đi đến tiến bộ, theo hướng là một hình thái kinh tế - xã hội này, sau một thời gian tồn tại và phát triển thì đến một độ nào đó, cuối cùng, cũng sẽ bị thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn về chất. C.Mác viết: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội”[iv] Đương nhiên, không thể hiểu luận điểm này của C.Mác một cách cứng nhắc, theo nghĩa là sự vận động, phát triển của bất kỳ quốc gia nào, khu vực nào trên thế giới cũng đều phải lần lượt trải qua các phương thức sản xuất đó. Bởi lẽ, như đã nói trên, lịch sử thế giới tiến lên không phải một cách đều đặn, bằng phẳng, không có những bước nhảy lớn, kể cả những bước nhảy lùi lại phía sau lẫn những bước nhảy vọt về
  14. phía trước. Ở đây, trong khuôn khổ một Lời tựa và với mục đích giới thiệu một cách vắn tắt nhất, cô đọng nhất những kết quả nghiên cứu quan trọng nhất của mình, C.Mác không đề cập một cách chi tiết đến sự vận động cụ thể đã từng xảy ra của xã hội ở nơi này, nơi kia, vào lúc này, lúc khác, mà xem xét sự vận động ấy trên những nét lớn, một cách khái quát, hay nói như C.Mác, “về đại thể”, toàn bộ lịch sử vận động, phát triển của nhân loại theo hướng chủ đạo, bỏ qua những cái ngẫu nhiên hay những bước đi chệch tạm thời khỏi hướng chủ đạo ấy. Thứ nữa, về những phương thức sản xuất cụ thể mà, theo C.Mác, nhân loại đã trải qua, C.Mác cũng nói một cách rất thận trọng là “có thể coi...”, chứ không phải dưới dạng một khẳng định dứt khoát, nghĩa là C.Mác vẫn dành chỗ cho các công trình nghiên cứu về sau tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung, hoàn chỉnh, làm chính xác thêm. Mặc dầu vậy, sự khái quát của C.Mác về lịch sử vận động, phát triển theo hướng đi lên của xã hội, tư tưởng cơ bản của C.Mác về tiến bộ xã hội, coi tiến bộ xã hội là quá trình thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn về chất cho đến nay vẫn hoàn toàn giữ nguyên giá trị. Như vậy, từ sự khái quát của C.Mác về lịch sử vận động, phát triển theo hướng đi lên của xã hội, có thể khẳng định rằng, tiến bộ xã hội là quá trình vận động của xã hội theo hướng một hình thái kinh tế – xã hội này, sau một thời gian tồn tại, phát triển, đến một độ nào đó, cuối cùng, sẽ bị thay thế bằng một hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn về chất. Vậy cái gì là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội? Trên cơ sở khẳng định nguồn gốc vật chất quyết định sự vận động và phát triển của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau để phân chia trình độ của tiến bộ xã hội ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Bởi lẽ, đó chính là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội thông qua sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại. Nói cách khác, theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất chính là nền tảng của mọi tiến bộ xã hội trong suốt lịch sử, kể từ khi xã hội có giai cấp. Ph.Ăngghen viết: “Toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người sau khi thoát khỏi giai đoạn dã man của động vật, đều bắt đầu từ ngày mà lao động gia đình sản xuất ra được nhiều sản
  15. phẩm hơn số cần thiết để nuôi sống nó, từ ngày mà một phần lao động có thể được dùng không chỉ để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà còn để sản xuất những tư liệu sản xuất nữa. Số sản phẩm lao động dư ra ngoài cái chi phí để duy trì lao động, và việc hình thành và phát triển một quỹ sản xuất và dự trữ xã hội nhờ vào số dư ấy, trước kia và hiện nay vẫn là những cơ sở của mọi tiến bộ xã hội, chính trị và tinh thần (chúng tôi nhấn mạnh – N.M.H)”(5). Song, theo quan điểm của Ph.Ăngghen, “trong lịch sử từ trước đến nay cái quỹ đó vẫn là sở hữu của một giai cấp có đặc quyền, cùng với cái quỹ đó giai cấp này cũng nắm được sự thống trị chính trị và sự lãnh đạo về tinh thần”(6). Vì vậy, chưa thể coi sự phát triển đơn thuần của lực lượng sản xuất, hay nói đúng hơn, sự phát triển đơn thuần của tư liệu sản xuất, là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội. Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thái kinh tế - xã hội chỉ là tiêu chuẩn cơ bản nhất để so sánh sự phát triển về mặt kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội này với một hình thái kinh tế - xã hội khác. Bởi lẽ, trong xã hội có giai cấp, những thành tựu to lớn của sự phát triển lực lượng sản xuất được coi là cơ sở của nền văn minh vẫn chỉ là kết quả được thực hiện trong sự bóc lột của giai cấp này đối với giai cấp khác và vì thế, cái “phúc lợi của giai cấp này lại là tai hoạ của giai cấp kia”. C.Mác viết: “Công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít; anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật do anh tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc của anh ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên”(7). Như vậy, ngay cả khi lực lượng sản xuất có đạt đến trình độ phát triển cao, nhưng nếu quan hệ giữa người và người vẫn là quan hệ bóc lột, bất công, bất bình đẳng, thì sự phát triển của lực lượng sản xuất vẫn mới chỉ dừng lại ở sự gia tăng và ngày càng hoàn thiện của tư liệu sản xuất, chứ chưa phải là sự phát triển của con người với tư cách một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất. Thêm nữa, nói tới xã hội, trước hết là nói tới quan hệ giữa người với người, bởi xã hội, dưới bất kỳ
  16. hình thức nào, như C.Mác đã nhận xét, đều là “sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”. Vì vậy, dù tư liệu sản xuất có tăng lên bao nhiêu chăng nữa, ngày càng hiện đại thêm bao nhiêu đi chăng nữa mà người lao động vẫn còn phải chịu cảnh bị bóc lột, áp bức, bất công, lao động của anh ta, nói như C.Mác, vẫn chưa phải là lao động tự nguyện, mà là lao động bị cưỡng bức, không phải là sự thoả mãn nhu cầu lao động mà chỉ là một phương tiện để thoả mãn nhu cầu khác(8), nghĩa là con người vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn, thì cũng chưa thể nói xã hội đã đạt đến đỉnh cao của sự tiến bộ. Nói cách khác, để cho những thành quả phát triển của lực lượng sản xuất với tư cách sản phẩm sáng tạo của người lao động cuối cùng phải trở thành phương tiện thoả mãn nhu cầu lao động và thông qua đó, phát triển ngày càng toàn diện chính phẩm giá của người lao động, thì trước hết, cần phải xoá bỏ sự áp bức, bất công của chế độ xã hội người bóc lột người, xây dựng một chế độ xã hội công bằng, làm cho “con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thành người tự do”(9). Đây chính là mục tiêu và mô hình xã hội công bằng và tiến bộ theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen. Coi tiến bộ xã hội là sự kế thừa và phát triển toàn bộ những thành tựu vật chất và tinh thần mà nhân loại đã sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử, khi đưa ra mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng và tiến bộ hơn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng, chính những nền tảng vật chất do xã hội tư sản tạo ra là cơ sở vật chất cho sự nghiệp xây dựng một xã hội ngày càng công bằng hơn, bình đẳng hơn, vì mục tiêu giải phóng và phát triển ngày càng toàn diện con người. C.Mác viết: “Thời kỳ tư sản của lịch sử có sứ mệnh tạo ra cơ sở vật chất cho một thế giới mới: một mặt, phát triển những sự giao dịch thế giới dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả loài người, cũng như phát triển những phương tiện của sự giao dịch đó; mặt khác, phát triển các lực lượng sản xuất của con người và đảm bảo biến nền sản xuất vật chất thành sự thống trị đối với các lực lượng của thiên nhiên nhờ vào khoa học. Công nghiệp và thương nghiệp tư sản đang tạo ra những điều kiện vật chất ấy của thế giới mới”(10), và “chỉ riêng những điều kiện này mới có thể hình thành cái cơ sở hiện thực của một hình thái xã hội cao hơn, một hình thái xã hội mà
  17. nguyên tắc cơ bản là mọi cá nhân đều được phát triển đầy đủ và tự do”(11). Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thích rõ tại sao chủ nghĩa tư bản đã tạo ra được những thành quả phát triển cao của lực lượng sản xuất nhưng vẫn chưa thực hiện được mục tiêu tiến bộ xã hội vì sự phát triển con người. Theo các ông, mặc dù giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử, nhưng xã hội tư sản hiện đại, được sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã không xoá bỏ được những đối kháng giai cấp; nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi(12). Từ đó, các ông đã đi đến khẳng định rằng, những nền tảng vật chất to lớn của xã hội tư sản sẽ chỉ có thể thực sự trở thành cơ sở hiện thực cho sự hình thành một xã hội công bằng, trong đó con người được phát triển đầy đủ, tự do, “sau khi cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nắm được những thành tựu của thời đại tư sản, nắm được thị trường thế giới và các lực lượng sản xuất hiện đại, và làm cho những cái ấy phải chịu sự kiểm soát chung của những dân tộc tiên tiến nhất, - chỉ khi ấy, sự tiến bộ của loài người mới không còn giống như cái tượng thần dị giáo ghê tởm không muốn uống rượu trường sinh một cách nào khác ngoài cái cách uống bằng sọ của người bị giết”(13). Bên cạnh việc khẳng định vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất đối với tiến bộ xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen còn khẳng định vai trò sáng tạo và khả năng làm chủ của người lao động đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung trong lịch sử, kể cả trong giai đoạn tư bản chủ nghĩa, khi trình độ phát triển của khoa học hiện đại tưởng chừng như là cái quyết định duy nhất cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. C.Mác viết: “Không phải bằng lời nói mà bằng việc làm, người công nhân đã chứng minh rằng nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với tiến bộ của khoa học hiện đại, có thể thực hiện được mà không cần đến giai cấp những người chủ sử dụng lao động của giai cấp công nhân làm thuê; họ đã chứng minh rằng muốn sản xuất có kết quả thì công cụ lao động hoàn toàn không thể để cho bị độc chiếm làm công cụ thống trị và cướp bóc công nhân, rằng giống như lao động của nô lệ và của nông nô, lao động làm thuê chỉ là hình thức nhất thời và thấp,
  18. cần phải nhường chỗ cho lao động liên hợp, tiến hành một cách tự nguyện”(14). Bởi lẽ, theo C.Mác, “chừng nào sự phân chia hoạt động còn được tiến hành không phải một cách tự nguyện (chúng tôi nhấn mạnh – N.M.H) mà một cách tự nhiên thì chừng đó hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối lập với con người và nô dịch con người, chứ không phải bị con người thống trị”(15). Và, chỉ khi nào hoạt động “một cách tự nguyện” của mỗi cá nhân đạt được, thì như C.Mác đã chứng minh, khi đó mới có sự bình đẳng giữa những con người được thể hiện trước hết ở chỗ “mỗi ngườiđều có thể (chúng tôi nhấn mạnh – N.M.H) tự hoàn thiện mình trong bất kỳ lĩnh vực nào thích”(16); khi đó, hoạt động của mỗi cá nhân riêng biệt mới không còn mang tính “độc chuyên” do bị ràng buộc bởi sự phân công lao động tự nhiên, nghĩa là khi đó, con người mới được tự do(17). Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tiến bộ xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với trình độ phát triển con người thông qua việc thực hiện công bằng xã hội với một thước đo bình đẳng thực sự nhằm phát huy vai trò và khả năng con người trong nền sản xuất nói riêng, trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung. Sự phát triển xã hội là kết quả hoạt động của con người; đến lượt mình, sự phát triển này phải trở thành điều kiện cho sự phát triển ngày càng cao hơn phẩm giá của con người trong xã hội. Đây chính là mục tiêu cao nhất trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tiến bộ xã hội.r (*) Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. [i] (1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.21. [ii] (2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.2, tr.126. [iii] (3)V.I.Lênin. Toàn tập, t.30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.8. [iv] (4)C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.13, tr.16. (5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.272. (6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.272.
  19. (7) C.Mác và Ph.Ăngghen . Sđd., t.42, tr.131. (8) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.132 -133. (9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.19, tr.333. (10) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.9, tr.293. (11) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.23, tr.835. (12) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.597. (13) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.9, tr.293. (14) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.16, tr.20. (15) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.47. (16) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., tr. 47. (17) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., tr. 47. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC THANH NIÊN NGUYỄN THÁI SƠN (*) Bài viết phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên. Đó là các tư tưởng: vai trò của thanh niên, vai trò của giáo dục thanh niên, giáo dục toàn diện và đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên, vai trò của nhà trường và tổ chức Đoàn đối với việc giáo dục thanh niên… Trên cơ sở khẳng định ý nghĩa và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, tác giả cho rằng, trong điều kiện hiện nay, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt những lời dạy của Người về vấn đề này; rằng, để phát huy vai trò người chủ tương lai của đất nước, thanh niên cần phải “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tháng 1 năm 1946, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ
  20. là mùa xuân của xã hội"(1). Là một lãnh tụ vĩ đại, có tầm nhìn xa trông rộng, hơn ai hết, Người thấu hiểu vai trò vô cùng to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Để phát huy vai trò và sức mạnh của tuổi trẻ thì phải tiến hành giáo dục thanh niên một cách toàn diện và chu đáo. Hiểu sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm dìu dắt thế hệ trẻ. Ngay từ những ngày đầu bôn ba cứu nước, để tập hợp, giáo dục và giác ngộ cách mạng cho thanh niên, Người đã lập ra tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Trước lúc đi xa, trong "Di chúc" thiêng liêng, Người còn ân cần căn dặn: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết"(2). Trong số những vấn đề cần giáo dục cho thanh niên, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề giáo dục tinh thần yêu nước. Trong năm điều Người dạy thiếu niên và nhi đồng, điều thứ nhất là: "Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào"; đối với thanh niên, "Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn"(3). Tinh thần yêu nước là vốn quý, là sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta đứng vững trước những thử thách nghiệt ngã trong lịch sử. Nó được hun đúc từ bao đời và đã trở thành sức mạnh Việt Nam, biểu tượng Việt Nam. Ngày nay, trong thời đại Hồ Chí Minh, hơn bao giờ hết, tinh thần ấy cần được đề cao và khơi dậy một cách mạnh mẽ để đưa chúng ta vượt qua đói nghèo, tụt hậu. Có thể khẳng định rằng, giáo dục tinh thần yêu nước cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, nó tiếp thêm nguồn sức mạnh, trí sáng tạo cho hàng triệu thanh niên đang ngày đêm chiến đấu, lao động, cống hiến trên mọi lĩnh vực vì sự vững bền của đất nước, cho sự thăng hoa của dân tộc, cho dáng đứng Việt Nam tạc sâu vào thiên niên kỷ. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục tinh thần yêu nước đối với thế hệ trẻ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản