intTypePromotion=3

Tổng quan về kiến thức và thái độ phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ của các bà mẹ

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
10
lượt xem
0
download

Tổng quan về kiến thức và thái độ phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ của các bà mẹ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm mô tả kiến thức và thái độ của người mẹ đối với phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ. Tại các nước đang phát triển và tại Việt Nam, kiến thức và thái độ của người mẹ đối với phát hiện sớm khuyết tật còn rất hạn chế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan về kiến thức và thái độ phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ của các bà mẹ

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sô sè 9-2016<br /> <br /> TỔNG QUAN VỀ KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ<br /> PHÁT HIỆN SỚM KHUYẾT TẬT Ở TRẺ CỦA CÁC BÀ MẸ<br /> Nguy n H u Chút*; Nguy n Th Minh Th y**; Nguy n Xuân Tr<br /> <br /> ng***<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: mô tả kiến thức và thái độ của người mẹ đối với phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ.<br /> Kết quả: tại các nước đang phát triển và tại Việt Nam, kiến thức và thái độ của người mẹ đối<br /> với phát hiện sớm khuyết tật còn rất hạn chế. Kết luận: Bộ Y tế cần có những chương trình<br /> tăng cường kiến thức và thái độ phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ cho người mẹ. Cơ quan truyền<br /> thông cần tăng cường hơn nữa về số lượng và thời lượng các chương trình truyền thông về<br /> phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ.<br /> * Từ khóa: Trẻ khuyết tật; Phát hiện sớm khuyết tật; Kiến thức; Thái độ.<br /> <br /> Overview of Mothers’ Knowledge and Attitude Towards Early Detection<br /> of Disabilities in Children<br /> Summary<br /> Objectives: To describe knowledge and attitudes of mothers towards early detection of disabilities<br /> in children. Results: In the developing countries and in Vietnam, knowledge and attitudes of<br /> mothers towards early detection of disabilities are very limited. Conclusion: Ministry of Health<br /> should have programs to strengthen the mothers’ knowledge and attitudes to early detection of<br /> disabilities in children. Media agencies need to further enhance the quantity and duration of the<br /> communication programs on early detection of disabilities in children.<br /> * Key words: Children with disabilities; Early detection of disabilities; Knowledge; Attitudes.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Việc xác định các vấn đề phát triển và<br /> hành vi của trẻ được dựa trên đánh giá<br /> lâm sàng của các chuyên gia y tế, thường<br /> bắt đầu bằng việc quan sát, xem xét, so<br /> sánh với các mốc phát triển bình thường.<br /> Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu nhấn<br /> mạnh đánh giá lâm sàng thường bị ảnh<br /> hưởng bởi cách thức đánh giá, lựa chọn<br /> thông tin lâm sàng mà các chuyên gia y tế<br /> nêu ra [17]. Chính vì vậy, một tỷ lệ đáng<br /> <br /> kể trẻ có vấn đề về phát triển vẫn không<br /> được phát hiện trước tuổi đi học [8]. Mặt<br /> khác, một số nghiên cứu cho thấy, nếu có<br /> được những thông tin về trẻ từ người mẹ<br /> thì độ chính xác về lâm sàng cũng tăng lên.<br /> Các nghiên cứu này chỉ ra băn khoăn,<br /> lo lắng của người mẹ về sự phát triển và<br /> hành vi của trẻ có mối liên quan trực tiếp<br /> đến kết quả sàng lọc vấn đề phát triển và<br /> hành vi [11]. Tuy nhiên, nhiều cuộc điều<br /> tra quốc tế cho thấy phụ huynh không được<br /> chuẩn bị và không được hỗ trợ trong vai trò<br /> <br /> * Bệnh viện Nhi TW<br /> ** §¹i häc Y tế Công cộng<br /> *** Bộ Y tế<br /> Ng i ph n h i (Corresponding): NguyÔn H u Chút (chut.viennhi@gmail.com)<br /> Ngày nh n bài: 29/17/2016; Ngày ph n bi n đánh giá bài báo: 09/11/2016<br /> Ngày bài báo đ c đăng: 21/11/2016<br /> <br /> 202<br /> <br /> t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 9-2016<br /> làm cha mẹ, họ thừa nhận cần được tư vấn<br /> về phương pháp nuôi dạy con cái và<br /> phát hiện những dấu hiệu bất thường về<br /> phát triển của trẻ [9, 19]. Bên cạnh đó,<br /> họ cũng không hiểu mục đích của sàng<br /> lọc phát triển và không nhận thức được<br /> các dịch vụ sàng lọc mà con cái họ được<br /> hưởng [29]. Đa số các bậc cha mẹ thiếu<br /> kiến thức về phòng tránh khuyết tật, nguyên<br /> nhân gây khuyết tật, kiến thức về khuyết<br /> tật, kiến thức và kỹ năng phát hiện các<br /> dạng khuyết tật liên quan đến trí não như<br /> chậm phát triển trí tuệ, rối loạn hành vi,<br /> đặc biệt là bại não. Vì vậy, những dạng<br /> tật này thường được phát hiện muộn hơn<br /> nhiều so với các dạng khiếm khuyết về<br /> cơ thể và chức năng khác [7, 20, 23, 26].<br /> Trên thế giới, không có nhiều nghiên cứu<br /> về kiến thức và thái độ phát hiện sớm khuyết<br /> tật ở trẻ của người mẹ. Tại Việt Nam,<br /> chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này,<br /> chỉ có một số nghiên cứu về trẻ khuyết<br /> tật, trong đó ít nhiều cũng đã đề cập tới<br /> các khía cạnh kiến thức, thái độ liên quan<br /> đến phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ. Vì vậy,<br /> cần có nghiên cứu tổng quan về thực<br /> trạng kiến thức và thái độ phát hiện sớm<br /> khuyết tật ở trẻ của người mẹ, từ đó đưa<br /> ra khuyến nghị nhằm nâng cao kiến thức<br /> và thái độ về phát hiện sớm khuyết tật ở<br /> trẻ cho người mẹ.<br /> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Tìm kiếm tài liệu, y văn tại cơ sở dữ<br /> liệu Pubmed, trên “Google” với các từ khóa<br /> chính được sử dụng bằng tiếng Việt là<br /> “Trẻ khuyết tật”, “Phát hiện sớm khuyết tật”<br /> và “Kiến thức và thái độ của các người<br /> mẹ về phát hiện sớm khuyết tật”, tương<br /> ứng với các từ khóa tiếng Anh là “Children<br /> with disabilities”, “Early detection of disability”<br /> <br /> và “Knowledge and attitudes of mothers<br /> about early detection of disabilities” cùng<br /> với tiêu chí lựa chọn không giới hạn về<br /> thể loại tài liệu, sử dụng cả bản tóm tắt và<br /> toàn văn. Thời gian công bố và xuất bản<br /> từ 1987 trở lại đây. Dựa vào tiêu đề, phần<br /> tóm tắt/mục lục của bài viết, 29 tài liệu đã<br /> được sử dụng cho bài báo này. Trong đó,<br /> 6 tài liệu tiếng Việt, 23 tài liệu tiếng Anh,<br /> bao gồm 8 báo cáo, 21 bài báo trên các<br /> tạp chí chuyên ngành.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> 1. Vai trò của người mẹ trong phát<br /> hiện sớm khuyết tật ở trẻ.<br /> * Người mẹ là người sớm nhận ra các<br /> dấu hiệu bất thường của trẻ:<br /> Việc xác định các vấn đề phát triển và<br /> hành vi của trẻ được dựa trên đánh giá<br /> lâm sàng của chuyên gia y tế, thường bắt<br /> đầu bằng việc quan sát, xem xét, so sánh<br /> với các mốc phát triển bình thường. Tuy<br /> nhiên, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh<br /> đánh giá lâm sàng thường bị ảnh hưởng<br /> bởi cách thức đánh giá, lựa chọn thông<br /> tin lâm sàng mà các chuyên gia y tế nêu<br /> ra [17]. Chính vì vậy, một tỷ lệ đáng kể trẻ<br /> có vấn đề vẫn không phát hiện được [8].<br /> Mặt khác, một số nghiên cứu cho thấy,<br /> nếu có được những thông tin về trẻ từ<br /> người mẹ thì độ chính xác về lâm sàng<br /> cũng tăng lên. Các nghiên cứu này cũng<br /> chỉ ra sự băn khoăn, lo lắng của người<br /> mẹ về phát triển và hành vi của trẻ có liên<br /> quan trực tiếp đến kết quả sàng lọc cho<br /> vấn đề phát triển và hành vi [11]. Ví dụ,<br /> 72% người mẹ của những trẻ không qua<br /> được test sàng lọc về lời nói đã có lo ngại<br /> về phát triển ngôn ngữ của những trẻ này,<br /> trong khi 83% phụ huynh của trẻ qua được<br /> 203<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sô sè 9-2016<br /> test này không có băn khoăn gì [13].<br /> Glascoe chỉ ra rằng người mẹ có thể<br /> cung cấp chỉ số chính xác cao về vấn đề<br /> hành vi và sự phát triển thời thơ ấu của<br /> trẻ [16]. Nghiên cứu của Dulcan và CS<br /> cũng cho thấy, khi người mẹ lo ngại về<br /> vấn đề tình cảm và hành vi thì sự chú ý<br /> về vấn đề tâm thần của bác sỹ tăng lên<br /> gấp 13 lần [11]. Vì vậy, các chuyên gia có<br /> thể sử dụng thông tin từ những mối quan<br /> tâm của người mẹ để xác định nguy cơ<br /> đối với vấn đề phát triển và hành vi của<br /> trẻ [18].<br /> Để thăm dò các giá trị tiên đoán của<br /> người mẹ, Diamond (1987) đã thực hiện<br /> một nghiên cứu bằng cách sử dụng mẫu<br /> ngẫu nhiên với 150 trẻ trong số 800 trẻ từ<br /> 6 - 62 tháng tuổi. 4 năm sau, đánh giá lại<br /> số trẻ này, kết quả: 50% trẻ có khó khăn<br /> đáng kể về học và phải học trong các lớp<br /> đặc biệt hoặc các lớp khắc phục kỹ năng<br /> đọc được cha/mẹ phát hiện sớm [10].<br /> Nghiên cứu tiếp theo của Glascoe cho thấy,<br /> > 70% trẻ không qua được cuộc kiểm tra<br /> về những vấn đề về hành vi/tình cảm đã<br /> được cha/mẹ phát hiện [15]. Nghiên cứu<br /> của Mulhern cho thấy, 87% trẻ có chứng<br /> rối loạn hiếu động thái quá được phụ<br /> huynh phát hiện do họ lo ngại về tính bốc<br /> đồng, thiếu tập chung... [22]. Nghiên cứu<br /> khác của Thompson cho thấy, trong số<br /> các trường hợp trẻ mất thính lực, có tới<br /> 98% trẻ có thể đã được cha/mẹ phát hiện<br /> sớm. Mức độ trẻ được phát hiện sớm từ<br /> cha/mẹ là đáng kể vì trung bình tuổi phát<br /> hiện sớm ở mức độ nặng là 10,5 tháng<br /> tương phản với 24 tháng. Mức độ trung<br /> bình là 48 tháng [28].<br /> 204<br /> <br /> * Người mẹ phát hiện sớm khuyết tật<br /> mang lại nhiều lợi thế:<br /> Theo Glascoe (1997), những lợi thế<br /> của phát hiện sớm khuyết tật thông qua<br /> người mẹ rất nhiều [14]:<br /> - Vì băn khoăn về sự phát triển của<br /> con mình nên sự hợp tác giữa người mẹ<br /> với nhân viên y tế được cải thiện đáng kể.<br /> - Khi người mẹ phát hiện dấu hiệu bất<br /> thường ở con mình, thời gian chẩn đoán<br /> sẽ rút ngắn đáng kể.<br /> - Loại bỏ những thách thức như trẻ<br /> không hợp tác, sợ hãi, buồn ngủ hoặc bị<br /> bệnh... khi các chuyên gia y tế trực tiếp<br /> đo lường kỹ năng của trẻ nhỏ.<br /> - Giúp nhân viên y tế có những cuộc<br /> hẹn cụ thể và tập trung.<br /> - Cải thiện đáng kể tỷ lệ trẻ khuyết tật<br /> được phát hiện sớm.<br /> 2. Kiến thức và thái độ phát hiện<br /> sớm khuyết tật ở trẻ của người mẹ<br /> trên thế giới và tại Việt Nam.<br /> * Kiến thức và thái độ về phát hiện sớm<br /> khuyết tật ở trẻ nói chung của người mẹ:<br /> Báo cáo của Văn phòng Tổng hợp Hoa<br /> Kỳ theo yêu cầu của Quốc hội Mỹ (2001)<br /> đã nhấn mạnh, nhiều cha mẹ không hiểu<br /> mục đích của sàng lọc phát triển và cũng<br /> không nhận thức được các dịch vụ sàng<br /> lọc mà con cái họ được hưởng [29].<br /> Cha mẹ trẻ khuyết tật thiếu sự chuẩn bị<br /> kiến thức và hướng dẫn về sức khỏe nhằm<br /> ngăn ngừa những nguyên nhân có thể<br /> dẫn đến khuyết tật cho trẻ sơ sinh [5].<br /> Họ cũng thiếu kiến thức và kỹ năng<br /> phát hiện các dạng khuyết tật liên quan<br /> đến trí não như: chậm phát triển trí tuệ,<br /> rối loạn hành vi, đặc biệt là bại não.<br /> <br /> t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 9-2016<br /> Vì vậy, những dạng tật này thường được<br /> phát hiện muộn hơn nhiều so với các<br /> dạng khiếm khuyết về cơ thể và chức<br /> năng khác [1]. Báo cáo phân tích về trẻ<br /> khuyết tật tại Tajikistan của Unicef (2006),<br /> nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy<br /> (2007) tại Hoài Đức, TP. Hà Nội và điều tra<br /> kiến thức, thái độ, hành vi tìm hiểu quan<br /> niệm của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật<br /> do Unicef thực hiện tại Đà Nẵng (2009) đều<br /> cho thấy thông tin của người mẹ có con<br /> khuyết tật còn thiếu và không được cung<br /> cấp, cập nhật đầy đủ kiến thức về khuyết<br /> tật [4, 5, 27]. Nghiên cứu tại Việt Nam và<br /> Nam Phi cho thấy, tỷ lệ người mẹ có kiến<br /> thức đúng về nguyên nhân của khuyết tật<br /> rất thấp (27%) và nếu có, cũng thiếu chính<br /> xác [1, 26]. Nhận thức của cộng đồng về<br /> sự phát triển và đánh giá phát triển tâm<br /> sinh lý của trẻ còn chưa đầy đủ và chính<br /> xác, người mẹ thiếu kiến thức cơ bản về<br /> các mốc phát triển của trẻ [2, 6]. Hầu hết<br /> cha mẹ chưa có ý thức trong việc tuân<br /> thủ những quy định về thăm khám và<br /> phát hiện sớm của ngành Y tế nên đã<br /> không kịp thời mang con đi khám ở cơ sở<br /> y tế theo định kỳ để có thể phát hiện ra<br /> tình trạng “chậm phát triển” của con [2].<br /> Trong những nghiên cứu này chưa<br /> thấy đề cập đến thái độ của người mẹ<br /> cũng như của cộng đồng đối với phát<br /> hiện sớm khuyết tật ở trẻ, mà chỉ nói đến<br /> thái độ đối với trẻ khuyết tật, như tại Nam<br /> Phi có tới 92% người mẹ cho rằng trẻ<br /> khuyết tật không hề thua kém những trẻ<br /> khác [26]. Tại Việt Nam, nhìn chung cha<br /> mẹ có xu hướng chấp nhận đứa con<br /> khuyết tật của mình như một thành viên<br /> thiệt thòi hơn, vì thế thường dành cho<br /> <br /> chúng nhiều tình cảm và chăm sóc hơn<br /> so với những trẻ khác trong gia đình [1].<br /> * Kiến thức và thái độ đối với phát hiện<br /> sớm dị tật bẩm sinh ở trẻ của người mẹ:<br /> Nghiên cứu về kiến thức và thái độ<br /> của các bà mẹ Hy Lạp và Ả Rập về phát<br /> hiện sớm dị tật bẩm sinh ở trẻ của Afkar<br /> Ragab Mohammed (2013) cho thấy: các<br /> bà mẹ Hy Lạp có kiến thức về yếu tố<br /> nguy cơ gây dị tật bẩm sinh và kiến thức<br /> về phòng tránh dị tật bẩm sinh đạt chiếm<br /> 76%, trong khi đó các bà mẹ Ả Rập chỉ<br /> chiếm 51%. Tỷ lệ các bà mẹ Hy Lạp có<br /> thái độ tiêu cực đối với dị tật bẩm sinh ở<br /> trẻ cao hơn các bà mẹ Ả Rập (77% so với<br /> 72%) [7]. Nghiên cứu của Lawal tại<br /> Ibadan, Nigeria cho thấy chỉ có 25,6% bà<br /> mẹ có nhận thức về dị tật bẩm sinh [20].<br /> * Kiến thức và thái độ đối với phát hiện<br /> sớm khuyết tật vận động ở trẻ của người<br /> mẹ:<br /> Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và kỳ<br /> vọng của người mẹ có con bị rối loạn<br /> thần kinh mạn tính được tiến hành tại<br /> Nigeria (2007) cho thấy, trong 110 người<br /> mẹ tham gia nghiên cứu, chỉ có 21,8%<br /> người mẹ biết được nguyên nhân về<br /> bệnh của con mình. > 70% người mẹ có<br /> thái độ tiêu cực khi con của họ bị mọi<br /> người chú ý ở nơi công cộng [23].<br /> Omoyemi O. Ogwumike (2012) đã tiến<br /> hành một nghiên cứu cắt ngang tại Tiểu<br /> bang Zamfara, Nigeria, kết quả: tỷ lệ<br /> người mẹ có kiến thức trung bình và kém<br /> về bệnh bại liệt chiếm 34,8%; tỷ lệ người<br /> mẹ có thái độ tiêu cực là 44,7% [24]; tỷ lệ<br /> người mẹ không đồng ý rằng một đứa trẻ<br /> bị bại liệt cần được chấp nhận như một<br /> đứa trẻ bình thường chiếm tới 41% [24].<br /> 205<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sô sè 9-2016<br /> * Kiến thức và thái độ đối với phát hiện<br /> sớm khuyết tật về nghe ở trẻ của người mẹ:<br /> Nghiên cứu của Swanepoel tiến hành<br /> tại Nam Phi (2008) khảo sát kiến thức và<br /> thái độ của 100 người mẹ thông qua<br /> phỏng vấn trực tiếp. Bảng câu hỏi gồm 16<br /> mục thăm dò kiến thức của người mẹ về<br /> trẻ sơ sinh mất thính lực, văn hóa tín<br /> ngưỡng mê tín dị đoan và thái độ đối với<br /> việc phát hiện sớm và can thiệp sớm cho<br /> trẻ mất thính lực. Kết quả cho thấy chỉ có<br /> 50% người mẹ trả lời đúng 3 yếu tố phổ<br /> biến (rửa tai, thuốc men, bẩm sinh) liên<br /> quan đến mất thính giác cho trẻ sơ sinh<br /> và có tới 99% người mẹ mong nuốn con<br /> mình được sàng lọc phát hiện sớm khuyết<br /> tật về nghe [25]. Tại Việt Nam, nghiên cứu<br /> của Trần Thị Tú Nhi cho thấy 66,67% cha mẹ<br /> không biết nguyên nhân gây ra tật điếc [3].<br /> Nghiên cứu về kiến thức và niềm tin về<br /> tai và sức khỏe thính lực trong cộng đồng<br /> các bà mẹ nông thôn ở Nam Ấn Độ của<br /> Meivizhi Narayansamy (2014) cho thấy:<br /> đa số các bà mẹ tin rằng trong 3 tháng<br /> đầu đời không thể biết được trẻ có nghe<br /> được hay không, một số người mẹ tin<br /> rằng phải đến khi đứa trẻ được 1 tuổi mới<br /> có thể xác định được đứa trẻ có nghe<br /> thấy hay không. Ý kiến chung của các bà<br /> mẹ là nên đưa trẻ đến một bác sỹ nhi<br /> khoa khi trẻ có bất kỳ một lý do gì liên<br /> quan đến sức khỏe bao gồm cả các bệnh<br /> tật về tai, nhưng ít người biết được rằng<br /> chính bác sỹ tai mũi họng mới là các<br /> chuyên gia điều trị bệnh về tai [21].<br /> * Kiến thức và thái độ của người mẹ<br /> đối với phát hiện sớm khuyết tật về nghe<br /> ảnh hưởng đến kết quả của chương trình<br /> sàng lọc thính lực sơ sinh:<br /> 206<br /> <br /> Kiến thức và thái độ của người mẹ về<br /> các yếu tố liên quan đến mất thính lực<br /> của trẻ sơ sinh rất quan trọng để thực<br /> hiện thành công các chương trình sàng<br /> lọc thính lực sơ sinh, đặc biệt ở các nước<br /> đang phát triển, nơi còn thiếu hiểu biết và<br /> thái độ kỳ thị đối với trẻ khuyết tật. Nghiên<br /> cứu của Swanepoel cho thấy, để thực<br /> hiện một chương trình sàng lọc thính lực<br /> ở trẻ sơ sinh thành công, cần tăng cường<br /> nhận thức và thái độ của người mẹ về<br /> việc mất thính lực ở trẻ sơ sinh [25]. Một<br /> nghiên cứu khác cũng chỉ ra, nếu người<br /> mẹ không có kiến thức đầy đủ về sàng<br /> lọc thính lực sơ sinh và hậu quả của mất<br /> thính lực ở trẻ sơ sinh thì sẽ có một tỷ lệ<br /> cao trẻ sơ sinh có thể không được hưởng<br /> lợi từ chương trình sàng lọc thính lực<br /> miễn phí [12]. Để cải thiện tỷ lệ tái khám<br /> trong chương trình sàng lọc thính lực ở<br /> trẻ sơ sinh, Francozo đã tiến hành một<br /> nghiên cứu, kết quả: sau khi cung cấp<br /> thông tin chi tiết về chương trình sàng lọc<br /> thính lực sơ sinh cho các người mẹ, tỷ lệ<br /> người mẹ không đưa trẻ đến kiểm tra lại<br /> giảm từ 39,8% xuống 25,8% [12].<br /> KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ<br /> Người mẹ là người sớm nhận ra các<br /> dấu hiệu bất thường của trẻ. Những băn<br /> khoăn lo lắng của các người mẹ về sự<br /> phát triển của con mình có độ nhạy và độ<br /> đặc hiệu như công cụ sàng lọc chất lượng.<br /> Người mẹ tham gia vào hoạt động phát<br /> hiện sớm khuyết tật cải thiện đáng kể tuổi<br /> trung bình của trẻ khuyết tật được phát<br /> hiện sớm. Kiến thức về phát hiện sớm<br /> khuyết tật ở trẻ của người mẹ tại các nước<br /> đang phát triển và tại Việt Nam còn rất<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản