
Trần Nguyên Hãn
Trần Nguyên Hãn (?-1429) là võ tướng trong khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều
đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược và lập thành nhà Hậu Lê.
Ông cũng là một trong những công thần phải chịu cái chết bi thảm ở triều vua Lê Thái
Tổ.
Quê quán, dòng dõi và xuất thân
Trần Nguyên Hãn chuyên cư ở xã Sơn Đông, nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh
Vĩnh Phúc. Tuy vậy, một số học giả đời trước lại có ý kiến khác.
Phạm Đình Hổ[1] và Nguyễn Án trong sách Tang thương ngẫu lục, Trần Trọng
Kim trong Việt Nam sử lược và Phan Kế Bính đều cho rằng Trần Nguyên Hãn là
người Hoắc Xa, huyện Quảng Oai, Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội). Trần
Xuân Sinh bác lại ý trên. Ông nói rằng mình từng tới xã Hoắc Xa (còn được gọi là
Vân Xa), nhưng dân xã này thờ Trần Khát Chân và họ - dân xã này – cũng không biết
gì về Trần Nguyên Hãn cả. Từ luận cứ trên, tác giả này cho rằng Trần Trọng Kim
trong Việt Nam sử lược và Phan Kế Bính đã dựa vào Tang thương ngẫu lục mà lầm
theo.[2]
Trần Nguyên Hãn là dòng dõi tôn thất nhà Trần, là cháu (miêu duệ) của Thái
sư Trần Quang Khải, là cháu nội Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông là con cô con cậu
(qua cát) hoặc anh em con cô con bác đối với Nguyễn Trãi.

Khác với các chú bác ruột là con đẻ của Trần Nguyên Đán[3], Trần Nguyên
Hãn không theo nhà Hồ hay nhà Minh. Sau khi quân Minh xâm chiếm ViệtNam, ông
thường gánh dầu đi bán khắp nơi. Mục đích của việc này, theo nhận định của nhiều sử
gia, là để kết giao và móc nối với những người có khả năng và ý định chống giặc.
Nhưng một số người khác cho rằng không phải vậy và dựa vào chi tiết này để kết luận
rằng ông là con nhà lao động. Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân cũng cho rằng
Trần Nguyên Hãn xuất thân lao động.
Cũng có tài liệu nói rằng Trần Nguyên Hãn từng đảm nhận một chức quan nhỏ
của nhà Hồ ở lộ Tam Giang[4] và đã từng tổ chức, chiêu tập binh lính đánh quân
Minh ở vùng quê nhà, có liên lạc được với một số thủ lĩnh người Mường, Thái cũng
như đánh thông được tới vùng Đại Từ của cha con Lưu Trung, Lưu Nhân Chú và
Phạm Cuống [5].
Sự nghiệp
Gia nhập quân Lam Sơn
Năm 1420 (hoặc 1423), Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi về với Lê Lợi. Tuy
vậy, về việc này, có nhiều thông tin khác nhau.
Theo Gia phả họ Đinh kể về thân thế Đinh Liệt, một tướng quân tham gia khởi
nghĩa Lam Sơn khác: Tới xuân năm 1423, trong khi Lê Lợi phái Phạm Văn Xảo đi tìm
Nguyễn Trãi ở Đông Quan thì Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn - khi này mang hai
tên giả lần lượt là Trần Văn và Trần Võ tới chỗ Lê Lợi (khi này đang ở Lỗi Giang).
Tuy vậy, ban đầu Nguyễn Trãi chỉ được giao làm Ký lục quân lương, Trần Nguyên
Hãn thì chở thuyền do phía Lam Sơn chưa rõ lai lịch của hai người mới tới. Chỉ sau

khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách" thì Lê Lợi mới nhận ra học vấn, khả năng của
hai ông và trọng dụng.
Sách Tang thương ngẫu lục chép rằng ông và Nguyễn Trãi " ra mắt " Lê Lợi tới
2 lần: lần đầu, hai ông đến và bỏ về sau khi thấy Lê Lợi xé thịt bằng tay và đưa lên
mồm ăn ngay trong ngày giỗ. [6] Lần thứ hai, hai ông mới ở lại sau khi thấy Lê Lợi
thức khuya nghiền ngẫm binh thư. Một số tài liệu khác thì chép hai ông định bỏ về
(sau đó vẫn ở lại) khi thấy Lê Lợi xé thịt ăn bằng tay.
Đánh Tân Bình, Thuận Hóa
Tháng 8-1425[7], Trần Nguyên Hãn - khi này là Tư đồ cùng với Thượng tướng
Doãn Nỗ và Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem 1000 quân và 1 voi vào lấy hai trấn Tân Bình
và Thuận Hóa[8] Ở Bố Chính[9], họ đặt phục binh rồi vờ thua, dụ tướng Minh là
Nhâm Năng ra mà đánh thắng. Trận này, Doãn Nỗ là người đặt phục binh ở Hà
Khương, bản thân Trần Nguyên Hãn mang quân ra nhử địch.
Sau trận, thấy lực lượng đối phương hãy còn đông đảo trong khi quân số của
mình lại quá ít, ông xin điều thêm quân. Đạo thủy quân gồm 70 thuyền được gửi tới,
các tướng phụ trách đạo này là Lê Ngân, Lê Văn An, Phạm Bôi. Hai đạo quân phối
hợp giải phóng các châu huyện, vây hãm hai thành Tân Bình, Thuận Hóa, và mộ thêm
quân mang ra Bắc.[10]
Tuy vậy, sự bố phòng lực lượng cũng như khả năng chống đỡ của quân Minh
tại Tân Bình, Thuận Hóa là yếu ớt, sự đó khiến cho trong vòng 10 tháng (từ tháng 10–
1424 tới tháng 8-1425), quân Lam Sơn đã làm chủ được một vùng đất rộng lớn và có
dân số đông đảo. Thêm vào đó, thắng lợi này cũng là không trọn vẹn khi hai thành trì

Tân Bình và Thuận Hóa không bị triệt hạ. (Hai thành này chỉ đầu hàng quân Lam Sơn
vào đầu năm 1427).
Chiến thắng Đông Bộ Đầu
Cuối tháng 10 năm 1426, Trần Nguyên Hãn theo Lê Lợi ra đánh miền Bắc.
Ngày 22-11-1426, đợt công phá thành Đông Quan bắt đầu với lực lượng tấn công
được chia thành 3 cánh:
Một cánh do Đinh Lễ chỉ huy, gồm 1 vạn quân trước đó đã bí mật ém sẵn tại
cầu Tây Dương [11] Tấn công vào cửa Tây.
Cánh trung tâm do Lê Lợi đích thân đốc xuất tấn công vào cửaNam.
Cánh quân thủy tấn công vào cửa Đông. Nhiệm vụ tấn công của cánh này được
giao cho Trần Nguyên Hãn và Bùi Bị.
Trần Nguyên Hãn đem 100 thuyền theo sông Lung Giang (sông Đáy) ra cửa
Hát Giang [12] rồi thuận sông Cái (sông Hồng) đóng ở Đông Bộ Đầu [13], đánh phá
được giặc, thu nhiều thuyền.
Hạ thành Xương Giang
Thành Xương Giang án ngữ ngay trên đường thiên lý từ Quảng Tây tới Đông
Quan, thêm vào đó, cách Đông Quan chỉ khoảng 50 km. Vị trí quân sự như vậy khiến
Xương Giang trở thành mục tiêu trọng yếu trong kế hoạch tấn công của quân Lam
Sơn. Họ quyết tâm hạ thành bằng mọi giá trước khi quân Minh nhập Việt.
Xương Giang là một thành lớn, rộng 25 ha, nằm cách Thành phố Bắc Giang
hiện nay 2 km, cách sông Thương 3 km. Thành này có kiến trúc phòng vệ chắc chắn,
nguồn lương thực dự trữ đầy đủ và tập trung được lực lượng binh lực lớn. Số liệu về

quân số giữ thành này, tùy theo các nguồn tư liệu, chênh lệch từ vài ba nghìn cho tới
một vạn quân. Các tướng Minh có trách nhiệm giữ thành: Đô chỉ huy là Lý Nhậm,
Phó Đô chỉ huy là Kim Dận, tri phủ Xương Giang là Lưu Tử Phụ và các tướng khác
gồm: Cố Phi Phúc, Lưu Thuận và Phùng Trí. Lý Nhậm là tướng mới được bổ sung
nhằm tăng cường khả năng cố thủ.
Ỷ vào sự quan trọng cũng như thuận lợi về nhiều mặt, quân Minh quyết thủ.
Nguyễn Trãi đã 2 lần viết thư dụ hàng và Thái Phúc[14] tướng Minh giữ thành Nghệ
An đã đầu hàng cũng được đưa tới chân thành để thuyết phục nhưng đều không tác
dụng gì.
Từ cuối 1426, quân Lam Sơn đã tiến hành hãm thành Xương Giang. Các tướng
Lê Sát, Lê Triện, Nguyễn Đình Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh công thành đều không có kết quả
(Sau đó, vào tháng 2 năm 1427, một số tướng ở đây được tăng cường cho quân đội
vây thành Đông Quan: Lê Sát và Nguyễn Đình Lý được tăng cường cho cửa Tây, Lý
Triện cầm 2 vạn quân trấn cửa Nam. Lý Triện tử thương vào tháng 3 năm 1427).
Thành tiếp tục bị hãm nhưng quân Lam Sơn vẫn không hạ được.
Từ tháng 9-1427, các đợt vây hãm Xương Giang của Lê Sát, Nguyễn Đình
Lý... càng trở nên cấp tập, quân số được tăng cường và Trần Nguyên Hãn được bổ
sung, trở thành tướng chỉ huy các đợt công thành. Khi này, quân số quân Minh trong
thành chỉ còn chừng một nửa nhưng sức kháng cự vẫn là mãnh liệt. Thành phần tham
chiến cùng quân Lam Sơn có cả dân chúng của các làng xung quanh. Trần Nguyên
Hãn cho đào công sự từ các khu rừng lân cận, đào hầm ngầm từ ngoài vào trong thành
giặc, rồi tiến hành nội công ngoại kích với sự phối hợp của đám quân đã lọt được vào
nội thành giặc. Đêm 28-9-1427, quân Lam Sơn bắc thang đánh vào và hạ được thành.

