intTypePromotion=3

Từ cái nhìn của Lý Quang Diệu “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người việt nam không thể xếp sau một nước nào trong khu vực” và định hướng phát triển kinh tế.

Chia sẻ: Tran Duy Lam | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
56
lượt xem
9
download

Từ cái nhìn của Lý Quang Diệu “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người việt nam không thể xếp sau một nước nào trong khu vực” và định hướng phát triển kinh tế.

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong hơn 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, cựu Thủ tướng quá cố Lý Quang Diệu đã từng nhiều lần đến Việt Nam. Bài viết nhìn nhận câu nói của Thủ tướng Lý Quang Diệu từ thời kỳ mở cửa cho đến hướng phát triển tăng trưởng kinh tế, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, định tính trên cơ sở phân tích, so sánh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Từ cái nhìn của Lý Quang Diệu “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người việt nam không thể xếp sau một nước nào trong khu vực” và định hướng phát triển kinh tế.

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ­ LUẬT KHOA KINH TẾ KINH TẾ PHÁT TRIỂN NÂNG CAO Từ cái nhìn của Lý Quang Diệu “Nếu có vị trí số một ở Đông  Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về  địa chính trị, tài nguyên, con người việt nam không thể xếp sau  một nước nào trong khu vực” và định hướng phát triển kinh tế.                                                                      GVHD: PGS, TS Nguyễn Chí  Hải                                     HVCH: Trần Duy Lâm                                     MSHV: 101021607
  2. Từ cái nhìn của Lý Quang Diệu “Nếu có vị trí số một ở Đông  nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về  địa chính trị, tài nguyên, con người việt nam không thể xếp sau  một nước nào trong khu vực” và định hướng phát triển kinh tế.           GVHD: PGS. TS Nguyễn Chí Hải HVTH: Trần Duy Lâm MSHV: 101021607 Giới thiệu: Trong hơn 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, cựu Thủ  tướng quá cố  Lý Quang Diệu đã từng nhiều lần đến Việt Nam. Lần đầu tiên vào  tháng 4/1992, thăm Hà Nội, TP.HCM và Đồng Nai, trò chuyện thân mật cả ngày với   Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tiếp xúc với Tổng bí thư  Đỗ  Mười, cựu Thủ  tướng Phạm  Văn Đồng, cựu Tổng bí thư  Nguyễn Văn Linh... Sau đó, ông liên tục trở  lại Việt   Nam vào tháng 11/1993, 3/1995, và 11/1997... Đặc biệt, trong chuyến thăm Việt Nam  vào năm 2007 của ông Lý Quang Diệu đã để  lại nhiều  ấn tượng đặc biệt về  tình  hữu nghị giữa hai nước. Ông dự đoán, Việt Nam trong 5 năm tới sẽ bắt kịp tốc độ của các nước trong  khu vực. Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh như  Singapore, Trung Quốc,  Ấn Độ, Nhật   Bản, Australia, và New Zealand. Việt Nam đã mất nhiều thời gian, bỏ lỡ một số cơ  hội. Bây giờ, Việt Nam phải bù đắp cho cơ hội đã mất đó, "cần bù đắp và tiến kịp".   Ông còn nhấn mạnh rằng “Nếu có vị  trí số  một  ở  Đông Nam Á thì đó phải là Việt   Nam. Bởi so sánh về  địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể  xếp   sau nước nào trong khu vực”.  Vậy hiện tại chúng ta đã có những gì và chưa được  những gì? Liệu chúng ta có đi đúng định hướng chưa ? Và chúng ta cần làm những gì  cho chặn đường tương lai, mà nền kinh tế phía trước dự báo có nhiều biến động của  các nước siêu cường  kinh tế và sự phụ thuộc của các nước đang phát triển như Việt  Nam vào vòng xoáy đó.  Bài viết nhìn nhận từ  thời kỳ mở cửa cho đến hướng phát triển tăng trưởng  kinh tế, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, định tính trên cơ sở phân tích, so sánh. Từ khóa: Kinh tế Việt Nam, thời kỳ đổi mới, Lý Quang Diệu, cải cách. 1. Chiến lược thời mở cửa Năm 1858 khi quân đội Pháp nổ những phát súng đầu tiên. Xâm chiếm Việt Nam thì   Vua Tự Đức lo lắng kinh hãi vẫn chưa biết đối phó thế nào trước kẻ thù. Thì cũng   trong khoảng thời gian ấy năm 1854 một đất nước xa xôi cách chúng ta vài ngàn dặm   ở phía bắc cùng chịu ảnh hưởng về văn hóa tương tự như Việt Nam, đồng thời cũng  đang rơi vào sự dòm ngó từ các nước phương Tây xâm lược đó chính  là Nhật Bản  
  3. nơi mà có Nhật hoàng Minh Trị với tầm nhìn của mình là phải “mở cửa” mới có thể  ngang hàng về  phát triển khoa học, quân sự  , kinh tế. Quả  thật, lịch sử  đã chứng  minh tài năng của ông chưa đầy 40 năm sau, hạm đội của Ông đã đánh tan tác hạm  đội hùng mạnh của Nga. Điều gì, đã làm nên sự khác biệt giữa hai nước khi có cùng  chung xuất phát điểm, có phải chăng  đó chính là sự sợ hãi, thiển cận là tự  mãn của   cái cũ mà không có sự khao khát của cái mới? Bước vào những năm cuối thế kỉ XX khi mà cuộc chơi chinh phục làm chủ thị  trường không còn là quân sự  đạn pháo nữa mà nó là cuộc chiến kinh tế  không súng  nổ  đạn bay, không máu đổ. Nhưng đó là cuộc chiến sống còn mang tính toàn cầu,  một trong những điểm nóng đó chính là khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Và chúng   ta năm giữa điểm nóng đó. Điều may mắn là chúng ta không di theo vết xe cũ, chúng   ta đã “Mở” cửa. Đi cùng với nó là hàng trăm, hàng ngàn câu hỏi được đặt ra. Cuối  cùng nên bắt đầu từ  đâu? Thu hút ngoại lực để  bồi dưỡng nội lực, tạo ra lợi thế  biến thách thức thành cơ hội là hai thành tố quan trọng trên con đường hội nhập. Con đường phát triển của nền kinh tế Việt Nam không bằng phẳng, trải qua   những khó khăn thăng trầm rồi dẫn đến những sai lầm đáng tiếc. Điển hình 1985   cuộc cải cách Giá – Lương – Tiền làm cho nền kinh tế kiệt quệ, nhưng việc bãi bỏ  ngăn sông cấm chợ cho phép kinh tế tư nhân mở rộng và phát triển là một liều thuốc  hồi sinh cho các hoạt động kinh tế. Đến năm 1988, hậu quả  quá trình mất cân đối  kinh tế vĩ mô mãn tính khiến nền kinh tế lại lâm vào một thời kì lạm phát suy thoái  tồi tệ, đồng tiền bị  mất giá nghiêm trọng dẫn đến tình trạng đổ  bể  tín dụng đồng   loạt vào những năm 1990­1991. Đó là những vấp ngã mang tính chủ  quan duy ý chí  và điều ngạc nhiên mỗi lần thất bại thì nền kinh tế  của Việt Nam lại lớn hơn và   mạnh hơn. Nếu có thể tổng kết điều gì đã làm nên sự kỳ diệu của nền kinh tế Việt Nam   thì chỉ bằng một chữ thôi, bạn sẽ chọn chữ nào? Riêng đối với tôi, đó là chữ  “Mở”.  Giống như  chữ  “Hỏa” mà Gia Cát Lượng và Chu Du đã chọn lựa trong trận Xích   Bích đánh tan Tào Tháo. Có những lĩnh vực kinh tế  mà chữ  Mở  đã làm nên những   điều kì diệu như  chiếc đũa thần. Cuộc cải cách ngân hàng 1989­1990, kể  từ  ngày  ban hành hai pháp lệnh ngân hàng 1990, hệ  thống ngân hàng mới đã không ngừng  phát triển cả  về lượng và chất. Nó đã giúp chúng ta bước qua cơn khủng hoảng và  chính hệ  thống này thực hiện kỳ  tích đẩy tốc độ  phát triển GDP trong ba năm liền   lên trên 8% năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng những năm trước đó. Cánh cửa mở của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng cho khu vực kinh  tế tư nhân. Sau những trục trặc của hệ thống hợp tác tín dụng non trẻ và thiếu kinh   nghiệm. Nhờ  chính sách Mở  của nhà nước và sự  phát triển của ngân hàng thương   mại, từ  năm 1993, kinh tế  tư  nhân đã phát triển nhanh cả  về  số  lượng lẫn chất   lượng. Tỷ  trọng thu ngân sách nhà nước từ  khu vực kinh tế  tư  nhân từ  6% lên trên  11%. Riêng năm 2008, khu vực kinh tế  ngoài quốc doanh đóng góp vào GDP gần   47%; trong đó có phần đóng góp quan trọng của kinh tế  tư  nhân và từ  một số  địa  phương như  TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ. Bên cạnh đó hoạt động ngoại thương và  đầu tư nước ngoài có một vị  trí quan trọng ngày càng lớn trong tiến trình và tốc độ  tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Cho đến nay theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, đã  có 9500 dự án đầu tư nước ngoài tổng vốn 98 tỷ đô.
  4. Nhưng hội nhập kinh tế  đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi điều kì   diệu đã đi qua, chúng ta phải đương đầu với những khó khăn mới. Ngoại thương tuy   phát triển mạnh, nhưng vấn nạn nhập siêu kéo dài đang là một bài toán khó trong nổ  lực phục hồi các cân đối vĩ mô. Sự  lựa chọn giữa lạm phát và tăng trưởng vẫn là  một sự lựa chọn đầy khó khăn, và mục tiêu tăng trưởng trong ổn định vẫn còn là sứ  mệnh bất khả  thi của chính sách tiền tệ quốc gia. Và trên hết, hiệu quả  đầu tư  và   năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tăng nhanh hệ số ICOR, từ con số 2,5 năm 1989  tăng lên 8,5 năm 2009 và hiện nay 6,82 năm 2015. Ngân hàng Thế  giới đã khuyến cáo rằng Việt Nam không nên trông cậy vào  nguồn vốn đầu tư  trực tiếp của nước ngoài và chưa biết khi nào phục hồi mà nên   quan tâm khơi dậy đồng vốn trong nước. Thật sự đáng lo ngại, khi mà đồng vốn là   vấn đè cốt lõi cho nền kinh tế, chúng ta cần phát huy của nội lực kinh tế bao gồm   nhiều yếu tố: lao động, tài nguyên, đất đai, kỹ thuật, công nghệ…và  trong đó đồng   vốn có vai trò quan trọng nhất. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi khối  lượng đồng vốn được tích lũy của nền kinh tế và được đưa vào đầu tư. Nền kinh tế  muốn huy động đồng vốn từ  bên trong cần phải phá vỡ  những tắc nghẽn đang là   nguyên nhân khiến nó bị  bất động, không sinh sôi sôi nảy nỡ  được đưa vào dòng   chảy của đầu tư.  Tại một nước nông nghiệp như  Việt Nam, tâm lý trữ  vàng là phổ  biến như  cất trữ trong két sắt, chôn giấu dưới nền nhà là cực kì nguy hiểm và có tác hại đến  nền kinh tế  và nó là trở  ngại đầu tiên cần vượt qua mà người dân đang thực hành   tiết kiệm. Nếu chúng ta có thể  đưa được phân nữa số  đó vào hệ  thống ngân hàn,   nguồn vốn có sẵn để phục vụ cho sự vận hành thường nhật của nền kinh tế sẽ gia   tăng bội phần, và nếu nguồn vốn được huy động ngày càng lớn với một giá phí thấp,   sẽ rất thuận lợi cho việc giảm lãi suất ngân hàng với kết quả mang lại là giúp tang  trưởng tín dụng và đầu tư  trong nước. Nhu cầu vốn, cũng chính là bài thuốc cho  doanh nghiệp tư  nhân. Chúng ta không thể  nói phát huy ngoại lực nếu các doanh  nghiệp trong nước muốn phát triển sản xuất lại không nhận được những nguồn tài   trợ trung và dài hạn cho dự án của mình. Mặt khác, yêu cầu phát huy nội lực còn có   một đòi hỏi rất cấp bách là làm tan băng các khoản nợ tín dụng quá hạn và khó đòi.   Trong cơn sốt đầu tư phát triển sản xuất, bất động sản thì số vốn tín dụng đã chết   cứng trong hàng ngàn căn nhà, kho, xưởng máy...Những khoản nợ này cần được làm   sống dậy, bằng cách tạo cho chúng tính lưu động cần thiết qua những công cụ  nợ.  Nhưng trước hết và quan trọng nhất là các biện pháp kích thích sự  luân chuyển các   tài sản đó.  Theo K. Marx mọi sự vật luôn vận động và phát triển, điều này đúng không  chỉ trong triết học mà còn cả ngay định luật cho xã hội và kinh tế học. Nền kinhh tế  tăng trưởng nhanh khi nào các hoạt đọng kinh tế  vận hành thông suốt, không trở  ngại. Giá trị  của các loại tài sản, hàng hóa trong nền kinh tế  được gia tăng chính là   nhờ  sự  vân động của các loại tài sản, hàng hóa đó. Do vậy, muốn phát huy nội lực   kinh tế đất nước, trước hết cần phải khai thông dòng chảy cho các yếu tố nội lực. Từ  khi đất nước thống nhất đến nay chúng ta có quá nhiều vấn đề  cần giải   quyết nhưng yếu tố  nội sinh là hòa giải, hòa hợp dân tộc vẫn chỉ  là một điều mơ  ước. Nhưng giờ đây, khi đối mặt với sự xâm phạm bờ cõi từ Biển Đông, cơ may hòa  giải hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc lại xuất hiện. Hàng chục triệu trái tim người Việt  
  5. đang hướng về  một mục tiêu chung và bảo vệ  tổ  quốc chủ  quyền thiêng liêng của   dân tộc. Bây giờ chúng ta có dân số đứng thứ 14 trên thế giới, một lãnh thổ dài hàng   ngàn dặm và một thềm lục địa trù phú. Chúng ta không còn là một nước nhỏ và càng  không thể là một quốc gia yếu hèn. Khi cơ may cho một sự đoàn kết vĩ đại, một sự  đồng tầm hiệp lực của trên 90 triệu người Việt của một nước Việt thống nhất đang   xuất hiện, cơ  may  ấy không thê bỏ  lỡ. Đó là cơ  hội ngàn năm có một cho dân tộc   Việt. Đó là cơ  hôi để  Việt Nam trở  thành một quốc gia hùng cường, có một chỗ  đứng xứng đáng trên thế  giới này. Hãy nhìn vào Singpore của Lý Quang Diệu nếu   không có sự  đoàn kết, ý chí từ  người dân nước này thì Lý Quang Diệu có tài giỏi   cách mấy cũng chỉ là phí sức, càng không thể biến một đầm lầy Đông Nam Á thành  Singpore của ngày nay. 2. Xây dựng cơ chế thị trường và quản lý nhà nước định hướng XHCN Theo  PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng: “Có thể  còn khá sớm khi nói đến những   đóng góp về  lý luận và thực tiễn của Việt Nam để  khẳng định một mô hình phát   triển kinh tế của nhân loại. Nhưng cùng với thực tiễn sinh động của gần 30 năm đổi   mới, những hiểu biết và sự trải nghiệm phương thức vận hành của nền kinh tế  thị   trường đã cho thấy những sự phát triển về lý luận của nước ta về kinh tế thị trường   định hướng XHCN ngày càng sâu sắc hơn và được khẳng định”. Quả thật như vậy,  chúng ta đã có những thành tích kinh tế đáng nể khi nền kinh tế mới bắt đầu chuyển   sang cơ chế thị trường. Tuy vây, chúng ta chỉ mới có một thị trường sản phẩm tương   đối phát triển, còn thị  trường các yếu tố  sản xuất như  đất đai, lao động, tiền vốn,  vẫn còn ở mức sơ cấp. Phát triển hoàn chỉnh cơ chế thị trường không chỉ ở chỗ thiết lập về mặt hình   thức, các loại thị trường, mà quan trọng hơn, còn là phát huy tốt những đặc tính căn  bản của nó. Thứ  nhất là tính lưu chuyển, yếu tố  cần thiết cho sự  vận hành thông   suốt của thị trường. Một thị trường chỉ hoạt động tốt khi nào sản phẩm của nó được  lưu thông không trở  ngại từ người sản xuất cho đến người tiêu dùng, từ  người bán  cho đến người mua. Từ đó, sản phẩm sẽ đạt đến mức tối ưu “thuận mua vừa bán”.  Tại đây thấy được vai trò ccủa Nhà nước cho những ngày đổi mới bãi bỏ  cấm chợ  ngăn sông mà thị  trường nông phẩm mới thực sự  hình thành, kích thích sản xuất   nông nghiệp, biến Việt Nam từ  nước nhập khẩu gạo thành nước xuất khẩu gạo   hàng đầu thế  giới. Bên cạnh đó thì còn những thị  trường đang khuất tất như  thị  trường đất đai, tuy có vẻ ì xèo ban đầu nhưng càng về sau thì đâu lại vào đấy, không  đề cập đến các vấn đề biến động của thị trường mà là do quyền sở hữu đất đai của   công dân chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến các thủ  tục phiền hà hành chính, phức tạp  trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người dân. Thị trường vốn trên thực tế  đã xuất hiện nhưng mới  ở  giai đoạn sơ  cấp, các sản phẩm của thị  trường này (cổ  phiếu, trái phiếu) chưa được trao đổi mua bán dễ dàng vì chưa có thị  trường chứng  khoán thứ  cấp. Không thể  phát triển được thị  trường nếu không có sự  lưu chuyển   các sản phẩm, và ngược lại. Đăc tính thứ  hai là tính cạnh tranh. Chính nhờ sự cạnh   tranh nhiều người bán và giữa nhiều người mua mà chất lượng sản phẩm ngày càng  được nâng cao, mức giá ngày càng giảm thấp. Sự  cạnh tranh đòi hỏi một sân chơi   ngang bằng và một luật chơi công bằng, trong đó người bán và người mua đều được   đối xử bình đẳng trong quan hệ mua bán. Thực tế đã kiểm nghiệm điều đó. Một hệ 
  6. thống ngân hàn thương mại với nhiều ngân hàng hoạt động cạnh tranh nhau khiến   ngày hôm nay khách hàng được phục vụ tốt hơn trước đấy rất nhiều, nhân viên ngân  hàng được đào tạo tốt hơn, phong cách hoạt  động chuyên nghiệp hơn, kỹ  thuật  nghiệp vụ được nâng cao hơn.   Tuy nhiên, xây dựng một sân chơi ngang bằng và một luât chơi công bằng để  tiến tới một cơ  chế  thị  trường hoàn chỉnh không phải là một tiến trình dễ  dàng.  Những  ưu đãi, đặc quyền và độc quyền đang dành cho khu vực kinh tế quốc doanh   bãi bỏ, bù biết rằng việc bãi bỏ  các  ưu quyền đó có lợi trước hết cho chính xí  nghiệp quốc doanh và càng có lợi hơn cho nền kinh tế. Các xí nghiệp được gọi là   chủ đạo này cần phải trải qua thời kỳ tập sự cạnh tranh trong nước trước khi có thể  tham gia vào đấu trường quốc tế. Hơn nữa, dành đăc quyền  đặc lợi cho các xí  nghiệp quốc doanh sẽ dẫn đến việc dành đặc quyền cho các nhà đầu tư nước ngoài  đang tìm kiếm lợi thế trong liên doanh với họ. Đó không phải là con đường đi đến   một sân chơi ngang bằng, mà là nguyện vọng chung của các thành phàn kinh tế khác  trong nước khi sắp phải tham gia vào trò chơi thị trường toàn cầu. Chúng ta lẽ  ra có thể  đưa nền kinh tế  tiến nhanh hơn trên con đường thị  trường hóa nếu nhận thức rằng cơ chế thị trường chỉ là một công cụ  vận hành nền  kinh tế tót hơn các mô hình khác. Cơ chế thị trường không phải là con đẻ của người  Mỹ, cũng như kinhtees chỉ huy không phải là độc quyền của người Nga. Thị trường   xuất hiện trước Adam Smith rất lâu và thậm chí chủ  nghĩa tư  bản Mỹ  từng đe dọa   hủy diệt cơ  chế  thị  trường  ở  Mỹ  bằng quá trình tập trung tư  bản độc quyền nếu  không bị  hạn chế  bởi đạo luật chống tổ  hợp nổi tiếng. Điều này cho thấy ngay   chính  ở  Mỹ, nơi mà tự  do kinh tế  không ngừng được đề  cao, người ta cũng không   ngần ngại sử  dụng vai trò quản lý của Nhà nước để  điều chỉnh những trục trặc,  lệch lạc trong quá trình phát triển của thị  trường do các thành viên thiếu tôn trọng  luật chơi vì lợi ích riêng của họ. Vấn đề  là không nên xem xét cơ  chế  thị  trường và vai trò quản lý của Nhà   nước là hai mặt đối nghịch. Quản lý nhà nước không phải nhằm hạn chế  hay tiêu   diệt cơ chế thị trường mà nhằm tạo điều kiện cho sự vận hành thông suốt, phát huy  những mặt mạnh, những tác dụng tích cực của nó đối với nền kinh tế để rồi sau đó,  thực hiện việc tái phân phối hợp lý hợp lý các thành quả kinh tế mà nó mang lại, vì  mục tiêu công bằng xã hội. Trong thời đại cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu như  hiện nay, Nhà nước phải tự  xác định vai trò của mình là tác nhân kích thích tăng  trưởng kinh tế. Quản lý nhà nước phải nhằm tạo ra động lực cho phát triển, đồng  thời điều hòa các lợi ích kinh tế xã hội mà không làm mất đi các động lực đó. Muốn   hái được quả  ngon, người trồng cây phải chịu khó bón phân, tưới nước, tỉa lá, bắt   sâu… Cơ chế thị trường có quy luật vận hành của nó. Nếu quy luật đó được các bên  tham gia trò chơi tôn trọng, thị  trường sẽ  hoạt động tốt và có lợi cho mọi người,   ngược lại, nó sẽ bị trục trặc và có thể trở thành một trò chơi mà tổng là một số âm.,   có nghĩa tất cả mọi người tham gia đều bị thiệt hại dù it hay nhiều. Nhưng người ta   ít khi sẵn sàng tôn trọng quy luật vận động của thị  trường, người ta chỉ  tôn trọng   luật pháp vì tính cưỡng chế  của pháp luật. Muốn thi trường được hoạt động tốt,  luật pháp phải quy định sự tôn trọng quy luật thị trường. Bằng không, sẽ là một điều  cức kì nguy hiểm nếu chơi trò chơi thị trường mà không có luật chơi còn người chơi 
  7. thì không biết và không tôn trọng luật chơi. Nhìn lại lịch sử  cải cách kinh tế   ở  các   nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu đã đem lại sự thất vọng cho công chúng, đưa xã   hội rơi vào chia rẽ và bất ổn triền miên. Bản chất của sự bất ổn đó liên miên quan  đến việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và hiệu lực của nhà nước  pháp quyền. Vai trò của nhà nước pháp quyền và chức năng điều tiết khá quan trọng  đối với sự  vận hành của kinh tế  thị  trường. “ Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng, việc   xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN – theo như đánh giá tại Đại hội Đảng lần thứ   XI, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước. Bên cạnh đó, công   tác phòng chống tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng và những biểu hiện tinh   vi, phức tạp chưa được ngăn chặn, đẩy ùi, gây bức xúc xã hội”. Cần đánh giá lại vai  trò chủ  dạo của kinh tế nhà nước, tự  làm khó trong quan hệ  kinh tế  quóc tế  và sự  công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đặc trưng của kinh tế thị trường định   hướng XHCN đó là một nền kinh tế thị trường hiện đại, có nhiều khu vực vận hành  theo cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của nhà nước.  Kinh tế  thị  trường đã chứng tỏ  sức sống tiềm tàng và những khả  năng thích   ứng với nhiều biến thể  khác nhau. Vì vậy, cần nhận tức đúng xác định các rủi ro  của kinh tế  thị trường mang đến như  khủng hoảng, suy thoái. Sức tăng trưởng cao,   đồng thời nguy cư khủng hoảng và suy thoái lớn là những đặc tính cố hữu của kinh  tế  thị  trường, chỉ  trong điều kiện xác định đúng đắn định hướng phát triển của nó,  giải quyết tốt mối quan hệ định hướng XHCN và kinh tế  thị  trường thì mới có thể  thực hiện được những mục tiêu đặt ra. 3. Định hướng phát triển. Đã có nhiều dự  báo khác nhau đều tiên đoán tốc đọ  tăng trưởng trong những  năm sắp tới của Việt Nam sẽ  trên 8%/ năm. Tuy nhiên cũng không ít những cảnh  báo. Con thuyền kinh tế  Việt Nam cần được hoàn chỉnh và củng cố  để  chuẩn bị  vượt biển lớn ra khơi. Củng cố và hoàn chỉnh con thuyền cần những cải cách. Các   chuong trình cải cách không hề thiếu trong chiến  ược phát triển của chúng ta. Một   cách công khai, chúng ta cũng tỏ ra không hề thiếu quyết tâm cải cách. Trong nhiều  thập niên, cải cách tiếp nối cải cách, nhiều kết quả  đáng khích lệ  nhưng trên thực  tế, chúng đã không đạt đến những thành công như  mong đợi. Song với mong muốn   của cộng đồng dân tộc, chúng ta đã tiến quá chậm trên con đường hướng đến thịnh   vượng. Chúng ta đi chậm vì chưa xây dựng được một nền kinh tế có chi phí thấp và   hiệu quả cao. Cải cách hành chính chưa thể  nói là thành công trong mục tiêu biến bộ  máy  hành chính thành một lực đẩy, đưa chi phí hành chính xuống thấp, tuy rằng thủ  tục  hành chính ngày nay có bớt phức tạp hơn và nhanh chóng hơn. Nhưng nó không đủ  đơn giản và nhanh chóng để  giúp doanh nghiệp Việt Nam tang cường sức mạnh   cạnh tranh và sớm bắt kịp các đồng nghiệp của họ  ngay trong ASEAN. Để  thành  công, cải cách hành chính không thể  được quan niệm chỉ  là một bài toán kỹ  thuật  một dấu hay một cửa. Cải các hành chính phải là một bài toán về thay đổi tư duy, từ  thái đọ hành xử quyền lực sang thi hành trách nhiệm, từ mục tiêu quản lý sang mục   tiêu hỗ  trợ, từ  chức năng ngăn chặn sang chức năng thúc đẩy, từ  đối kháng lợi ích  sang hợp nhất lợi ích. Bộ  máy nhà nước là chân ga của nền kinh tế, không phải là   chân thắng. Người đân và doanh nghiệp không cần đến mức công chức là đầy tớ của  nhân dân như  khẩu hiệu đã nằm lòng, họ  chỉ  cần công chức là những nhà kỹ  trị 
  8. chuyên nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao, hiểu rằng họ là những công dân đã nộp   thuế cho Nhà nước và cần được đối xử xứng đáng. Cải cách hành chính đòi hỏi một   ý chí chính trị mạnh mẽ, một quyết tâm cao của những nhà lãnh đạo đất nước vì lợi  ích chung của cộng đồng dân tộc. Cải cách hành chính thành công sẽ  tạo ra môi  trường hấp dẫ đầu tư, cả trong lẫn ngoài nước. Đầu tư  hiệu quả sẽ đẩy nhanh tốc  đọ tăng trưởng. Hiệu quả  đầu tư  không chỉ  là kết quả  của đổi mới quá trình công nghệ  và   tăng năng suất lao động. Nó còn là hệ quả của việc tiết kiệm và sử dụng tốt hơn các  yếu tố sản xuất: đồng vốn, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và trong lâu dài,   môi trường sống. Tất cả  những điều đó quyết định chỉ số ICOR của đầu tư, một chỉ  số rất tương đối. Nếu hệ thống ngân hàng nước ta chỉ có thể cung cấp ddoongwf vốn tín dụng  với giá cao hơn trong tương quan so sánh với một hệ thống khác, nó sẽ không hỗ trợ  tốt cho các doanh nghiệp nước ta làm ra và bán được sản phẩm của họ trên một thị  trường đầy cạnh tranh, dù đó là thị  trường quốc tế  hay quốc nội Nhung cung cấp   được đồng vốn giá thấp không phải là vấn đề  duy nhất, hệ  thống ngân hàng Việt   Nam còn phải đưa được đồng vốn đó vào tay những doanh nghiệp sử  dụng chúng  với hiệu quả  cao hơn, những doanh nghiệp trong khu vực tư  doanh. Các nhà phân   tích đều đánh cao việc Việt Nam thúc đẩy nhanh chương trình cổ  phần hóa doanh   nghiệp Nhà nước trong mục tiêu cấu trúc lại khu vực kinh tế  quốc doanh. Kinh   nghiệm taih nhiều nước chứng minh rằng các doanh nghiệp tư  nhân thường hoạt   động hiệu quả  hơn, ít lãng phí hơn và nhạy bén hơn cac đòi hỏi cấp bách của thị  trường so với các xí nghiệp Nhà nước. Tuy bài toán về  nguồn nhân lực mới chính là bài toán then chốt quyết định   năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đồng thời quyết định độ bền và chất   lượng của tăng trưởng. Chúng ta đang đối mặt với hai bài toán khó về nhân lực. Một   là tình trạng thiêu nhân lực chuyên môn để  phát triển các ngành công nghiệp công   nghệ  cao và các ngành dịch vụ  tài chính, ngân hàng, quản lý, tiếp thị…Hai là tình  trạng thừa lao động giản đơn tại nông thôn và vùng vem đo thị. David Koh, trong bài   viết nhan đề  “Việt Nam cần có lộ  trình bay riêng” trên tạp chí kinh tế  Viễn Đong  tháng 12/2006 nhận định: “Mặc dù tỷ  lện biết chữ lên đến 90% dân số, chất lượng   giáo dục Việt Nam – ngay cả   ở  trình độ  cơ  bản – vẫn còn nhiều điều cần mong  đợi”. Điều này cho thấy nguồn nhân lực sắp tới sẽ không đáp ứng được yêu cầu của   tăng trưởng kinh tế và dự  thảo Việt Nam sẽ phải sớm nhập khẩu lao động chuyên   môn không phải là không có cơ sở. Một kịch bản nghịch lý rất có thể xảy ra là trong   khi phải nhập khẩu lao động, tỷ lệ lao động không có công ă việc làm ổn định trong   nước lại sẽ tăng. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn sẽ ngày càn   mở rộng và điều đó chắc chắn ảnh hưởng đến chất lượng của tăng trưởng và công   bằng xã hội. Nền giáo dục nước ta đã có những bước phát triển chậm  ở  khu vực   nông thôn, vùng sâu vùng xa vì thế ngay bây giờ, nếu không sẽ quá muộn, phải thực   hiện một chương trình giáo dục và đào tạo phổ  cập đến tối thiểu là hết cấp II cho   khu vực nông nghiệp và nông thôn nhằm tạo điều kiện cho việc chuyển dịch suôn sẻ  và lành mạnh sô đông lao động dư thừa từ nông thôn ra thành thị, nguồn nhân lực cần   thiết cho sự phát triển ổn định lâu dài của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Không có 
  9. hệ  thống giáo dục và đào tạo miễn phí có tính chất cưỡng bách, trẻ  thơ  vùng nông  thôn sẽ bỏ học. Điều gì sẽ xảy ra với chúng sau 10, 20 năm? Một hệ thống phúc lợi xã hội bao gồm bảo hiểm y tế, trợ cấp thất nghiệp và  hưu bổng cũng cần được phủ  sóng từ  đo thị  đến nông thôn. Trước đây , chúng ta   không có khái niệm gắn liền với nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân với quyền lợi   được lĩnh hưu bổng khi về  già. Đó là một trong nhiều lý do khiesn người dân né  tránh đóng thuế thu nhập cá nhân và các nhà làm luật phải nâng mức lương chịu thuế  lên cao cùng nhiều khoản chước giảm khác. Nhưng nếu nguyên tắc gắn nghĩa vụ  thuế với quyền lợi được hưởng hưu bổng được áp dụng, không những doanh nhân,  người lao động  ở  thành thị  sẵn sàng nộp thuế  thu nhập cá nhân  ở  mức chịu thuế  thấp mà cả người nông dân ở nông thôn cũng sẽ tranh nhau thực hiện nghĩa vụ thuế.   Trợ cấp thất nghiệp có thể là gánh nặng cho ngân sách nhưng sẽ trở thành động lực   thúc đẩy việc thực thi các biện pháp tạo công ăn việc làm. Khi hệ  thống phúc lợi  đảm bảo công bằng xã hội được triển khai, cuộc sống của cộng đồng sẽ trở  nên an  toàn hơn, người dân sẽ  có một cái nhìn lạc quan hơn về  tương lai, điều này sẽ  khuyến khích tiêu dùng hiện tại và là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong lâu dài. Cải cách hành chính, cải cách giáo dục, cải cách hệ thống ngân hàng, cải cách  khu vực kinh tế  quốc doanh, cải cách thuế  khóa, cải cách tiền lương công chức,   caricasch tư pháp…, xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây  dựng khu công nghiệp, khu chế xuất…đều là những chương trình cải cách, xây dựng   mà đất nước đã tiến hành, gần như  liên tục, trong nhiều năm nay. Thành tích của  Việt Nam trong hơn thập niên qua chính là kết quả có được từ  những chương trình  cải cách đó. Tuy nhiên, đó là thời kỳ chúng ta tự chạy một mình, khi áp lực hội nhập   thị trường thế giới còn có thể được che chắn bởi những rào cản thuế quan, bởi hạn   ngạch và các chính bảo hộ công nghiệp nội địa. Chẳng hạn, dù cho chương trình cổ  phần hóa có diễn ra chậm, nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn không hiệu quả  vẫn tồn tại nhờ  các chính sách  ưu đãi và sự  bao cấp hào phóng của Nhà nước và   nhân dân. Sau hội nhập, sự bao cấp đó phải chấm dứt, không phải vì chúng ta không   còn khả  năng bao cấp, nhưng chúng ta chấm dứt bao cấp vì cả  nền kinh tế  của  chúng ta phải cạnh tranh quyết liệt với nước ngoài để tồn tại và phát triển. Toàn thể  cộng đồng dân tộc có trách nhiệm sử dụng tài nguyên, đồng vốn và cong người tốt  hơn, hiệu quả  tót hơn, tiết kiệm hơn. Việt Nam sau hội nhập cần phải cải cách   mạnh mẽ  hơn, nhanh hơn, với chất lượng cao hơn, hướng tới việc xây dựng một  nền kinh tế  có chi phí thấp, hiệu quả  cao, năng suất cao và một môi trường sống   xanh hơn, sạch hơn. Đó chính là cơ sở để thực hiện hóa câu nói của Ông Lý Quang Diệu:  “Nếu có   vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài   nguyên, con người, Việt Nam không thể  xếp sau nước nào trong khu vực”.  Và đó  cũng chính là con đường duy nhất để Việt Nam vươn tầm thế giới.
  10. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nhiều tác giả: Kinh tế Việt Nam 30 đổi mới và phát triển – Trường Đại học Kinh  tế ­ Luật Khoa. NXB Đại học Quốc Gia Tp. HCM 2015. 3. Giáo trình Triết học Mác­Lênin: Hội đồng lý luận Trung Ương. NXB Chính trị  Quốc Gia Hà Nội 2008. 2. PGS.TS Nguyễn Chí Hải (Chủ biên): Tư tưởng kinh tế Việt Nam (1975 – 2010) . 4. PGS.TS Nguyễn Tấn Phát: Bài giảng môn Chính sách công. 5. PGS.TS NguyễnVăn Trình (Chủ biên): Lịch sử các học thuyết kinh tế ­ Trường  Đại học Kinh tế ­ Luật Khoa. NXB Đại học Quốc Gia Tp. HCM.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản