intTypePromotion=1
ADSENSE

Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học - kinh nghiệm ở các nước và bài học cho Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

7
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bì viết Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học - kinh nghiệm ở các nước và bài học cho Việt Nam đề cập đến một số nội dung cơ bản về tự chủ tài chính của các trường đại học. Đồng thời, nêu lên thực trạng về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học ở Việt Nam. Bên cạnh đó, học hỏi kinh nghiệm về tự chủ tài chính trong các trường đại học ở một số quốc gia.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học - kinh nghiệm ở các nước và bài học cho Việt Nam

  1. TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC - KINH NGHIỆM Ở CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM Trần Thị Ái Diễm Học viện Ngân hàng - Phân Viện Phú Yên Tóm tắt Tự chủ trong giáo dục đại học là xu thế tất yếu của thế giới hiện nay, phản ánh xu thế dân chủ hóa trong quản lý giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Tự chủ đại học bao gồm bốn nội dung chính, đó là tự chủ về tổ chức, tự chủ về tài chính, tự chủ về nhân sự và tự chủ về học thuật (EUA,2013). Trong đó, tự chủ tài chính được xem là một tiền đề quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng hoàn thiện các nội dung tự chủ khác. Việc thực hiện tự chủ tài chính ở các trường đại học sẽ góp phần tích cực cho các trường phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc quản lý tài chính và tài sản của đơn vị, sử dụng ngân sách nhà nước được giao một cách tiết kiệm và hiệu quả. Hiện nay, việc thực hiện cơ chế tự chủ đại học ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn triển khai thí điểm và gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về tự chủ tài chính. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến một số nội dung cơ bản về tự chủ tài chính của các trường đại học. Đồng thời, nêu lên thực trạng về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học ở Việt Nam. Bên cạnh đó, học hỏi kinh nghiệm về tự chủ tài chính trong các trường đại học ở một số quốc gia. Từ đó rút ra một số bài học về tự chủ tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam. 1. Một số nội dung cơ bản về tự chủ tài chính của các trường đại học Theo EUA (2013), tự chủ tài chính là một trong bốn nội dung chính của tự chủ đại học, đó là: tự chủ về tổ chức, tự chủ về tài chính, tự chủ về nhân sự và tự chủ về học thuật. Hơn nữa, tự chủ tài chính được xem là một tiền đề quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng hoàn thiện các nội dung tự chủ khác. Tự chủ tài chính cho phép các trường huy động nguồn lực tài chính và duy trì nguồn lực tài chính để đảm bảo việc tuyển chọn lực lượng học thuật tốt nhất và phát triển theo hướng sáng tạo, đổi mới phù hợp với chiến lược của từng trường. Tự chủ về tài chính thể hiện ở các nội dung sau: quyết định mức học phí; trả lương cho giảng viên theo thành tích nghiên cứu giảng dạy; phân bổ ngân sách một cách độc lập; sở hữu bất động sản, tài chính thị trường; vay mượn và đầu tư ở thị trường tài chính (EUA, 2013). Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã phát biểu tại Hội thảo Giáo dục 2018: “Tự chủ về tài chính là trường đại học được tự chủ về nguồn thu và nguồn chi. Trong đó, nguồn thu bao gồm học phí, hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh kết hợp với các doanh nghiệp, tài trợ, cộng đồng và đặc biệt là ngân sách nhà nước”. Bên cạnh đó, khi tự chủ về nguồn thu thì các đơn vị phải tự chủ về chi tiêu như chi thường xuyên cho đào tạo (lương cho cán bộ giảng viên, chi cung ứng dịch vụ,…), chi cho mua sắm và sửa chữa các thiết bị phục vụ đào tạo, chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học,… Với việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập đã mở ra, tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục đại học công lập nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính và tài sản của đơn vị, 483
  2. sử dụng ngân sách nhà nước được giao tiết kiệm và hiệu quả hơn. Hơn nữa, việc thực hiện tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập còn giúp tăng nguồn thu để đầu tư cho giáo dục. Khi nguồn thu tăng lên, các trường đại học sẽ có những nguồn lực tài chính để tăng đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực,…để từ đó nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Mặt khác, với việc trao quyền tự chủ tài chính, các trường sẽ có điều kiện để tăng thu, tiết kiệm chi, có nguồn lực nâng cao đời sống và thu nhập của giảng viên, từ đó tạo động lực cho giảng viên nâng cao chất lượng giảng dạy. 2. Thực trạng về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học ở Việt Nam Hiện nay, các cơ sở giáo dục đại học công lập (GDĐHCL) thực hiện quyền tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 hoặc Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ. Theo báo cáo khảo sát 40 trường đại học công lập giai đoạn 2011 – 2015 được đăng trong Tạp chí tài chính (4/2017) cho thấy: Về nguồn thu: các trường nhận nguồn thu từ ngân sách nhà nước chiếm từ 30% - 40% tổng thu của các trường đại học công lập hàng năm. Phần nguồn thu còn lại chiếm 60% - 70% tổng nguồn thu của các trường là thu được từ hoạt động sự nghiệp, bao gồm nguồn thu từ sinh viên và các nguồn thu khác. Về nguồn chi: bình quân các trường đại học tự đảm bảo cân đối chi thường xuyên khoảng 75% từ nguồn thu sự nghiệp. Tuy nhiên, với tỷ lệ chi thường xuyên này vẫn chưa thể bảo đảm đủ nguồn lực để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm thu nhập tăng thêm cho cán bộ, giảng viên hàng năm. Về chi phí đào tạo thực tế: mức học phí trung bình của mỗi sinh viên là trên 10 triệu đồng trong giai đoạn 2011 – 2015, với mức này so với trần học phí được quy định trong Nghị định 49/NĐ-CP và Nghị định 86/NĐ-CP cùng với mức hỗ trợ ngân sách nhà nước hạn chế sẽ gây khó khăn cho các trường trong quá trình cung cấp đào tạo cho người học. Về sử dụng nguồn thu và trích lập các quỹ: các trường đã chủ động nguồn thu của mình để chi cho các hoạt động thường xuyên và chi đầu tư theo cam kết. Phần thặng dư chênh lệch thu chi được trích lập quỹ và đảm bảo mức trích tối thiểu 25% chênh lệch thu và chi cho quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Các khoản trích lập này đã được đơn vị quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ. Thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017, có 23 trường đại học đăng ký thực hiện cơ chế tự chủ toàn diện, tức là tự đảm bảo hoàn toàn chi thường xuyên và chi đầu tư. Theo nguồn số liệu báo cáo tổng kết của Bộ giáo dục và đào tạo (2017) cho thấy như sau: Về cơ cấu các khoản thu của các trường sau tự chủ so với trước tự chủ chưa có nhiều chuyển biến rõ rệt. Cơ cấu nguồn thu theo số liệu báo cáo chia thành 3 nguồn thu gồm thu sự nghiệp, thu dịch vụ và ngân sách nhà nước cấp. Trong đó, thu sự nghiệp tăng khoảng 4,3% so với thời điểm trước tự chủ (từ 75,38% lên 79,68% tổng nguồn thu) và phần thu học phí lệ phí chiếm tỷ trọng chủ yếu (tăng từ 69% lên đến 73% trong tổng nguồn thu của nhà trường). Mặt khác, nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ như liên kết đào tạo nước ngoài, đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tư vấn, các dịch vụ hỗ trợ đào 484
  3. tạo,... giảm 2% so với trước tự chủ (từ 18% xuống 16%). Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước cấp giảm 1,34% so với trước tự chủ (từ 6% xuống 4,66%). Về cơ cấu nguồn chi của các trường sau khi tự chủ so với trước tự chủ cũng có một số biến đổi rõ rệt hơn. Cụ thể: chi hoạt động sự nghiệp tăng 3% (từ 74% lên đến 77%). Mặc dù tổng chi sự nghiệp tăng lên nhưng vẫn còn nhỏ hơn tổng thu sự nghiệp (chi sự nghiệp 4.293 tỷ đồng, thu sự nghiệp 6.198 tỷ đồng). Trong khi đó, chi hoạt động dịch vụ giảm 2% (từ 19% xuống còn 17%) và chi ngân sách nhà nước giảm 1,31% (từ 7,52% xuống còn 6,19%). Về trích lập các quỹ thì vẫn đảm bảo theo quy định của đơn vị sự nghiệp, tức là từ thặng dư chênh lệch thu chi thực hiện trích lập tối thiểu 25% cho quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Theo số liệu báo cáo, quỹ phát triển sự nghiệp và quỹ khen thưởng tăng lên nhưng quỹ ổn định thu nhập giảm 14% và quỹ phúc lợi giảm 17%. Qua số liệu trên cho thấy việc tự chủ tài chính giúp các trường tăng nguồn thu, quản lý nguồn chi và thực hiện trích lập quỹ đạt kết quả. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính vẫn gặp một số hạn chế như: Về nguồn thu: cơ cấu nguồn thu chưa đa dạng, nguồn thu học phí và lệ phí chiếm tỷ trọng lớn. Tuy các trường tăng học phí nhưng mức học phí đều bị khống chế bởi mức trần theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP và Nghị định 86/2015/NĐ-CP. Ngoài ra, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, dịch vụ hay tư vấn doanh nghiệp lại chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm trong cơ cấu nguồn thu của các trường. Như vậy, nếu nguồn thu không được tạo ra từ nội lực các trường mà phụ thuộc vào các yếu tố khách quan thì về lâu dài, sẽ gây bất lợi cho chất lượng đào tạo khi việc tuyển sinh gặp khó khăn. Về nguồn chi: tuy thực hiện tự chủ nhưng các hướng dẫn về tự chủ trong quyết định các mức chi không có các quy định cụ thể, cho dù là sử dụng kinh phí của mình nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định của ngành. Đồng thời, trong chi lương ngạch bậc, chức vụ cho cán bộ giảng viên vẫn phải đảm bảo theo quy định của nhà nước khi điều chỉnh tăng lương ngạch bậc, chức vụ và mức lương tối thiểu. Nguồn chi này chiếm tỷ trọng lớn trong chi thường xuyên, nên có thể một số trường có thể cắt giảm bớt các khoản chi để thực hiện chi lương theo đúng quy định. 3. Kinh nghiệm về tự chủ tài chính của các trường đại học ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam 3.1. Kinh nghiệm ở một số quốc gia 3.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc Năm 1987, Bộ Giáo dục đề ra kế hoạch tự chủ hóa của các trường đại học nhằm tăng quyền tự chủ, tự quyết và tự chịu trách nhiệm cho các trường, đồng thời mở rộng quyền của giảng viên. Ngày 31/05/1995, bản kế hoạch được hợp thức hóa bằng bản đề xuất cải cách giáo dục của Hội đồng Tổng thống và được luật hóa bằng Luật Giáo dục đại học năm 1998. Trước đổi mới năm 1995, Bộ Giáo dục quyền kiểm soát các khâu như thành lập trường, quy định chương trình khung, duyệt chỉ tiêu tuyển sinh, hình thức thi tuyển đầu vào, chuẩn hoàn thành khóa học, xây dựng chuẩn chất lượng giáo viên, kiểm định chất lượng, duyệt chi ngân sách, quy định chuẩn cơ sở vật chất, thư viện,….. Đến năm 1995, Hàn Quốc chính thức giao quyền tự chủ toàn diện cho các trường, cho phép các trường tự quyết định chỉ tiêu tuyển sinh và quản lý trường, đồng 485
  4. thời xây dựng hệ thống hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu khoa học và gắn kết sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ với chất lượng của trường đại học. Ngoài ra, các trường được ngân sách cấp theo chế độ khoán, được tự do thiết lập học phí, tự do vay vốn ngân hàng thương mại, đồng thời được quản lý các tòa nhà, trang thiết bị sử dụng cho đào tạo và nghiên cứu khoa học nhưng bắt buộc thực hiện chế độ kiểm toán tài chính 2 năm một lần. Sự thành công trong cải cách giáo dục đại học của Hàn Quốc là do Chính phủ và Bộ giáo dục sử dụng hai cơ chế rất hiệu quả là trách nhiệm xã hội của các trường khi được giao quyền tự chủ, đó là gắn việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục thông qua cơ quan kiểm định độc lập với hỗ trợ tài chính; đồng thời quy định rõ việc thành lập hội đồng trường và điều lệ trường để giám sát hoạt động của các trường. 3.1.2. Kinh nghiệm của Mỹ Cơ chế tài chính của các trường đại học ở Mỹ được thể hiện như sau: Thứ nhất, nguồn tài chính hoạt động của các trường công lập một phần do ngân sách của Bang cấp khoảng 30% đến 40%, phần còn lại thu từ học phí, các quỹ nghiên cứu và các khoản khác như kinh doanh, đầu tư tài chính,… Học phí trường công lập thường thấp hơn trường tư thục từ hai đến ba lần, sinh viên của Bang nộp học phí thấp hơn sinh viên đến từ Bang khác. Ngoài ra, các trường rất sáng tạo và chú trọng quyên góp tiền “từ thiện”. Thứ hai, trường công lập được coi là một tổ chức của chính phủ nên phải tuân theo mọi luật lệ của chính phủ, không được cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài. Về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học được tiến hành theo nguyên tác “tự do học thuật”. Ngoài ra, các giảng viên được tự do lựa chọn phương pháp giảng dạy, tài liệu học tập cho sinh viên. Các nhà khoa học được tự do lựa chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu. Nhìn chung, các trường đại học ở Mỹ được tự trị vận hành theo cơ chế thị trường, tự do cạnh tranh và gần nhưn có toàn quyền quyết định mọi việc. Các trường hoạt động theo một nền giáo dục đại học có quan hệ hữu cơ với nền kinh tế, bám sát nhu cầu thị trường lao động. Đồng thời, các trường không ngừng hiện đại hóa cơ sở vật chất, thu hút giảng viên giỏi và nâng cao chất lượng giảng dạy. 3.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc Năm 1985, giáo dục đại học ở Trung Quốc có bước cải cách quan trọng, quyền tự chủ tài chính của các trường đại học có bước chuyển biến căn bản, thể hiện ở các điểm sau: Ngân sách nhà nước tiếp tục đầu tư cho các trường đại học nhưng phần ngân sách hỗ trợ chi thường xuyên giảm đi và có sự khác biệt giữa các trường. Chính phủ Trung Quốc đầu tư có lựa chọn, ưu tiên thúc đẩy các trường đạt đẳng cấp quốc tế. Ngân sách chỉ đầu tư cho các hoạt động như: cải cách phương pháp giảng dạy và đào tạo, phát triển nghiên cứu khoa học, thúc đẩy trường đạt đẳng cấp quốc tế, đẩy mạnh sự tài trợ từ khu vực tư nhân và hoạt động quản trị nhà trường. Ngoài ra, các trường đại học được tự chủ quyết định mức học phí. Mức học phí do nhà trường xác định theo nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, nhà trường và người học; hơn nữa mức học phí không đồng nhất giữa các vùng, các trường và các ngành học. Mặt khác, với những đối tượng chính sách thì được ngân sách của Chính phủ hoặc địa phương hỗ trợ học phí. Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc còn đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm ở các trường đại học danh tiếng, tạo điều kiện hình thành và phát triển các 486
  5. doanh nghiệp trong trường đại học để tăng nguồn thu từ nghiên cứu khoa học. Hơn nữa, các trường đại học tự chủ trả lương cho cán bộ giảng viên. Thêm vào đó, các trường đại học được phép sử dụng đất làm tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng thương mại hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay cho đầu tư xây dựng trường. 3.2. Bài học kinh nghiệm cho các trường đại học ở Việt Nam Một là, giao quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao hơn và đi kèm với giao quyền tự chủ đại học. Trao nhiều quyền tự chủ về mức thu hơn nữa cho các trường đại học công lập, trước hết là thu học phí và lệ phí. Các cơ sở giáo dục đại học công lập được phép tính đủ chi phí tiền lương và chi phí hoạt động thường xuyên trong giá dịch vụ của đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở khung giá do Nhà nước quy định, chi phí khấu hao tài sản cố định trong học phí của cơ sở giáo dục đại học công lập, đảm bảo nguyên tắc lấy thu đủ bù đắp chi phí đào tạo trong học phí. Cùng với đó, Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ mức học phí đối với người nghèo, dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu vùng xa … tạo điều kiện cho mọi người đều được tiếp cận với giáo dục đại học. Hai là, Nhà nước cần cho phép các trường được tự chủ hơn nữa về quản lý và sử dụng tài sản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, cũng như chủ động trong việc liên doanh, liên kết, góp vốn với các đơn vị tổ chức khác. Một khi cơ sơ hạ tầng, trang thiết bị được nâng cao thì cũng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Ba là, cần thành lập một cơ quan kiểm định độc lập nằm ngoài sự quản lý của Bộ Giáo dục và đào tạo để kiểm tra, đánh giá chất lượng của các trường được giao quyền tự chủ tài chính. Cần rà soát lại các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý hoạt động của các trường đại học để ban hành các Nghị định mới đồng bộ với Nghị định 16/2015/NĐ- CP. Đồng thời xây dựng những văn bản hướng dẫn cụ thể cũng như đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các trường đại học được giao tự chủ. Bên cạnh đó, tăng cường kiểm tra giám sát bổ sung quy định mới theo hướng mở rộng hơn nữa mức độ tự chủ các trường đại học. Bốn là, các trường đại học cần tăng cường khai thác các nguồn thu. Với nguồn thu từ việc thu phí, lệ phí thì các trường có thể đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo như liên thông, liên kết đào tạo, …; chú trọng xây dựng nội dung các chương trình đào tạo theo nhu cầu người học, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thị trường lao động, đặc biệt là các chương trình đào tạo chất lượng cao, từ đó đưa ra các mức học phí khác nhau phù hợp với chất lượng đào tạo cung cấp cho người học. Đồng thời, tăng cường tổ chức các loại hình sản xuất kinh doanh, cho thuê, liên doanh liên kết, thành lập các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Bên cạnh đó, tập trung thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm, cấp nhà nước, cấp bộ để thương mại hóa, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng nguồn thu cho đơn vị. Năm là, với nguồn chi: khi tự chủ tài chính, bên cạnh việc các trường phải kiểm soát tốt việc sử dụng các nguồn thu thì cần phải xây dựng được quy chế chi tiêu nội bộ hợp lý đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong quá trình thực hiện chi cho cán bộ, giảng viên, các hoạt động dịch vụ đào tạo, mua sắm, xây dựng cơ sở vật chất,…thể hiện được quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của đơn vị. Trong đó, chú trọng giải pháp chi trả thu nhập cho cán bộ giảng viên trên nguyên tắc hiệu quả công việc, khuyến khích, thu hút người có năng lực, trình độ cao và được công bố công khai trong trường. Ngoài ra, cũng phải chú trọng đến chi cho hoạt động đầu tư mua sắm, trang thiết bị và xây dựng cơ sở hiện đại đáp ứng nhu cầu của người học. Tuy nhiên, khi thực hiện tự chủ (tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư) thì việc thực hiện này càng 487
  6. khó khăn hơn. Do đó cần chủ động hơn trong huy động nguồn vốn phục vụ cho xây dựng, mua sắm. Tóm lại, việc thực hiện tự chủ đại học là vấn đề mà các trường đại học cần sớm phải thực hiện trong thời gian tới vì khi tự chủ sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy tính chủ động và sáng tạo của các trường. Trong đó, tự chủ tài chính là vấn đề được các trường quan tâm khi bước vào giai đoạn tự chủ. Câu hỏi luôn đặt ra là làm thế nào để tạo ra nguồn thu và kiểm soát tốt trong nguồn chi. Tác giả có đưa ra một số giải pháp được rút ra từ kinh nghiệm tự chủ tài chính của các trường ở một số quốc gia. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Báo cáo tổng kết thực hiện nghị quyết 77/2014/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017, Hà Nội. 2. Chính phủ (2006), Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/04/2006 quy định chế dộ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập, Hà Nội. 3. Chính phủ (2010), Nghị định 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014 – 2015, Hà Nội 4. Chính phủ (2014), Nghị quyết 77/2014/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017, Hà Nội 5. Chính phủ (2015), Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội 6. Chính phủ (2015), Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm 2020 – 2021, Hà Nội 7. EUA (European University Association) (2013), Dimensions of University Autonomy, truy cập trang web: http://www.university-autonomy.eu 8. Trương Thị Hiền (2016), Quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, số 02(151)-2016 9. Đỗ Thị Thu & Phùng Thanh Loan (2019), Tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 10 (195) – 2019, trang 9 – 12. 10. Luật giáo dục đại học (2019), NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội. 11. Hoàng Thanh (2018), PTT Vũ Đức Đam: Tự chủ đại học là xu hướng tất yếu, truy cập trang web: https://infonet.vietnamnet.vn/chuyen-de/ptt-vu-duc-dam-tu-chu-dai- hoc-la-xu-huong-tat-yeu-225717.html 12. Nguyễn Đình Hưng (2018), Bài học kinh nghiệm về tự chủ tài chính ở một số cơ sở giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam, truy cập trang web: http://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/bai-hoc-kinh-nghiem-ve-tu-chu-tai- chinh-o-mot-so-co-so-giao-duc-dai-hoc-tren-the-gioi-va-o-viet-nam-tiep- 53820.htm 488
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2