intTypePromotion=3

Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng dân tộc thiểu số từ góc nhìn toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
4
lượt xem
0
download

Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng dân tộc thiểu số từ góc nhìn toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân chủ yếu, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất của các hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng dân tộc thiểu số từ góc nhìn toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế

  1. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VẤN ĐỀ THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ GÓC NHÌN TOÀN CẦU HÓA VÀ XU HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Giang Khắc Bình(1) - Hà Quang Khuê(2) Đ ất sản xuất vốn là tư liệu sản xuất thiết yếu của các hộ gia đình người dân tộc thiểu số. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất sản xuất vẫn đang ở mức rất cao và có xu hướng tăng thêm. Bài viết đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân chủ yếu, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất của các hộ gia đình người dân tộc thiểu số nghèo trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Từ khóa: Đất sản xuất; hộ gia đình; hộ gia đình người dân tộc thiểu số; toàn cầu hóa; xu hướng hội nhập quốc tế. Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống người DTTS nghèo chỉ chiếm 20% trong tổng số nhất với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người nghèo thì đến năm 2010 có tới 47% người dân tộc Kinh chiếm đa số với 78,32 triệu người nghèo là người DTTS2. Phân tích động thái nghèo (83,4%), 53 dân tộc thiểu số (DTTS) với khoảng cũng cho thấy đồng bào các DTTS chiếm tỷ lệ 13,39 triệu người (14,6%)1, cư trú chủ yếu ở các lớn trong nhóm nghèo kinh niên, ước tính khoảng tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và 47,1%. Cùng với đói nghèo, tình trạng bất ổn xã hải đảo. hội là vấn đề chính trong những khu vực có nhiều Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng người DTTS cư trú. Nguyên nhân chủ yếu của và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề đảm tình trạng bất ổn xã hội là những xung đột liên bảo cơ hội phát triển công bằng, bình đẳng, toàn quan đến đất đai, đã tồn tại trong nhiều thập kỷ. diện và bền vững giữa các dân tộc, trong đó đặc 1. Tình hình thiếu đất sản xuất ở vùng biệt quan tâm các DTTS thuộc nhóm ít người dân tộc thiểu số và miền núi hoặc rất ít người, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, Các nghiên cứu về tình hình nghèo đói ở vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK). Hiến pháp năm vùng DTTS Việt Nam đã chỉ ra rằng, thực trạng 1992 nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chính sách phát thiếu đất sản xuất là một trong những nguyên triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo ở vùng DTTS và vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu miền núi. Khoảng 90% đồng bào DTTS sinh sống số” (Điều 5).  Một trong những nhiệm vụ trọng bằng nghề nông, tư liệu sản xuất chính là đất sản tâm của chính sách dân tộc là giải quyết vấn đề xuất, phần lớn các hộ nghèo đều gắn với sản xuất nghèo đói ở vùng DTTS và miền núi. Theo tính nông nghiệp. Khoảng từ 1975 (thế kỷ XX) trở về toán của Tổng cục Thống kê, mặc dù đã có những trước, vùng DTTS và miền núi dân cư thưa thớt, bước tiến đáng kể trong lĩnh vực giảm nghèo, tập quán sản xuất nương rẫy, tự cung tự cấp là chủ nhưng đến năm 2010, vẫn còn hơn một nửa đồng yếu đảm bảo cho đồng bào các DTTS một cuộc bào DTTS ở Việt Nam sống dưới ngưỡng nghèo, sống bình thường, không phải lo lắng đến cái ăn, cao hơn gấp 3 lần so với tỉ lệ nghèo chung của cả cái mặc. Tuy nhiên, từ năm 1976 trở lại đây, những nước. Một vấn đề nữa cần đặc biệt quan tâm, đó chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội là do những hạn chế trong khả năng tiếp cận các gắn với an ninh quốc phòng cùng với sự gia tăng nguồn lực tự nhiên và xã hội cũng như khả năng dân số nhanh chóng (cả tự nhiên và cơ học) đã tác tận dụng những cơ hội từ bên ngoài, tỷ lệ người động mạnh đến cơ cấu dân số ở vùng DTTS và nghèo DTTS ngày càng tăng. Nếu như năm 1998, miền núi khiến cho việc quản lý, sử dụng đất của các hộ DTTS có những biến động, xuất hiện ngày 1 . Số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015. 2 . Ngân hàng Thế giới, 2012. Ngày nhận bài: 27/4/2017; Ngày phản biện: 10/5/2017; Ngày duyệt đăng: 20/5/2017 27 (1) Học viện Dân tộc; e-mail: giangkhacbinh@cema.gov.vn (2) Học viện Dân tộc; e-mail: haquangkhue@cema.gov.vn
  2. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC càng nhiều hộ đồng bào DTTS thiếu đất ở, đất sản 2008. Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình xuất, nhất là đồng bào ở các vùng Tây Bắc, Tây và chính sách trên còn nhiều hạn chế: cho đến Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. nay vẫn còn trên 300 ngàn hộ DTTS nghèo thiếu Theo báo cáo Hội đồng Dân tộc Quốc hội và không có đất ở, đất sản xuất, nhiều chương và Ủy ban Dân tộc, từ năm 2002 đến năm 2011, trình có kết quả thấp và không đạt các mục tiêu có 558.485 hộ đồng bào DTTS nghèo cần được đề ra5. hỗ trợ đất ở, đất sản xuất3, đến năm 2015 vẫn còn Phân tích nguyên nhân của những tồn tại, khoảng 360.000 hộ thiếu đất sản xuất và đất ở, hạn chế trên đây, nhiều báo cáo đã chỉ ra những trong đó 37.199 hộ thiếu đất ở, 355.943 hộ thiếu nguyên nhân chủ yếu: đất sản xuất4. - Ở khu vực miền núi phía bắc, các hộ gia Chủ trương xuyên suốt của Đảng và Chính đình DTTS nghèo cư trú chủ yếu ở khu vực có phủ là đảm bảo quyền của các DTTS trong các địa hình phức tạp, nhiều núi đá, thiên tai, lũ quét, vấn đề liên quan đến đất đai. Chủ trương hỗ trợ sạt lở đất thường xuyên xảy ra. Tập quán canh đất ở, đất sản xuất và ổn định sinh kế cho đồng tác truyền thống kết hợp với sự tập trung dân cư bào DTTS trên địa bàn cả nước được thể hiện ngày càng đông đúc khiến cho đất sản xuất không trong Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989, kịp hồi phục, trở nên bạc màu, năng suất lao động Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 21/1/2003: “Giải ngày càng thấp. quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở - Tây Nguyên vốn là nơi đất rộng, người và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào thưa, đất đai màu mỡ. Tuy nhiên, do điều kiện khí dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc hậu, thổ nhưỡng rất phù hợp với việc trồng các và vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ”. loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà Nhằm cụ thể hóa các chủ trương trên, phê, cao su, tiêu,… nên những năm gần đây đã Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thu hút rất nhiều đồng bào từ đồng bằng lên, từ như: Quyết định 132/2002/QĐ-TTg; Quyết định phía bắc di cư vào phá rừng, mua đất, tích tụ đất 134/2004/QĐ-TTg; Quyết định 1592/QĐ- TTg; để trồng cây công nghiệp, dẫn đến diện tích đất Quyết định 33/2007/QĐ-TTg, Quyết định 755/ canh tác của đồng bào DTTS tại chỗ ngày càng QĐ-TTg ngày 20/5/2013, Quyết định 74/QĐ- thu hẹp lại. Quỹ đất để khai hoang, phục hóa, xây TTg,... Theo Báo cáo kết quả giám sát việc thực dựng khu dân cư, khu tái định cư rất hạn chế6. hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất Bên cạnh đó, việc phát triển ồ ạt các dự án thủy cho đồng bào DTTS của Ủy ban Thường vụ Quốc điện ở Tây Nguyên những năm gần đây cũng gây hội năm 2012, từ năm 2002 đến 2011, đã có 40 nhiều xáo trộn đối với đời sống, ảnh hưởng trực quyết định của Thủ tướng chính phủ; 50 quyết tiếp đến quỹ đất sản xuất của đồng bào7. định, thông tư của các Bộ, ngành; 405 đề án, dự - Tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu án của UBND các tỉnh thành phố được ban hành Long, xu hướng tích tụ ruộng đất để mở rộng sản nhằm hỗ trợ đất ở và đất sản xuất cho đồng bào xuất hàng hóa của một số hộ giàu ngày càng phát DTTS nghèo. triển. Dưới áp lực của cuộc sống, các hộ nghèo Các chương trình và chính sách trên đã dần bán (với danh nghĩa cầm cố) tư liệu sản xuất góp phần ổn định cuộc sống, ổn định chính trị, thiết yếu (ruộng đất) của mình và trở nên nghèo trật tự an toàn xã hội, và xóa đói giảm nghèo cho kiệt. Mặc dù Nhà nước hỗ trợ kinh phí để chuộc các nhóm DTTS. Tỷ lệ nghèo trong nhóm DTTS lại nhưng hầu như không thực hiện được do kinh đã giảm từ 86,4% năm 1993 xuống 50,3% năm 5 . Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 6 . Khảo sát về hiệu quả chính sách cấp đất, hỗ trợ đất sản 3 . Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Tóm tắt kết quả giám sát việc xuất theo Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 trên thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho địa bàn tỉnh Đắk Nông, các địa phương hầu như không còn đồng bào dân tộc thiểu số tại Hội thảo “Thực trạng và giải quỹ đất để khai hoang, phục hóa, cấp trực tiếp cho bà con, pháp quản lý và sử dụng đất đai vùng dân tộc và miền núi” phương thức hỗ trợ đất sản xuất chủ yếu là hỗ trợ mua sắm (25/01/2013 tại Hà Nội). máy móc, nông cụ. 4 . Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tình hình triển khai thực hiện 7 . Trong 20 dự án thuỷ điện do Tập đoàn Điện lực và các địa Nghị quyết số 539/NQ-UBTVQH13 ngày 30/10/ 2012 về phương làm chủ đầu tư, đã có phạm vi ảnh hưởng tới 990 xã, kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất 143 huyện và 34.657 hộ mất đất ở, đất sản xuất, phải di dời, ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS (Kèm theo văn bản số tái định cư (trong đó chủ yếu là hộ đồng bào DTTS – Báo 436/UBDT-CSDT ngày 13/5/2015 của Ủy ban Dân tộc). cáo của Hội đồng Dân tộc Quốc hội, tlđd). 28 Số 18 - Tháng 6 năm 2017
  3. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC phí hỗ trợ thấp mà giá thành chuộc đất quá cao8,... với những địa phương không còn quỹ đất để hỗ - Việc thu hồi đất của các nông, lâm trường trợ trực tiếp có thể chuyển đổi sang các hình kém hiệu quả hầu như không thực hiện được,… thức hỗ trợ khác như hỗ trợ chuyển đổi nghề, xuất khẩu lao động hay giao khoán trồng rừng, Một nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất mà bảo vệ rừng; trong quyết định 29/QĐ-TTg ngày các báo cáo hầu như chưa để cập hoặc chưa đi 20/5/2013 quy định mức hỗ trợ để những hộ ng- sâu phân tích, đó là khả năng thích ứng của các hèo có thể mua lại hoặc chuộc lại phần đất sản hộ gia đình DTTS nghèo trước các biến đổi của xuất đã cầm cố trước đây, song song với những tự nhiên và xã hội. Hiện nay, xu hướng toàn cầu nội dung như vay vốn để phát triển sản xuất, học hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã và nghề, tạo việc làm,... Những sự điều chỉnh đó đang tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách nhưng hội nước ta, mở ra rất nhiều cơ hội nhưng đồng đồng thời cũng chỉ ra một thực tế rằng, việc hỗ thời cũng đặt nền kinh tế nước ta trước vô vàn trợ đất sản xuất cho các hộ DTTS nghèo đang thách thức. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngày càng trở nên khó khăn hơn. cơ hội từ mở cửa thị trường không đến với tất cả mọi người. Với phần đông đồng bào DTTS, 2. Một số giải pháp giúp đồng bào dân đặc biệt là các hộ gia đình nghèo, sinh sống ở tộc thiểu số tiếp cận kinh tế thị trường, chủ vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK, việc thiếu trầm động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế trọng những kiến thức về kinh tế thị trường, khả quốc tế năng ứng dụng khoa học công nghệ, khả năng tổ Trước hết, cần phải thừa nhận một thực tế chức sản xuất, quản lý kinh tế còn nhiều hạn chế rằng, các chính sách hỗ trợ đất sản xuất trong hơn là những rào cản lớn đối với quá trình hội nhập. một thập kỷ qua, mặc dù đã đạt được những thành Với xuất phát điểm thấp, đồng bào các dân tộc tựu đáng kể trong việc ổn định đời sống, tăng thu khó nắm bắt, tiếp thu thành quả khoa học và công nhập cho các hộ gia đình DTTS nghèo nhưng nghệ cao để phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, các chính theo kịp sự phát triển nhanh của các trung tâm sách đó đã mất dần đi tính hiệu quả và trở nên kinh tế, thương mại và dịch vụ khác trên cả nước. không còn phù hợp. Sự gia tăng dân số nhanh Để giải quyết vấn đề nghèo đói ở vùng chóng (cả cơ học và tự nhiên) trong những năm DTTS, có thể khẳng định rằng các chính sách của gần đây cùng xu hướng tích tụ đất để sản xuất Đảng và Nhà nước ta thời gian qua đã đạt được với quy mô lớn tại các vùng DTTS địa phương những thành quả nhất định trong việc hỗ trợ đồng khiến cho nguồn quỹ đất dự trữ hầu như cạn kiệt. bào ổn định đời sống, ổn định sản xuất, từng bước Dẫu có quy hoạch lại đất đai, thu hồi đất tại các nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần cho nông, lâm trường hoặc một số cơ sở làm ăn kém các hộ nghèo. Không chỉ tập trung vào những vấn hiệu quả thì diện tích thu được cũng không đáng đề đơn lẻ, bức thiết, các chương trình, chính sách kể so với nhu cầu thực tế của các hộ gia đình hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt được DTTS nghèo trên khắp cả nước. Mặt khác, việc lồng ghép trong các mục tiêu phát triển cơ sở hạ tích tụ đất để làm ăn lớn là xu hướng đã diễn ra tầng, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, xóa trên thế giới từ lâu và cũng đã thành chủ trương đói giảm nghèo bền vững đã mang lại những diện của Đảng ta trong việc phát triển sản xuất nông mạo mới, sức sống mới cho vùng DTTS và miền nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Thực tế sản xuất núi. Về những bất cập trong các chính sách hỗ trợ nông nghiệp và xuất khẩu nông sản ở nước ta lâu đất sản xuất, sau khi có báo cáo phân tích, đánh nay, trong tương quan với các nước trong khu vực giá, các cơ quan chức năng đã kịp thời rút kinh như Thái Lan, Indonexia, Philippin… đã chỉ ra nghiệm, đồng thời đề ra những giải pháp mang rằng, chỉ có sản xuất trên quy mô lớn mới có thể tính khả thi nhằm khắc phục những hạn chế, bất tận dụng được lợi thế của khoa học và công nghệ, cập trong các chính sách hiện hành. Cụ thể, trong từ đó nâng cao năng suất và giá trị nông sản. Hiện quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 ghi rõ: tượng nông dân ở nhiều địa phương bỏ ruộng đất đi làm thuê hay nhiều hộ gia đình DTTS sau khi 8 . Theo Quyết định 29/2013/QĐ-TTg, các hộ trước đây đã được hỗ trợ đất lại bán đi là những minh chứng cầm cố đất được hỗ trợ dưới hình thức cho vay (tối đa 30 thiết thực cho vấn đề này. triệu/hộ) để chuộc lại hoặc mua lại đất của bà con thân thuộc nhưng hầu như cũng không thực hiện được do giá đất thực Trong điều kiện những biến đổi môi trường tế lên đến hàng trăm triệu đồng/ha. (cả tự nhiên và xã hội) ngày càng khốc liệt, diện Số 18 - Tháng 6 năm 2017 29
  4. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC tích đất sản xuất ngày càng thu hẹp lại, giải pháp sản xuất, sinh hoạt của đồng bào DTTS; tập huấn khả thi nhất là chuyển đổi sinh kế sang những theo lớp, xây dựng nhóm tiên phong, sử dụng ngành sản xuất phi truyền thống như phát triển phương thức lan tỏa trong cộng đồng, đưa vào du lịch, làm dịch vụ… Tuy nhiên, việc thay đổi chương trình học phổ thông, phát huy vai trò của tập quán làm ăn, tiếp cận và thích ứng với những các đoàn thể, người có uy tín… Nội dung truyền quy luật biến đổi đầy bất trắc của thị trường là thông cần hướng đến nâng cao năng lực tiếp không hề dễ dàng (kể cả với dân tộc đa số). Tập cận khoa học công nghệ, năng lực quản lý và sử quán làm ăn cá thể, nhỏ lẻ, luôn đặt tính an toàn dụng tài nguyên, tận dụng tối đa thế mạnh và các lên hàng đầu của nông dân Việt Nam, đặc biệt là nguồn lực địa phương để tạo việc làm mới, năng đồng bào DTTS luôn là những rào cản lớn khi lực quản lý tài chính, điều hành, năng lực kết nối người dân muốn chuyển đổi ngành nghề, thay các nguồn lực bên trong và bên ngoài… Chỉ có đổi cách thức làm ăn. Bên cạnh đó, sự thất bại như vậy mới có thể giúp đồng bào phát huy vai của nhiều dự án, mô hình sản xuất gần đây có ý trò tự chủ, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào sự nghĩa như một sự “cảnh tỉnh” về những rủi ro, hỗ trợ bên ngoài như hiện nay. bất trắc không thể lường trước khi tham gia thị - Cần quy hoạch và xây dựng các điểm trường càng khiến người dân do dự, không dám định canh, định cư cho đồng bào DTTS không có mạnh dạn chuyển đổi sinh kế. Trong bối cảnh đó, hoặc thiếu đất sản xuất. Phát huy các tiềm năng, cần một sự hỗ trợ rất lớn từ các chính sách của lợi thế của vùng như: Phát triển kinh tế cửa khẩu; Nhà nước, các cơ quan chức năng, các tổ chức phát triển thương mại, du lịch, đặc biệt là du lịch xã hội… sinh thái có sự tham gia của hộ đồng bào các dân Trước hết, cần giúp người dân hiểu và làm tộc nhằm trực tiếp mang lại các lợi ích kinh tế quen với kinh tế thị trường, với toàn cầu hóa và cho các hộ tham gia. Thành lập các trung tâm đào hội nhập quốc tế. Trên thực tế, người dân (đặc tạo nghề đặc thù cho đồng bào DTTS, có chương biệt là các hộ gia đình DTTS nghèo) chưa hiểu trình đào tạo riêng (có thể bằng tiếng dân tộc) phù kinh tế thị trường cũng như toàn cầu hóa và hội hợp với trình độ của đồng bào. Đồng thời kết nối nhập quốc tế có thể mang lại cho họ những cơ hội được các cơ sở tiếp nhận lao động, giải quyết việc và thách thức gì, họ cần có những kiến thức và làm, có thu nhập ổn định cho bà con. kỹ năng gì khi tham gia vào kinh tế thị trường và -Thứ hai, chính quyền địa phương các cấp hội nhập kinh tế quốc tế? Đây là những vấn đề rất cần gắn kết hơn nữa trong việc đầu tư tín dụng trừu tượng và do đó cũng rất khó triển khai song chính sách vào mô hình sản xuất, kinh doanh có có thể thông qua lớp người có uy tín, các tổ chức hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh đoàn thể tại địa phương để thực hiện.Người dân tế - xã hội tại các địa phương, cần thực hiện tốt cần phải hiểu và chấp nhận quy luật khắc nghiệt chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến của kinh tế thị trường, sẵn sàng đương đầu với ngư..., chuyển giao khoa học, kỹ thuật, nhân rộng những thử thách, đồng thời phải được trang bị các mô hình thoát nghèo theo đúng tinh thần những kiến thức và kỹ năng cần thiết để vượt qua Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về việc giảm những thử thách đó. nghèo bền vững đến năm 2020 và các năm tiếp Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất một số theo. Trong đó, lưu ý đến việc tiêu thụ sản phẩm giải pháp cơ bản như sau: cho hộ dân để giải quyết một phần vấn đề ly nông Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền các cấp từ bất ly hương để đồng bào yên tâm làm giàu trên tỉnh đến cơ sở phải đồng bộ, thống nhất sự lãnh chính mảnh đất quê hương./. đạo, chỉ đạo. Tăng cường công tác tuyên truyền, - Trong thời gian tới, chính sách tín dụng vận động nhân dân thực hiện tốt phương châm dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số cần “Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, gia đình tự mang tính đột phá về tăng mức vay, tăng thời hạn làm”, phát huy mạnh mẽ nội lực của người dân, cho vay, nguồn vốn tập trung vào một số ngành khơi dậy ý chí tự vươn lên thoát nghèo, tránh tư nghề trọng yếu để hộ dân có định hướng làm ăn, tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ, đầu tư của Nhà tạo sinh kế trong tương lai, như: nông nghiệp, nước, vào sự giúp đỡ của cộng đồng. lâm nghiệp, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, - Xây dựng các chương trình truyền thông cải thiện cuộc sống... Đẩy mạnh việc chuyển giao nhằm thay đổi nhận thức, tiếp đến thay đổi tập khoa học, kỹ thuật, có định hướng, thị trường tiêu quán sản xuất, chuyển đổi nghề cho cộng đồng. thụ sản phẩm... để giúp hộ dân tạo năng suất, chất Các chương trình truyền thông cần phải có hình lượng sản phẩm (thực sự là sản xuất hàng hóa). thức đa dạng, phù hợp với văn hóa, với tập quán Thứ ba, qua những công cụ hiện có, Nhà 30 Số 18 - Tháng 6 năm 2017
  5. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC nước có thể hỗ trợ người dân một cách hiệu quả Tài liệu tham khảo qua việc nghiên cứu nhu cầu, kết nối thị trường, [1] Đặng Kim Sơn, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn điều tiết sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất, phát (2011), Chính sách đất đai cho phát triển tại Việt huy lợi thế của từng địa phương, đồng thời hỗ trợ, Nam: Cơ hội hay thách thức. UNDP-CAP; bao tiêu sản phẩm cho người dân, hạn chế tối đa [2] Đặng Kim Sơn, Thái Thị Minh, Phạm những bất trắc, rủi ro từ thị trường, qua đó vừa Thị Hồng Vân (2012), Báo cáo nghiên cứu rà tạo ra giá trị cho kinh tế quốc dân vừa giúp người soát, phân tích các chính sách DTTS và hỗ trợ dân yên tâm sản xuất, làm giàu cho đất nước và xây dựng khung chính sách cho Ủy ban dân tộc, cho chính bản thân mình. Ủy ban Dân tộc; Đó là những hoạt động mang tính cấp thiết. [3] Đào Trung Chính (2008). Một vài vấn Về lâu dài, để có thể giúp đồng bào DTTS chủ đề về tình trạng tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về động trong quá trình chuyển đổi sản xuất, đáp đất đai - Báo cáo tại Hội thảo về tình trạng tranh ứng yêu cầu của kinh tế thị trường, tận dụng tốt chấp và khiếu nại kéo dài về đất đai hiện nay: hơn những cơ hội từ quá trình toàn cầu hóa và hội thực trạng và giải pháp. Hà Nội; nhập quốc tế, vấn đề quan trọng nhất vẫn là phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng [4] Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa DTTS và miền núi. Nhận thức rõ tầm quan trọng XIII - Chương trình phát triển Liên hợp quốc của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối UNDP (2012): Kỷ yếu hội thảo khoa học, Chính với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS sách về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số - Thực trạng và giải pháp, Hải Phòng, và miền núi, ngày 15 tháng 06 năm 2016, Chính tháng 8 năm 2012; phủ đã ban hành Nghị quyết số 52/NQ-CP về việc đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc [5] Hội đồng Dân tộc Quốc hội (2013), thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến Tóm tắt kết quả giám sát việc thực hiện chính năm 2030, trong đó nhấn mạnh mục tiêu nâng sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng cao, phát triển toàn diện nguồn nhân lực các dân bào dân tộc thiểu số tại Hội thảo “Thực trạng và tộc thiểu số, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số giải pháp quản lý và sử dụng đất đai vùng dân tộc có nguồn nhân lực còn hạn chế để từng bước thu và miền núi” (25/01/2013 tại Hà Nội); hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, [6] Số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2015; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu thị [7] Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tình hình trường lao động hiện tại và tương lai; xây dựng triển khai thực hiện Nghị quyết số 539/NQ-UBT- đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ người dân VQH13 ngày 30/10/ 2012 về kết quả giám sát tộc thiểu số và lao động trực tiếp có chất lượng việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm sản xuất cho đồng bào DTTS (Kèm theo văn bản nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh số 436/UBDT-CSDT ngày 13/5/2015 của Ủy ban quốc gia và vùng đồng bào dân tộc thiểu số./. Dân tộc). LACK OF PRODUCTIVE LAND IN ETHNIC MINORITY AREAS FROM THE POINT OF VIEW OF A GLOBALIZATION PERSPECTIVE AND INTERNATIONAL INTEGRATION Abstract: Production land is essential material of ethnic minority households in the producing process. Although the Party and State have many policies and policies to support production land for poor ethnic minority households, but due to many objective and subjective reasons, the proportion of households of ethnic minorities who have no land for production is still very high and tends to increase. The paper outlines the current situation, the main causes, and proposes some basic solutions to address the lack of production land of poor ethnic minority households in the context of globalization and international integration. Keywords: Production land; Household; households of ethnic minorities; globalization; the trend of international integration. Số 18 - Tháng 6 năm 2017 31

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản