intTypePromotion=1

Vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực giúp học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 làm giàu vốn từ ngữ quân sự tiếng Việt

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
24
lượt xem
2
download

Vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực giúp học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 làm giàu vốn từ ngữ quân sự tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làm giàu vốn từ ngữ quân sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm hướng tới phát triển năng lực giao tiếp cho học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2. Từ nhận hiểu về vai trò của từ trong hoạt động giao tiếp, bài viết đề cập đến những nét đặc trưng của từ ngữ quân sự và mục tiêu chiến lược gia tăng lớp từ vựng quân sự cho học viên sĩ quan dự bị. KWL và Khăn phủ bàn là hai trong số các kỹ thuật dạy học tích cực được chúng tôi nghiên cứu, đề xuất lồng ghép ứng dụng trong giờ tiếng Việt. Thông qua những mẫu thể nghiệm cụ thể, bước đầu có thể tường minh cho quan điểm sư phạm đúng đắn về vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào tổ chức hoạt động tiếng Việt nhằm giúp học viên tiếp nhận, hiểu để vận dụng từ khoa học, chất lượng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực giúp học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 làm giàu vốn từ ngữ quân sự tiếng Việt

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> VẬN DỤNG KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC<br /> GIÚP HỌC VIÊN DỰ BỊ TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN<br /> LỤC QUÂN 2 LÀM GIÀU VỐN TỪ NGỮ<br /> QUÂN SỰ TIẾNG VIỆT<br /> TRẦN THỊ QUỲNH NGA*; THÁI PHƯƠNG UYÊN**<br /> *<br /> Đại học Sư phạm Huế,  ngaspth@gmail.com<br /> **<br /> Trường Sĩ quan Lục quân 2,  thaiphuonguyen79@gmail.com<br /> Ngày nhận bài: 12/6/2019; ngày sửa chữa: 08/8/2019; ngày duyệt đăng: 20/8/2019<br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Làm giàu vốn từ ngữ quân sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm hướng tới<br /> phát triển năng lực giao tiếp cho học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2. Từ nhận hiểu về<br /> vai trò của từ trong hoạt động giao tiếp, bài viết đề cập đến những nét đặc trưng của từ ngữ quân<br /> sự và mục tiêu chiến lược gia tăng lớp từ vựng quân sự cho học viên sĩ quan dự bị. KWL và Khăn<br /> phủ bàn là hai trong số các kỹ thuật dạy học tích cực được chúng tôi nghiên cứu, đề xuất lồng<br /> ghép ứng dụng trong giờ tiếng Việt. Thông qua những mẫu thể nghiệm cụ thể, bước đầu có thể<br /> tường minh cho quan điểm sư phạm đúng đắn về vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào tổ chức<br /> hoạt động tiếng Việt nhằm giúp học viên tiếp nhận, hiểu để vận dụng từ khoa học, chất lượng.<br /> Từ khoá: kỹ thuật dạy học tích cực, học viên dự bị, từ ngữ quân sự<br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ thiện và nâng cao chất lượng làm giàu vốn từ tiếng<br /> Việt nói riêng, phát triển các kỹ năng giao tiếp nói<br /> Từ ngữ quân sự được xem là lớp từ vựng quan chung cho học viên, sinh viên.<br /> trọng đối với học viên sĩ quan ở các trường quân<br /> sự. Nhiệm vụ làm giàu vốn từ ngữ quân sự cho 2. ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG MỘT SỐ<br /> học viên dự bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 có KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC GIÚP<br /> ý nghĩa không chỉ đối với hoạt động tiếp nhận tri HỌC VIÊN DỰ BỊ TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN<br /> thức chuyên ngành về sau mà còn giữ vai trò then LỤC QUÂN 2 LÀM GIÀU VỐN TỪ NGỮ<br /> chốt trong hình thành, phát triển năng lực giao tiếp QUÂN SỰ<br /> của người học. Trong bối cảnh hiện nay, để đáp<br /> 2.1. Vai trò của từ ngữ quân sự với đối tượng<br /> ứng yêu cầu đổi mới phương pháp và cách thức học viên dự bị tại trường Sĩ quan Lục quân 2<br /> vận dụng lý thuyết vào quá trình dạy học, một số<br /> kỹ thuật tích cực như khăn phủ bàn, KWL, sơ đồ Trước hết, cần nhận hiểu một cách cơ bản về<br /> tư duy, các mảnh ghép được nhà sư phạm lựa chọn vai trò của từ vựng trong hoạt động giao tiếp. Từ<br /> tổ chức giờ học tiếng Việt nhằm tạo hứng thú, cải là đơn vị cơ bản, trung tâm, là chất liệu để kiến<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 21 (9/2019) 19<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> tạo câu – đơn vị nhỏ nhất dùng trong giao tiếp. từ vựng quân sự là sự thiếu vắng của từ láy. Ở một<br /> Một cuộc giao tiếp nhất định sẽ gắn với các nhân dạng thức tồn tại đặc biệt, từ ngữ quân sự có thể<br /> tố quan trọng: đối tượng (nói/viết với ai, nói/viết phát triển thành ngữ/tổ hợp từ cố định, chẳng hạn<br /> đến ai), mục đích (nói/viết để làm gì), nội dung như: công tác quân sự địa phương, tham mưu hậu<br /> (nói/viết cái gì), phương thức, phương tiện (nói/ cần, chính sách hậu phương quân đội,... Về mặt<br /> viết như thế nào, sử dụng phương tiện gì để đạt nội dung (cái được biểu đạt), từ ngữ quân sự biểu<br /> hiệu quả). Những đối tượng được nói đến ấy chính đạt khái niệm quân sự và định danh, gọi tên đối<br /> là thực tại đời sống khách quan, đã được con người tượng, hoạt động quân sự. Nói cách khác, một từ<br /> tri nhận và phản ánh thông qua hệ thống từ ngữ. ngữ sẽ diễn đạt một khái niệm quân sự, tức mang<br /> Nếu thiếu vốn từ, con người sẽ gặp khó khăn và cấu trúc biểu niệm gồm nhiều nét nghĩa; chẳng<br /> rào cản nhất định trong giao tiếp. hạn, từ “vũ khí” phản ánh đặc trưng của “nhiều<br /> đối tượng quân sự, phương tiện kỹ thuật quân<br /> Từ những tri nhận về vai trò của từ vựng trong sự” “dùng để tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy các<br /> giao tiếp, có thể bước đầu xác lập vị thế của vốn phương tiện vật chất kỹ thuật của đối phương” (tức<br /> từ ngữ quân sự đối với học viên sĩ quan nói chung, là phương tiện gây hại cho địch và bảo vệ mình).<br /> học viên dự bị nói riêng trong nhà trường quân<br /> đội. Là lớp từ phân loại theo tiêu chí phạm vi sử Từ vựng quân sự có những đặc trưng riêng về<br /> dụng, so với từ vựng toàn dân, từ ngữ quân sự có nghĩa, trong đó có tính đơn nghĩa, tính chính xác,<br /> phạm vi hoạt động hẹp, gắn với các tình huống tính cụ thể. Nếu từ ngữ thông thường biểu đạt khái<br /> giao tiếp cụ thể ở môi trường quân đội. Từ ngữ niệm theo nhiều tầng bậc khác nhau (đa số mang<br /> quân sự mang đặc điểm chung của hệ thống từ tính nhiều nghĩa) gắn với nhiều lĩnh vực cuộc sống<br /> vựng tiếng Việt, đồng thời có những nét đặc trưng thì từ ngữ quân sự được dùng để tường minh các<br /> riêng. Vốn từ vựng quân sự, ở một bình diện nào sự vật, hiện tượng, hoạt động trong lĩnh vực quân<br /> đó thường được biết đến như những “thuật ngữ sự và chỉ được nhận thức từ góc độ quân sự. Một<br /> quân sự”, là “bộ phận từ vựng chuyên biệt, bao bộ phận trong số đó là từ ngữ “thuần túy quân sự”,<br /> gồm toàn bộ những đơn vị có tư cách thuật ngữ, không có trong từ vựng thông thường, như: pháo<br /> được dùng ổn định trong lĩnh vực chuyên môn mặt đất, máy bay tiêm kích, tiến công trong hành<br /> quân sự, nhằm biểu thị chính xác các khái niệm tiến, cối cá nhân, bình rèn... Bộ phận còn lại chung<br /> hoặc sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực hoạt động về biểu vật nhưng khác từ ngữ thông thường về<br /> quân sự hoặc chuyên môn quân sự” (Trần Thị Hà, biểu niệm, ví dụ: biển, vùng, vịnh, ao, hồ, đồng<br /> Nguyễn Thị Quỳnh Thơ, 2016). Cũng từ đặc điểm bằng, miền núi, chiến tranh... Xét về biểu vật, các<br /> cơ bản nói trên về phạm vi sử dụng, có thể khẳng từ vừa dẫn dù ở trường từ vựng nào cũng đều dùng<br /> định vai trò quan trọng, cốt lõi của từ ngữ quân sự để gọi tên những sự vật, hiện tượng trong thế giới<br /> tiếng Việt trong định danh, gọi tên các sự vật, hoạt khách quan. Nhưng nếu xét về biểu niệm, ở một<br /> động quân sự nhằm chuyển tải chính xác các vấn trường hợp cụ thể như “đồng bằng” chẳng hạn sẽ<br /> đề thuộc chuyên ngành sâu mà trên thực tế, vốn từ có những khác biệt nhất định. Ở phạm vi giao tiếp<br /> vựng chung không thể đáp ứng được. chung, “đồng bằng” là “nơi đất thấp, bằng phẳng,<br /> thường ở lưu vực những con sông lớn”; còn trong<br /> Về mặt cấu tạo, từ ngữ quân sự cũng chia thành từ ngữ quân sự nó biểu thị khái niệm “địa hình<br /> hai nhóm: i) từ đơn: gồm các từ được cấu tạo bởi trống trải, mang những thuộc tính chiến thuật nhất<br /> một hình vị, chẳng hạn như: bom, mìn, tăng, đạn, định, như việc ngụy trang, triển khai đội hình, sử<br /> pháo, cối, súng, mũi, hướng; ii) từ phức: gồm các dụng lực lượng, phương tiện, kèm theo đó là các<br /> từ được cấu tạo bởi từ hai hình vị trở lên, chẳng hạn hình thức thủ đoạn, tác chiến cho phù hợp với đặc<br /> như: binh chủng, chiến dịch, bom mìn, mìn chống điểm địa hình”. Hay với từ “phản công”, trong vốn<br /> tăng, bom ba càng. Đặc điểm rõ nét nhất của vốn từ vựng quân sự, nó không chỉ được hiểu là “hành<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 20 Số 21 (9/2019)<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> động đánh lại kẻ tấn công mình” mà có nội hàm 2.2. Vận dụng kỹ thuật KWL và kỹ thuật<br /> khái niệm: “một dạng tác chiến đặc biệt của tiến khăn phủ bàn giúp học viên dự bị làm giàu vốn<br /> công, được tiến hành ở qui mô chiến dịch và chiến từ ngữ quân sự<br /> lược”. Tất nhiên, có thể nhận thấy một điều rất rõ<br /> ràng rằng, nghĩa của từ ngữ quân sự bao giờ cũng 2.2.1. Mục tiêu và cơ sở khoa học của việc<br /> được phát triển dựa trên cơ sở ý nghĩa ban đầu của vận dụng kỹ thuật KWL, kỹ thuật khăn phủ bàn<br /> từ ngữ phổ thông. Đặc trưng riêng về cấu tạo và Kỹ thuật KWL và kỹ thuật khăn phủ bàn (khăn<br /> nghĩa của từ ngữ quân sự tiếng Việt là những chỉ trải bàn) được sử dụng trong giờ Tiếng Việt nhằm<br /> dẫn quan trọng đối với học viên quân sự tại trường gia tăng khả năng tương tác, tìm kiếm và tích luỹ<br /> Sĩ quan Lục quân 2, đặc biệt là học viên dự bị. vốn từ ngữ quân sự cho học viên dự bị đại học.<br /> Cấu trúc phức nhưng triệt tiêu từ láy hay tính đơn Nguyên tắc cộng tác để phát triển được phát huy<br /> nghĩa, tường minh khẳng định vai trò của lớp từ đến mức tốt nhất với các kỹ thuật dạy học tích cực<br /> ngữ này trong biểu thị các vấn đề chuyên môn của này. Ngoài ra, KWL được ưu tiên lựa chọn dựa<br /> lĩnh vực quân sự. Khi có cặp đối sánh từ vựng phổ trên một trong những cơ sở khoa học cốt lõi của<br /> thông - từ ngữ quân sự (như “đồng bằng”, “phản việc dạy tiếng Việt - đó là nắm vững hiểu biết về<br /> công”), vai trò của từ ngữ quân sự tiếng Việt thể trình độ ngôn ngữ của học viên. Từ những hiểu<br /> hiện ở nét nghĩa khu biệt, ở việc biểu đạt khái niệm biết về vốn từ ngữ quân sự (cả về lượng và chất)<br /> riêng, gắn với thoại trường riêng. gắn với một số chủ đề nhất định và những kỳ vọng<br /> đạt được của học viên dự bị khi làm giàu vốn từ,<br /> Được sử dụng thường xuyên trong học tập, giảng viên có thể tổ chức, điều chỉnh quá trình dạy<br /> nghiên cứu và rèn luyện quân sự, lớp từ ngữ quân học, thu nhận và xử lý hiệu quả phát triển vốn từ<br /> sự giữ vai trò quan trọng đối với học viên tại vựng. Kỹ thuật khăn phủ bàn lại dựa trên nguyên<br /> Trường Sĩ quan Lục quân 2. Vai trò của từ ngữ tắc cộng tác nhằm bổ sung vốn từ, hệ thống hoá<br /> quân sự tiếng Việt được thể hiện rõ nét trong môi vốn từ và tích cực hoá vốn từ ngữ quân sự cho học<br /> trường huấn luyện, làm việc mang tính đặc thù, viên dự bị đại học.<br /> bởi lẽ đây là lớp từ không chỉ thường xuyên hiện<br /> diện trong hoạt động giao tiếp mà còn là chất liệu 2.2.2. Cách thức vận dụng<br /> chính của các hoạt động tương tác chuyên môn<br /> (nghề nghiệp). Học viên dự bị đại học phần lớn  Vận dụng kỹ thuật KWL:<br /> là người dân tộc thiểu số, có nhiều khó khăn cả về - KWL là chữ cái đầu tiên của 3 từ tiếng Anh:<br /> điều kiện sống lẫn khả năng vận hành tiếng Việt. K (Know) - được hiểu là "những điều đã biết”;<br /> Gia tăng lượng từ ngữ quân sự tiếng Việt một mặt W (Want to know) - “những điều muốn biết”; L<br /> giúp học viên dự bị bổ sung, làm giàu vốn từ vựng, (Learned) - “những điều học được”. KWL được<br /> mặt khác hỗ trợ tích cực trong diễn giải các vấn đề xem là sơ đồ liên hệ các kiến thức đã biết liên quan<br /> về học thuật, huấn luyện. Bên cạnh đó, nắm vững đến bài học, các kiến thức muốn biết và các kiến<br /> và làm chủ lớp từ vựng này còn góp phần nâng thức học được sau mỗi bài học. Về cách thức tiến<br /> cao hiệu quả tương tác lời nói, cải thiện trình độ hành, học viên (sinh viên, học sinh) sẽ thực hiện<br /> nghe, nói, đọc, viết các tài liệu chuyên môn cho yêu cầu viết những điều đã biết về nội dung học<br /> học viên. Nói cách khác, từ ngữ quân sự tiếng Việt tập, nghiên cứu vào cột K, những mong muốn,<br /> tham gia vào hầu hết các hoạt động giao tiếp trong kì vọng đạt được vào cột W (theo bảng) khi khởi<br /> môi trường huấn luyện, học tập và sẽ là hành trang đầu hoạt động tiếp nhận tri thức mới. Thông tin<br /> để học viên dự bị tại trường Sĩ quan Lục quân 2 về những gì thu nhận được sẽ được tiếp tục hoàn<br /> có cơ hội tiếp cận các tri thức nghề nghiệp, khẳng thiện ở cột L sau khi học viên kết thúc những trải<br /> định năng lực bản thân. nghiệm học tập.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 21 (9/2019) 21<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> K W L Đông Xuân anh thắng vang lừng<br /> ................................ ................................ ................................ Quê em sôi nổi đón mừng công anh<br /> Đánh cho Mỹ ngụy tan tành<br /> Giảng viên (giảng viên) có thể dựa vào bảng Lời thơ tiếng hát em dành tặng anh<br /> KWL để nắm bắt về trình độ của người học, những Cấy cày, sản xuất, đấu tranh<br /> mong đợi mà họ hướng tới trong quá trình tìm hiểu Anh ơi! Em quyết cùng anh diệt thù<br /> vấn đề; đồng thời thu nhận phản hồi sau các tương<br /> tác với tri thức mới. KWL cũng là bảng lưu trữ hoặc trong văn bản “Lời kêu gọi toàn quốc<br /> thông tin cá nhân mà học viên tự hình thành để kháng chiến” của Hồ Chí Minh”. Sau đây là minh<br /> theo dõi tiến độ nắm bắt vấn đề của bản thân một hoạ phiếu KWL được xác lập đối với ngữ liệu “ca<br /> cách chủ động, tích cực.<br /> dao kháng chiến”:<br /> - Kỹ thuật KWL được chúng tôi đề xuất vận<br /> K W L<br /> dụng vào dạy các tri thức lý thuyết về từ ngữ quân<br /> Từ dùng Từ dùng<br /> sự (hiểu biết ban đầu, đặc điểm cấu tạo, nghĩa trong Nghĩa từ trong Nghĩa từ<br /> từ,...) hoặc bài tập nhận diện từ ngữ quân sự, nêu quân sự quân sự<br /> nghĩa,... Kỹ thuật này được thực hiện theo các bước người tham Quân chủng và<br /> bộ đội gia quân bộ đội các ngành chuyên<br /> cơ bản sau: Bước 1. Học viên cung cấp thông tin đội môn<br /> về những điều đã biết (Know), những điều muốn Hiểu về<br /> Các cách đánh<br /> hành động nghĩa từ<br /> biết (Want to know); giảng viên tiếp nhận thông đánh<br /> chiến đấu và cách<br /> đánh địch: đánh chặn,<br /> đánh chiếm...<br /> tin được thể hiện trên phiếu để đánh giá bước đầu dùng phù<br /> hợp - Đấu tranh chống<br /> tri thức về từ ngữ quân sự của người học; Bước 2. áp bức bóc lột<br /> đấu tranh chống lại đấu tranh<br /> Kết thúc bài học/chuỗi bài học, học viên phản hồi - Đấu tranh giữa<br /> cái thiện và cái ác<br /> bằng cách điền vào phiếu những điều đã học được<br /> (Learn). Hoạt động dạy học cũng cần đến sự tương<br />  Vận dụng kỹ thuật khăn phủ bàn:<br /> tác để cùng phân tích các yếu tố trình bày trong<br /> mỗi phần K-W nhằm giúp học viên chủ động giải - Khăn phủ bàn là kỹ thuật tổ chức các hoạt<br /> mã chính những điều mình còn băn khoăn hoặc động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa cá<br /> cho rằng mình chưa hiểu/không kiến giải được.<br /> nhân và nhóm. Kỹ thuật này được tiến hành theo<br /> Trong một số trường hợp, các yếu tố của W có thể<br /> mô hình chia người học thành nhóm (thông thường<br /> được đề xuất để thảo luận chung, huy động học<br /> viên cùng hợp tác giải quyết vấn đề. Kết quả ở L khoảng 4-6 thành viên) với “khăn phủ” là bảng<br /> dù là kết quả cá nhân hay nhóm đều cần được phân giấy A0. Vùng trung tâm của “khăn phủ” dành để<br /> tích, phản hồi tích cực. ghi ý kiến chung, các vùng xung quanh là nơi thể<br /> hiện ý kiến, quan điểm cá nhân của từng thành<br /> Ví dụ, trong bài học “Văn bản”, bên cạnh mục viên trong nhóm. Ý kiến chung sẽ được ghi nhận<br /> tiêu trọng tâm của giờ học là hình thành các hiểu nếu có tính thống nhất cao sau các hoạt động cá<br /> biết về văn bản với đặc điểm cấu trúc, tính liên nhân. Kỹ thuật này cho phép bảo lưu những phát<br /> kết, tính mạch lạc..., khi tìm hiểu ngữ liệu dạy học, biểu riêng, thậm chí là trái ngược với “số đông”<br /> giảng viên có thể tích hợp đề xuất yêu cầu “Tìm<br /> ở các góc; đồng thời huy động được sự tương tác<br /> các từ ngữ dùng trong quân sự và giải thích nghĩa<br /> của từng cá thể để đi đến những cách thức tiếp cận<br /> những từ anh/chị biết ở bài ca dao kháng chiến:<br /> vấn đề tương đối thống nhất trong mỗi nhóm. Mô<br /> Em yêu, em quý quê hương hình sau thể hiện rõ đặc trưng có kỹ thuật dạy học<br /> Yêu anh bộ đội lên đường hành quân tích cực này:<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 22 Số 21 (9/2019)<br /> PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v<br /> <br /> <br /> <br /> Ngữ liệu 2. Một buổi bình rèn cuối tuần<br /> <br /> Tiểu đội trưởng: Tối nay, chúng ta sẽ tổ chức<br /> bình rèn cho tuần này. Mời các đồng chí bầu cho<br /> một đồng chí làm thư ký!<br /> <br /> Chiến sĩ 1: Tôi bầu đồng chí Nguyễn Văn Công.<br /> <br /> Chiến sĩ 2: Tôi cũng bầu đồng chí Nguyễn Văn<br /> Công làm thư ký.<br /> <br /> Tiểu đội trưởng: Các đồng chí có nhất trí đồng<br /> chí Nguyễn Văn Công làm thư ký không?<br /> - Kỹ thuật khăn phủ bàn có thể được sử dụng<br /> trong cả hoạt động lý thuyết và thực hành làm giàu Chiến sĩ (đồng thanh): Nhất trí!<br /> vốn từ ngữ quân sự cho học viên dự bị đại học. Các<br /> bước cụ thể khi tổ chức thực hiện một hoạt động Tiểu đội trưởng: Bây giờ, các đồng chí hãy<br /> làm giàu vốn từ với sự hỗ trợ của kỹ thuật khăn đứng lên tự nhận xét về ưu điểm và khuyết điểm<br /> phủ bàn: Bước 1. Với cơ cấu lớp học hiện nay ở của mình trong tuần.<br /> Trường Sĩ quan Lục quân 2, chia học viên thành<br /> 4 nhóm; mỗi nhóm nhận yêu cầu thực hành làm Thượng sĩ Đỗ Minh Tâm: Tôi xin tự nhận xét<br /> giàu vốn từ và thể hiện ý kiến trên ô giấy A0 hoặc ưu điểm và khuyết điểm của mình trong tuần như<br /> bảng giấy được phân công; Bước 2. Các thành viên sau: Ưu điểm: Học tập và rèn luyện nghiêm túc<br /> xoay “khăn phủ bàn”, quan sát sản phẩm từ vựng theo đúng chế độ, thường xuyên phát biểu xây<br /> hoặc ý kiến của đồng đội đã trình bày ở các góc, tự dựng bài. Khuyết điểm: Lau chùi vũ khí sau khi<br /> đánh giá mức độ phù hợp và thảo thuận để thống bắn đạn thật còn chưa đảm bảo.<br /> nhất quan điểm chung; Bước 3. Hoàn thành bảng<br /> từ/bảng thông tin bằng cách trình bày vào ô trung Tiểu đội trưởng: Cảm ơn đồng chí! Các đồng<br /> tâm và chia sẻ trước lớp về kết quả. chí có ý kiến gì đóng góp cho đồng chí Tâm không?<br /> <br /> Với kỹ thuật này, chúng tôi lấy ví dụ từ bài học Thượng sĩ Lương Công Trí: Tôi xin nhất trí với<br /> “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”. Khi thực phần khuyết điểm của đồng chí Tâm đã nêu. Tôi<br /> hiện hoạt động “phân tích các nhân tố giao tiếp”, xin bổ sung phần ưu điểm, trong thi bắn đạn thật,<br /> ngoài mục tiêu xác định chính xác năm nhân tố đồng chí Tâm đã đạt kết quả cao nhất đơn vị.<br /> cơ bản của tình huống đã cho trong ngữ liệu 2 -<br /> Tiểu đội trưởng: Còn ai có ý kiến đóng góp cho<br /> “Một buổi bình rèn cuối tuần” (gồm: mục đích,<br /> đồng chí Tâm không?<br /> đối tượng/nhân vật, nội dung, hoàn cảnh, phương<br /> tiện), giảng viên lưu ý học viên dự bị việc tiếp Cả tiểu đội (đồng thanh): Hết!<br /> nhận, tích luỹ thêm vốn từ ngữ quân sự có ở văn<br /> bản vì chúng đóng vai trò quan trọng trong hoạt (Thái Phương Uyên, 2017, tr. 4)<br /> động học tập, huấn luyện cá nhân. Yêu cầu đặt ra<br /> là học viên sẽ thực hiện nhanh 2 nhiệm vụ trong Theo nguyên tắc vận dụng kỹ thuật khăn phủ<br /> thời gian 2 phút: (1) Ghi lại 3 từ ngữ quân sự tiếp bàn, ở bước 2, học viên sẽ thảo luận chốt đáp án và<br /> nhận được từ ngữ liệu “Một buổi bình rèn cuối ghi vào ô trung tâm, chia sẻ kết quả với giảng viên<br /> tuần”; (2) Ghi lại 1 điều bản thân học hỏi được về cùng các nhóm còn lại. Sản phẩm minh hoạ cho<br /> cách sử dụng từ ngữ quân sự. hoạt động này như sau:<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 21 (9/2019) 23<br /> v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY<br /> <br /> <br /> Học viên A. (1) bình Học viên B. (1) bình rèn, 3. KẾT LUẬN<br /> rèn, vũ khí, đạn; vũ khí, bắn đạn thật; (2)<br /> (2) Dùng từ dứt khoát, Chính xác, phù hợp hoàn Làm giàu vốn từ ngữ quân sự cho học viên dự<br /> rõ ràng. cảnh giao tiếp. bị tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 qua môn Tiếng<br /> (1) bình rèn, bắn đạn Việt luôn cần đến sự hỗ trợ của các kỹ thuật dạy<br /> thật, đơn vị; (2) Dùng từ học tích cực. Tác động kép của những kỹ thuật<br /> chính xác, rõ ý, phù hợp<br /> hoàn cảnh và đối tượng như KWL, khăn phủ bàn hay các mảnh ghép, sơ<br /> giao tiếp. đồ tư duy thể hiện ở việc làm đầy thêm vốn từ cho<br /> Học viên D. (1) bình Học viên C. (1) bình rèn, học viên, đồng thời với đẩy mạnh kỹ năng tương<br /> rèn, bắn đạn thật, đồng chí, đạn; tác (trong tìm kiếm nguồn học liệu, giải mã từ từ<br /> đơn vị; (2) Dùng từ ngắn gọn, rõ<br /> (2) Dùng phù hợp, ràng. góc độ cấu tạo và nghĩa để biết cách sử dụng). Một<br /> đúng cấp bậc. số thử nghiệm bước đầu trong các bài học cụ thể<br /> cũng đã phần nào khẳng định tính khả thi của đề<br /> Có thể thấy, đối với môi trường đào tạo trong xuất lựa chọn vận dụng kỹ thuật dạy học tích cực<br /> quân đội, những ước định chặt chẽ về quy trình, vào quá trình giúp học viên dự bị tích luỹ vốn từ,<br /> nội dung dạy học đòi hỏi người thầy phải có chiến làm rõ nghĩa từ, hệ thống hoá và tích cực hoá vốn<br /> lược sư phạm hợp lý. Nếu được chỉ dẫn về cách từ ngữ quân sự./.<br /> thức thực hiện, mỗi hoạt động vận dụng kỹ thuật Tài liệu tham khảo:<br /> dạy học tích cực như trên có thể chỉ lồng ghép thực Trần Thị Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Thơ (2016), “Sự khác<br /> hiện trong khoảng từ 7 đến 10 phút mà vẫn đảm biệt giữa thuật ngữ quân sự với những đơn vị phi<br /> bảo phát triển hiệu quả vốn từ ngữ quân sự cho thuật ngữ quân sự”, Tạp chí Khoa học ngoại ngữ<br /> học viên dự bị. Ngữ liệu trong các bài học thuộc Quân sự, 01, 84-89.<br /> chương trình môn tiếng Việt dành cho học viên Jean-Marc Denommé & Madeleine Roy (2000), Tiến<br /> dự bị khá hấp dẫn, chứa đựng lượng từ phong phú tới một phương pháp sư phạm tương tác, Hà Nội:<br /> thuộc trường từ vựng quân sự. Vì thế, dù nội dung Nxb Thanh niên.<br /> trọng điểm là “Văn bản” hay “Hoạt động giao tiếp Tổ Văn - Tiếng Việt (2007), Bài đọc chuyên ngành phần<br /> bằng ngôn ngữ” như đã dẫn ở trên, nếu biết cách 4, Trường Sĩ quan Lục quân 2.<br /> vận dụng linh hoạt, vốn từ ngữ quân sự vẫn có thể Thái Phương Uyên (2017), Bài giảng Tiếng Việt, Hoạt động<br /> gia tăng một cách tự nhiên và chất lượng. giao tiếp bằng ngôn ngữ, Trường Sĩ quan Lục quân 2.<br /> <br /> <br /> <br /> APPLYING ACTIVE TEACHING TECHNIQUES TO HELP RESERVE CADETS<br /> AT THE ARMY CADET SCHOOL 2 ENRICH VIETNAMESE MILITARY VOCABULARY<br /> TRAN THI QUYNH NGA, THAI PHUONG UYEN<br /> Abstract: Enrichment of military words is one of the most important tasks aimed at developing the<br /> communication capacity for preparatory students at the Army Cadet School 2. From understanding<br /> the role of words in communication activities, the article mentions the characteristics of military<br /> words and strategic objectives to increase military vocabulary for reserve cadets. KWL and coverlet<br /> are two of the active teaching techniques that have been studied and proprosed in the process of<br /> teaching and learning Vietnamese lesson. Through specific experimental models, it is possible to<br /> explicitly demonstrate the correct pedagogical viewpoint of applying active teaching techniques into<br /> organizing Vietnamese activities to help cadets acquire and use military words appropreately.<br /> Keywords: active teaching techniques, preparatory students, military words<br /> Received: 12/6/2019; Revised: 08/8/2019; Accepted: 20/8/2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 24 Số 21 (9/2019)<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2