
Vềkhái niệm Văn học
“Chủnghĩa lãng mạn”, cũng nhưnhững khái niệm tương tựkhác, phản ánh hiện thực của
nhiều tầng vỉađược hình thành trong thơ, trong văn học. Nhờphản ánh được các sức mạnh
tác động lẫn nhau trong văn học và trong lịch sử, khái niệmấy không để cho các nhà
nghiên cứu văn học sửdụng tuỳtiện. Nó “gắn” chặt với lịch sử, với nhân dân trong lịch sử
của nó. Cần cốgắng nghiên cứu thật kĩcái khái niệm lúc nào cũng mởra quang cảnh hiện
thực của văn học, sựphát triển của nó, chỉbằng cách nghiên cứu, suy ngẫm thật thấuđáo
vềkhái niệmấy mới có thểlàm sáng tỏvà hoàn thiện nó. Huống chi, đặcđiểm nổi bật của
khái niệm “chủnghĩa lãng mạn” nhưnó được tiếp nhận trong lịch sửvăn hoá Đức là nó có
đủ các loại yếu tốkhông tương thích, nó chứađựng nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn lộra bên
ngoài và mâu thuẫn tiềmẩn. Một trong những sựkhông tương thích lúc nào cũng đập vào
mắt ta là sựphát triển so le của chủnghĩa lãng mạn trong thơvà trong nhạc, một sựso le
khó có thểxem là thoả đáng. Nếu quảthật vởnhạc kịch “Xạthủthần kì” của Weber được
trình diễn vào năm 1821 là tác phẩm âm nhạc tràn trềsức sống đầu tiên củaĐức, thếthì
làm gì đây với nhạc không lãng mạn của “nhà lãng mạn” Hoffman (nhiều người cho chẳng
có cơsởxác đáng để bảo rằng ông là đại diện chủyếu, là biểu tượng của toàn bộchủnghĩa
lãng mạnĐức)? Làm gì đây với một Beethoven hoàn toàn không lãng mạn, nhưng ông lại
được tất cảcác nhà lãng mạn chúng khẩuđồng từthừa nhận là nhà lãng mạn? Sẽlàm gì
đây với Richard Wagner, ngườiđã sáng tạo hàng loạt tác phẩm khi chủnghĩa lãng mạn
trong văn họcđã trởthành tài sản của quá khứ?
Rõ ràng, chủnghĩa lãng mạn và những khái niệm gần gũi với nó tuy cùng họtộc mà
khác nhau cành nhánh, không đồng nhất. Ở đây không thểchỉsửdụng một nguyên tắc lô

gíc hình thứcđể phân định phạm vi các khái niệm. Gộp tất cảcác khái niệmấy lại với
nhau cũng không sao thực hiệnđược một quy tắc tốiư đơn giản: sao cho biên giới quốc
gia không được chạy xuyên qua lãnh thổnước láng giềng và chỉgiớiđấtđai không ăn léo
sang ruộng nhà hàng xóm. Những gì chẳng phải là thơsẽlà văn xuôi, và ngược lại, những
gì không phải là văn xuôi, ắt sẽlà thơ. Nhưng không thểvận dụng cái bài học cũmèm ấy
vào đâyđể nói: chẳng phải là chủnghĩa lãng mạn thì chỉcó thểlà chủnghĩa cổ điển hoặc
chủnghĩa hiện thực v.v… Ai cũng biết, nhiều hiện tượng nghệthuật thường tồn tạiởnơi
mép giới và chúng chẳng thích thú gì khi bị đụng chạm tới. Tất cảkhái niệm ta đang bàn
luậnở đây, khái niệm nào cũng là tên gọi của những tầng vỉa lịch sửvăn học, khái niệm
nào cũng chỉra các tầng vỉaấy, và từchiều sâu của cấu trúc nội tại, nó xa lạvới mọi thứlô
gíc hình thức.
Các tầng vỉa của lịch sửvăn họcđược quy định bởi lô gíc vậnđộng sống động của
lịch sử, lí luận văn họcđào sâu, nghiên cứuđể nắm bắt lô gíc ấy. Không ai nghi ngờ, rằng
có một hạt nhân duy lí đang điều khiển lịch sửvà lịch sửbao giờcũng có lí lẽriêng, nhưng
đó không phải là lí lẽcho phép đưa ra những định nghĩa lô gíc hình thức theo kiểu “dựa
vào loại mà phân biệt thể”.
Không thể đưa ra định nghĩa vềchủnghĩa lãng mạn, chủnghĩa cổ điển hay chủ
nghĩa barocco bằng lô gíc hình thức. Thếmà vẫn có một sai lầm hết sức phổbiến, đó là cái
yêu cầu thấy cứlặpđi lặp lại, là đòi hỏi phảiđưa ra cho bằng được mộtđịnh nghĩa vềchủ
nghĩa lãng mạn, hay chủnghĩa barocco, v.v… Thông thường, những người yêu cầuđưa ra
định nghĩa vềchủnghĩa lãng mạn, vềbarocco, v.v… thường chỉcó thểhình dung trong
đầu mộtđịnh nghĩa lô gíc hình thức, chẳng hạn: “Chủnghĩa lãng mạn là một khuynh
hướng (trào lưu…) có những dấu hiệu khác biệt nhưthếnày…, có những đặcđiểm nổi bật
nhưthếkia…”. Mọi cốgắng tìm kiếm nhằm mụcđích cuối cùng là đưa ra mộtđịnh nghĩa
nhưthế đều chỉcó một kết cục, ấy là sựngạc nhiên. Ngạc nhiên vì mãi vẫn không rút ra
đượcđịnh nghĩa nào cả. Mà có rút ra được thì còn ngạc nhiên hơn, bởi rất nhiều nhà lãng
mạn tiêu biểu sẽchẳng muốn tuân phục cái định nghĩa“đúng đắn” ấy. Có một sựhẳn
nhiên mang theo những đặcđiểm rất khác luôn luôn vận hành trong dòng chảy lịch sử. Nó
định trước cho ta phải hiểu các hiện tượng này hay hiện tượng kia của văn học nhưthếnào.
Nó đặt cơsởcho ta nghiên cứu các hiện tượng văn họcấy. Những cách hiểuđượcđịnh
trướcấy sẽtrởthành tưliệu cho nhận thức lí luận, một quá trình nhận thức chẳng bao giờ
dừng lại, ngày một lớn lên. Sựhẳn nhiên ấy vẫn thường làm cho những hiện tượng rất xa
nhau xích lại với nhau, chúng chỉxa nhau vì được nhìn bằng đôi mắt của ngườiđứng

ngoài, đôi mắt tĩnh tại chẳng bao giờthấyđược các hiện tượng trong dòng chảy lịch sử đầy
sức sống, nhưng các hiện tượng xa nhau trong con mắt tĩnh tại, con mắt của ngườiđứng
ngoài, xa nhau vì được tiếp cận bằng lô gíc hình thức lại hoàn toàn có thểthống nhất với
nhau bởi những tuyến phát triển và kếthừa, tái tạo và biếnđổi mang tính di truyền từtrong
bản chất, những tuyếnấy sau một vài thếkỉmuốn phát hiện thật không đơn giản và rất dễ
bịbỏqua, nếu người ta không cân nhắc kĩlưỡng trình tựnhận thứcđối với các hiện tượng
ấy. Nhân tốtiềnđịnh lịch sửlúc nào cũng vận hành. Nó thuộc loại lô gíc cao hơn, phức tạp
hơn. Nó điều khiển toàn bộlực lượng tựphát và đại dương lịch sửbao la.
Lạc vào giữa sức mạnh tựphát và đại dương mù mịt của các hiện tượng văn học
nhưthế, ta sẽchẳng hiểuđược gì cả, mọi sựsẽrối tung rối mù, nếu lí luận chỉcó trong tay
mộtđống những dữliệu trừu tượng, bịtách khỏi lí thuyết, nhưng chưađược sắp xếp theo
một trật tựnào cả. Và tiếp theo, nếu lí luận văn học không nắmđượcđiểm khởiđầu của
các hiện tượng văn học, nếu nó không cắmđược rễsâu vào đó, và nếu nhưbản thân tác
phẩm văn học không phải là lí luận, không phải là sựghi lại dấuấn của tưduy, là sựkết
tinh của tưtưởng thường xuyên truy vấn bản thân, là hành vi nhận thức lịch sử. Bản thân
dòng chảy lịch sửsinh ra lí luận, chia tách tiến trình văn học thành các tầng vỉa, không cần
đến những thao tác, thủpháp định nghĩa và phân loại theo lô gíc hình thức.
Giảthửkhông có một thứlí luận sống động nhưthế, giảthửtiến trình văn học sống
động không thường xuyên làm nẩy sinh lí luận, thì sẽchẳng có một chuyên gia nào có thể
làm được mộtđiều gì đó với lịch sửvăn học, sẽchẳng có một nhà nghiên cứu nào dẫu giỏi
giang đếnđâu trong những kiến tạo lô gíc hình thức có thểphân tích thấuđáo các hiện
tượng văn học, dẫu nhà nghiên cứu có tài cầm cân nẩy mựcđo cắt thếnào, thì trước mắt
anh ta, lịch sửvăn học vẫn chỉlà mộtđống tưliệu chết cứng. Và nếu thếthì tất nhiên chỉ
còn mỗi việclàđem cỗmáy lô gíc hình thức ra mà sửdụng để sắp xếp, tổchức thếnào đó
cái đống tưliệu chết cứng ấy. Và chẳng còn chút mảy may nghi ngờrằng: ngay bây giờ,
nhiều nhà nghiên cứu văn học, nhất là ởphương Tây, đã tiến sát tới chỗchỉnhìn thấy trong
tưliệu của một nền văn học nào đó mộtđống vật liêu chết cứng - với họ, lịch sử đã mất hết
ý nghĩa, dồn lại thành một mớhỗnđộn, các mối liên hệthời gian bị đứt tung, họ đầy hoài
nghi, coi thường hình thức truyền thống hữu cơ đã hình thành của lịch sửvăn học, họ
muốn tổchức tưliệu “thật sựkhoa học”, muốn xây dựng bằng cách phá huỷtất cả.Đúng
là đã có một thời gian rất dài, dễ đến mấy thếhệ, trong con mắt các nhà lí luận và nhà lịch
sửvăn học lúc nào cũng chỉchăm chắm nghĩtới sựchính xác khoa học, thì đây rồi, khoa
học vềvăn học, rốt cuộc, chỉcòn tí tịnữa thôi là hoá thành khoa họcđích thực. Cái giá mà

họsẵn sàng trảcho điềuđó là sựcắtđứt với gốc rễsống động của văn học vốn dĩcó khả
năng tựnhận thức trong quá trình lịch sửcủa mình, là sựthay thếyếu tốtiềnđịnh lí luận
lúc nào cũng lộra từchiều sâu sinh động của tưliệu văn học bằng những thao tác cơgiới,
bằng lô gíc hình thức vờnđuổi từphía bên ngoài.
Tham vọng tìm ra cho chủnghĩa lãng mạn hay chủnghĩa barocco mộtđịnh nghĩa
cứu nguy cũng giống với những thao tác nhưthế,- nhà nghiên cứu muốn có trong tay một
cái gì thậtđơn giản cho phép anh ta khám phá những dữliệu phức tạp, rối rắm của lịch sử
văn học một cách cơgiới, gần nhưtự động, chứkhông cần phải bỏmột chút cốgắng nào
của cá nhân anh ta. Đều là con người với nhau, chuyệnđó có gì khó hiểuđâu! Nhiều nhà
nghiên cứu lịch sửâm nhạc chẳng bao giờthích nghe thứâm nhạc mà họnghiên cứu,- họ
chán ngấy thứâm nhạcấy, và để giải trí, họcó thểnghe một thứâm nhạc nhẹnhàng hơn,
đơn giản hơn; thứâm nhạc mà họcó nhiệm vụphải nghiên cứu, với họ, nó chỉlà một thứ
vật liệu khoa học khách quan, thếlà trong họcó sựkết hợp tuyệt vời một học giảvà một
thính giảxuềxoà. Cũng chẳng có gì trái tựnhiên khi người ta muốnđơn giản hoá tưliệu
nghiên cứu của mình, chẳng hạn, người ta muốn lấy thứlô gíc đơn giản, lô gíc “học trò” ai
cũng biết từtrên ghếnhà trường để thay cho lô gíc lịch sửvăn học rất phức tạp, còn chưa
được nghiên cứu. Trong đời sống khoa học, ý muốnđơn giản hoá, sơ đẳng hoá nhưthế
bao giờcũng tồn tại cùng với những đam mê khác, mạnh hơn, và có lẽcao hơn…
Ta còn biết một khuynh hướng ngược lại, ấy là sự ưa thích tính giản dị đầy hưtạo
trong định nghĩa mà hàng trăm chuyên gia nghiên cứu chủnghĩa lãng mạnđã hiến tặng
cho thếgiớiđể rồi bịchính họlại bác bỏ, vì chúng (cứnhưchơi khăm!) đều không đạt yêu
cầu. Khuynh hướng đối lập này nói lên sựmê đắm của những người thành tâm yêu văn
họcđối với sựgiàu có và đa dạng vô hạn của nó. Cách đây không lâu, một giáo sưvăn học
người Mĩrất yêu sách vởnói rằng, ông đã thu thập và đọc tài liệu vềbarocco suốt 50 năm
mà vẫn chưa biết barocco là cái gì. Lập trường nhưthếrấtđáng trân trọng, nó thểhiện sự
kinh ngạc trước cái cây ăn quảbarocco, cái cây mà bây giờvẫn mang đến cho chúng ta
những trái ngọt rất mới, những trái chưa từng thấy hoặc bịbỏquên. Nhưng nếu chỉdừng
lạiởsựngạc nhiên không thôi thì vẫn chưađủ đối với lí luận khoa học - dẫu có thếnào thì
lí luận vẫn buộc phải trảlời câu hỏi: đó là cái gì?
Lí luận khoa học có thểlàm được việcấy bằng những con đường nào? Chắc chắn
là phức tạp chứkhông thể đơn giản. Cần phải trông cậy vào sựchính xác của từ, chứ
không thểtrông cậy vào sự đơn giản củađịnh nghĩa. Phải dựa vào sựchính xác của từcó
khảnăng miêu tả,đủ sức làm rõ đặc trưng, chứkhông phải là sự đơn giản củađịnh nghĩa

lô gíc hình thức. Chỉcó thểtrông cậy vào sựchính xác của từcó đủ khảnăng khám phá
sự độcđáo của mỗi hiện tượng, nắm bắt và chiếm lĩnh được bản chất của nó. Loại từngữ
chính xác ấy hấp thụvà bảo quản tính phức tạp vô tận có thật của các hiện tượng. Loại từ
ngữ ấy chuẩn xác và thiết thực, - nó không chạy theo cái màu mè chỉcốt gây ấn tượng,
mà từtrong bản chất nó xích lại gần với ngôn từthi ca,- cái ngôn từthi ca tái tạo hiện
tượng bằng hình tượng, khôi phục bằng chính phương thức, phương tiện của mình, làm
cho hiện tượng nhưhiện lên trước mắt.
Đó mới chỉlà bướcđầu tiên, chứkhông phải là cái chính yếu. Nó mới chỉlà điều
kiện sơbộ, chứkhông phải bản chất. Đối với lô gic hình thức, sựthống nhất hữu cơcủa
một tầng vỉa lịch sửvăn học chẳng qua chỉlà thứtạp chủng, thiếu vắng tính toàn vẹn.
Song trong lịch sửtựnhiên, các tầng vỉa không bịchia cắt bởi biên giới quốc gia hay cột
mốc lãnh địa, tuy thếchúng vẫn tựgiới hạn, chế định lẫn nhau, mỗi tầng vỉa có đặcđiểm
riêng, bản chất riêng của mình. Các khái niệm kiểu như“chủnghĩa lãng mạn”, “chủnghĩa
cổ điển”, “barocco” đều mang tính ngẫu nhiên, ngẫu nhiên trước hết vì chúng không lệ
thuộc vào một lô gíc rõ ràng , dễtheo dõi nào cả. Ngẫu nhiên bởi vì chúng chứađụng
nhiều căn cứkhác nhau, tựa hồnhưtrong tiến trình lịch sửkhi thì chúng “vớ” lấy cái này,
lúc chúng lại “chộp” được cái kia. Ngẫu nhiên còn bởi vì chúng không thu hút vào mình
toàn bộbản chất hẳn nhiên của hiện tượng, và chúng có đặcđiểm nổi bật là thường gắn với
nghĩa của từnguyên rất kỳcục. Chúng vừa ngẫu nhiên, vừađầy tính ước lệ. Chúng gìn giữ
tính “ước lệ” ấy, khắc sâu dấuấn nguồn cội của mình và không biến thành những thuật
ngữkhoa học “thuần tuý”. Chúng không phải là những chiếc chìa khoá để mởra các hiện
tượng văn học. Có thểxem chúng là những cặp mắt kính thì đúng hơn. Mỗi tầng vỉa của
lịch sửvăn học cần có cặp mắt kính riêng phù hợp với nó, nhờ đó mà ta có thểnhìn rõ hơn,
hiểu biếtđược nhiều hơn. Mặt khác, tất cảcác khái niệmấyđều là tất yếu, cần thiết và
không thểthiếu. Chúng là con đẻ tựnhiên của quá trình phát triển văn học, một quá trình
thường xuyên tựý thức, đồng thời cũng thường xuyên nhận thức bản thân trong lí luận -
trong lịch sửkhoa học vềvăn học.
Nhiệm vụcủa khoa học không phải là xác định từng khái niệm riêng lẻmà là xác
định tất cảcác khái niệm trong tổng thểcủa chúng, tức là trong chỉnh thểcủa tiến trình văn
học (với các tầng lớp, thớvỉa của nó). Cái chỉnh thể ấy của văn học dân tộc là giới hạnđể
qua đó cảchủnghĩa barocco, cảchủnghĩa lãng mạn, cảchủnghĩa cổ điển và tất cảnhững
khái niệm nhưthếtìm thấy tính xác định, chứkhông phải là những định nghĩa (nếu mà về
đại thể,đây là những nền văn học mà ta có thểvận dụng các khái niệm tương tựnhưta

