intTypePromotion=1

Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
4
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014-2018.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

  1. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nguyễn Thị Hoa Hồng Nguyễn Đắc Đạt Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Ngoại thương Nguyễn Tiến Đạt Khoa Kế toán Kiểm toán, Học viện Ngân hàng Ngày nhận: 12/02/2020 Ngày nhận bản sửa: 21/04/2020 Ngày duyệt đăng: 21/07/2020 Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2014- 2018. Kết quả từ mô hình hồi quy cho thấy, chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng nhất định tới giá cổ phiếu của doanh nghiệp, trong đó quy mô, danh tiếng của công ty kiểm toán, việc thay đổi kiểm toán viên và luân chuyển các công ty kiểm toán chính là những yếu tố đánh giá về chất lượng kiểm toán có tác động đáng kể The impact of audit quality on the share price in Vietnamese listed companies Abstract: The paper examines the impact of audit quality on the share price of companies listed on the Vietnam stock market in the period of 2014- 2018. The empirical results from the regression model show that audit quality has significant effect on the firms’ share price, in which the size and reputation of the auditing firms, the change of auditors and the rotation of auditing firms that are indicators of the audit quality has an influence on the market price per share (MPS). The larger the size and reputation of the audit firms, the higher quality of services they will provide. In addition, the change of auditors as well as the audit firms will maintain the independence in audit reports, thereby helping to increase the share price. Keywords: Financial Statement, audit quality, share price, market price Hong Thi Hoa Nguyen Email: hongnth@ftu.edu.vn Foreign Trade University Dat Tien Nguyen Email: datnt@hvnh.edu.vn Accounting- Auditing faculty, Banking Academy of Vietnam Dat Dac Nguyen nguyendacdatqtqt@gmail.com Foreign Trade University © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng ISSN 1859 - 011X 59 Số 221- Tháng 10. 2020
  2. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam tới giá cổ phiếu (hay giá thị trường trên mỗi cổ phiếu). Các công ty kiểm toán có quy mô và danh tiếng càng lớn sẽ cung cấp chất lượng dịch vụ càng cao cũng như việc thay đổi kiểm toán viên, công ty kiểm toán sẽ giữ vững được tính khách quan độc lập trong các báo cáo kiểm toán, qua đó giúp giá cổ phiếu doanh nghiệp gia tăng. Từ khóa: Báo cáo tài chính, chất lượng kiểm toán, giá cổ phiếu (giá thị trường trên mỗi cổ phiếu). 1. Đặt vấn đề Zhang, 2015). Vì vậy, chất lượng kiểm toán sẽ giúp các nhà đầu tư ra quyết định đúng Hiện nay, hoạt động kiểm toán độc lập đắn, phản ánh chính xác những kỳ vọng của đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị họ về giá cổ phiếu trong doanh nghiệp. trường. Hoạt động kiểm toán độc lập trong đó có hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán báo cáo tài chính với các công được xem như một công cụ cung cấp thông ty niêm yết trên sàn chứng khoán là yêu tin cần thiết và khách quan, trung thực, hợp cầu bắt buộc tại hầu hết các quốc gia trên lý cho việc ra quyết định của các đối tượng thế giới, trong đó có Việt Nam. Trên thực sử dụng thông tin báo cáo tài chính, đặc biệt tế, đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng ý kiến kiểm toán trong hoạt động kiểm toán của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu độc lập giúp bảo vệ tính bền vững và ổn tại các thị trường chứng khoán ở các nước định của nền kinh tế. Trên thế giới, nhiều trên thế giới như Úc, Mỹ, Anh, Singapore nghiên cứu về chất lượng kiểm toán đã được hay Jordan, Tehran, Nigeria. Tuy nhiên, tại thực hiện với các hướng tiếp cận khác nhau. Việt Nam vấn đề này vẫn chưa được nhiều DeAngelo (1981) đánh giá chất lượng kiểm nhà nghiên cứu thực hiện. Bên cạnh đó, với toán theo nhận thức của thị trường là khả một thị trường tài chính đang phát triển như năng phát hiện và báo cáo các sai phạm Việt Nam, việc minh bạch hóa thông tin trọng yếu trong báo cáo tài chính của đơn vị cũng như đánh giá về tính chính xác và độ được kiểm toán. Có thể thấy rằng, mục đích tin cậy trong các thông tin tài chính được chính của chức năng kiểm toán là nhằm kiểm công bố của các doanh nghiệp là một vấn chứng độ tin cậy trong các báo cáo tài chính, đề mà các nhà đầu tư đều quan tâm. Vì vậy, qua đó giúp các nhà đầu tư đánh giá được ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên triển vọng của doanh nghiệp thông qua giá giá cổ phiếu trong các doanh nghiệp niêm cổ phiếu. Nghiên cứu của Khajavi và Zare yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (2016) đã đưa ra hai nguyên nhân chính dẫn trở thành một đề tài cần được xem xét, có đến những biến động giá cổ phiếu, bao gồm ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, mang các hoạt động quản lý và hệ thống kế toán. đến những lợi ích đối với nghề nghiệp kiểm Các nhà quản lý thường cố gắng báo cáo sai toán, các nhà đầu tư, ngân hàng cho vay lệch về thu nhập của doanh nghiệp, qua đó vốn và người sử dụng với mục đích khác làm tăng giá cổ phiếu hơn giá trị thực của nó về giá trị thông tin của báo cáo kiểm toán. cũng như cố che giấu các thông tin xấu cho tới khi không thể ngăn chặn được nữa. Vào 2. Tổng quan ảnh hưởng của chất lượng thời điểm đó, giá cổ phiếu sẽ phản ứng rất kiểm toán lên giá cổ phiếu trong doanh tiêu cực với những thông tin này (Kim và nghiệp 60 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  3. NGUYỄN THỊ HOA HỒNG - NGUYỄN TIẾN ĐẠT - NGUYỄN ĐẮC ĐẠT Trong Lý thuyết về người đại diện (agency của một cổ phiếu không phải do doanh theory) nghiên cứu mối quan hệ giữa bên nghiệp ấn định mà được xác định bởi giá ủy quyền và bên được ủy quyền- người đại thống nhất mà người bán sẵn sàng bán và diện (cụ thể trong một doanh nghiệp là giữa giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả. cổ đông- người ủy quyền và giám đốc điều Nói một cách khác, tùy theo cung cầu biến hành- người được ủy quyền), Jensen và động mà giá thị trường của cổ phiếu sẽ cao Meckling (1976) đã nhấn mạnh người được hơn, thấp hơn hay bằng giá trị thực của cổ ủy quyền thường có nhiều thông tin hơn phiếu ở một thời điểm nhất định. Giá trị thị người ủy quyền, vì vậy chính sự bất cân trường cũng là giá trị cổ phiếu mà các nhà xứng thông tin này sẽ ảnh hưởng rất lớn đầu tư, cổ đông quan tâm nhất vì có ảnh tới khả năng kiểm soát doanh nghiệp cũng hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của họ. như lợi ích của người ủy quyền. Vì vậy, Watts (1998) khẳng định kiểm toán được Chất lượng kế toán được đo lường bằng coi là một khoản phí mà người đại diện trả rất nhiều nhân tố như nhiệm kỳ kiểm toán cho bên thứ ba nhằm đáp ứng nhu cầu của viên, sự luân chuyển kiểm toán viên và các các cổ đông trong doanh nghiệp về tính xác công ty kiểm toán, mức độ chuyên sâu của thực và tin cậy các thông tin tài chính, qua kiểm toán viên cũng như quy mô và danh đó bảo vệ lợi ích kinh tế của họ. Những lợi tiếng của các công ty kiểm toán. Rất nhiều ích kinh tế mà cổ đông có được bao gồm cổ nghiên cứu đã tìm ra được bằng chứng cho tức hàng năm và lợi nhuận từ việc tăng giá mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán với cổ phiếu. Theo Bạch Đức Hiển (2008), cổ giá cổ phiếu, cụ thể là giá thị trường của cổ phiếu thường có các hình thức giá trị bao phiếu hay chính là lợi ích kinh tế mà các gồm: Mệnh giá cổ phiếu, giá trị sổ sách, giá cổ đông luôn quan tâm khi họ sử dụng tới trị lý thuyết và giá trị thị trường. công cụ kiểm toán độc lập. - Mệnh giá cổ phiếu (p-value) hay còn gọi ○○ Ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán viên là giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu. Nhiệm kỳ của kiểm toán viên là mối quan hệ hợp tác giữa công ty kiểm toán với khách - Giá trị sổ sách (book value) của cổ phiếu hàng kiểm toán; theo đó, nhiệm kỳ của kiểm là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa toán viên có mối tương quan nghịch đối với trên số liệu sổ sách kế toán của các công chất lượng kiểm toán. Điều này có thể giải ty, phản ánh tính trạng vốn cổ phần tại một thích do kéo dài nhiệm kỳ kiểm toán của thời điểm nhất định. kiểm toán viên đối với một khách hàng sẽ tạo ra mối quan hệ thân thiết khiến tính độc - Giá trị lý thuyết của cổ phiếu hay giá trị lập và khách quan của cuộc kiểm toán bị nội tại (intrinsic value) là giá trị thực của giảm, dẫn đến giảm chất lượng kiểm toán. một cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, được tính dựa vào cổ tức, triển vọng phát triển Nghiên cứu của Callen và Fang (2011) doanh nghiệp và lãi suất thị trường. trên các công ty niêm yết tại Mỹ giai đoạn 1980- 2008 đã tìm được bằng chứng chứng - Giá trị thị trường (market value) hay giá minh rằng độ dài nhiệm kỳ kiểm toán có thị trường là giá cả cổ phiếu trên thị trường ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu trong tại một thời điểm nhất định. Giá thị trường tương lai. Theo nghiên cứu này, mối quan Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 61
  4. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hệ thân thiết giữa khách hàng và kiểm toán năng dự báo thu nhập trong tương lai, qua viên sẽ tăng theo độ dài của nhiệm kỳ kiểm đó giúp các nhà đầu tư đưa ra được quyết toán, do đó mặc dù phát hiện ra những định phù hợp được phản ánh trong biến sai sót trong báo cáo tài chính nhưng việc động giá cổ phiếu. công bố sẽ bị ngăn chặn nhằm không ảnh hưởng xấu đến hình ảnh khách hàng, do ○○ Ảnh hưởng của quy mô và danh tiếng đó trong tương lai giá cố phiếu sẽ bị ảnh của công ty kiểm toán hưởng vì tính tin cậy không được các nhà đầu tư đánh giá cao. Al-Thuneibat và cộng Theo Chaney và Philipich (2002), chất sự (2011) cũng cho rằng mối quan hệ của lượng kiểm toán gắn liền với danh tiếng của công ty kiểm toán với khách hàng có ảnh công ty kiểm toán. Các công ty kiểm toán hưởng đáng kể đến chất lượng kiểm toán bị giảm danh tiếng có ảnh hưởng tiêu cực trong khi kiểm toán viên tăng thời gian đến các khách hàng dẫn đến các nhà đầu tư kiểm toán lại ảnh hưởng xấu đến chất thường phản ứng tiêu cực đối với các công lượng kiểm toán. Nhiệm kỳ của kiểm toán ty niêm yết được kiểm toán. Trong những viên tăng lên sẽ làm giảm chất lượng kiểm trường hợp như vậy, giá cổ phiếu cho thấy toán do mối quan hệ giữa khách hàng và sự biến động rất lớn. Khi đó, hầu hết các kiểm toán viên. công ty đều muốn chuyển sang sử dụng dịch vụ của các công ty kiểm toán có quy ○○ Ảnh hưởng của mức độ chuyên sâu về mô lớn và uy tín hơn. Các doanh nghiệp từng lĩnh vực ngành nghề của kiểm toán viên lớn niêm yết có xu hướng chuyển đổi công ty kiểm toán nhanh hơn so với các công ty Mức độ chuyên sâu về từng lĩnh vực và khác, vì họ không muốn chịu tổn thất về giá trình độ chuyên môn của kiểm toán viên trị thị trường khi giá cổ phiếu của họ giảm. được các nhà đầu tư đánh giá cao vì các Mặc dù chi phí tìm kiếm công ty kiểm toán ý kiến kiểm toán mà họ đưa ra sẽ mang mới phát sinh khá cao nhưng sẽ làm giảm tính khách quan và tin cậy hơn. Nghiên sự không chắc chắn liên quan đến giá cổ cứu của Hoti và cộng sự (2012) cho rằng phiếu trong trường hợp phản ứng của nhà ý kiến kiểm toán đến từ các kiểm toán viên đầu tư đối với chất lượng kiểm toán. có chuyên môn về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng có ảnh hưởng đáng kể đến Theo nghiên cứu của DeAngelo (1981), biến động giá cổ phiếu, bởi vì các nhà đầu công ty kiểm toán nào có càng nhiều khách tư đánh giá dựa trên ý kiến và chất lượng hàng (số lượng khách hàng là một trong báo cáo kiếm toán là một nguồn thông tin những chỉ tiêu đánh giá quy mô và danh đáng tin cậy về hiệu quả tài chính của công tiếng của công ty kiểm toán) thì càng có ty, nhất là khi kiểm toán viên có kiến thức khả năng sai phạm của kiểm toán viên về lĩnh vực của công ty được kiểm toán. bị phát hiện. Như vậy, quy mô (số lượng Hussainey (2009) cũng chỉ ra rằng chất khách hàng) của công ty kiểm toán càng lượng kiểm toán đến từ các kiểm toán viên lớn thì họ càng bị áp lực về việc duy trì có trình độ chuyên môn cao và hiểu biết về chất lượng kiểm toán. Chính việc duy trì ngành nghề khách hàng được kiểm toán có được chất lượng kiểm toán cho khách hàng ảnh hưởng đến nhận thức của các nhà đầu sẽ làm cho các nhà đầu tư khi đánh giá báo tư về các hoạt động tài chính của công ty do cáo tài chính khách hàng của họ tin cậy chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến khả hơn, qua đó duy trì ổn định giá cổ phiếu 62 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  5. NGUYỄN THỊ HOA HỒNG - NGUYỄN TIẾN ĐẠT - NGUYỄN ĐẮC ĐẠT của công ty được kiểm toán. qua các website http://cafef.vn và https:// www.vndirect.com.vn/. Bên cạnh những ảnh hưởng trên thì chất lượng kiểm toán còn được đo lường bằng Dữ liệu mẫu cuối cùng bao gồm 117 công các yếu tố khác như giá phí kiểm toán, ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán HNX độ trễ báo cáo tài chính được kiểm toán và HOSE trong thời gian từ năm 2014 đến (Mohamad-Nor và cộng sự, 2010). Trên cơ năm 2018, các công ty này đều có đầy đủ sở kế thừa các nghiên cứu trước thì bài viết dữ liệu về các chỉ số cho việc kiểm định phân tích ảnh hưởng của chất lượng kiểm mô hình, tương đương 585 quan sát trong toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm 5 năm. yết tại Việt Nam giai đoạn 2014-2018 với kỳ vọng sẽ có mối tương quan thuận chiều 3.2. Mô hình và phương pháp nghiên cứu giữa quy mô và danh tiếng công ty kiểm toán với giá thị trường cổ phiếu và các yếu ○○ Mô hình nghiên cứu tố nhiệm kỳ kiểm toán viên và độ trễ báo cáo tài chính được kiểm toán là tương quan Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa ngược chiều. Các yếu tố như giá phí kiểm biến nhằm kiểm định ảnh hưởng của chất toán hay mức độ chuyên sâu của kiểm toán lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các viên không được nghiên cứu sử dụng trong doanh nghiệp niêm yết trên thị trường mô hình vì rất khó để thu thập tại Việt Nam. chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014- 2018. Các biến trong mô hình được tổng 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu hợp dựa trên các nghiên cứu của Chaney và Philipich (2002), Callen và Fang (2011), 3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu Hoti và cộng sự (2012) và căn cứ vào thực tế thông tin thu thập được tại Việt Nam, mô Mẫu nghiên cứu ban đầu được sử dụng trong hình được xây dựng như sau: mô hình kiểm định mức độ ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán đến giá cổ phiếu của MPSi,t = β0 + β1BIG4i,t + β2ATi,t + β3AFTi,t các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường + β4ALi,t + β5GWTHi,t + β6SIZEi,t + chứng khoán Việt Nam là các doanh nghiệp β7LEVi,t + β8EPSi,t + β9BVPSi,t + ei,t niêm yết hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 2014- 2018, nhưng Trong đó: không bao gồm các doanh nghiệp niêm yết thuộc ngành tài chính như ngân hàng, bảo i: là công ty lấy mẫu hiểm hay dịch vụ tài chính, bởi các công ty này về tính chất, hoạt động đều có sự khác t: là thời gian tính theo năm tài chính của biệt so với hệ thống các công ty trong các doanh nghiệp ngành còn lại. Ngoài ra, các doanh nghiệp không có đầy đủ dữ liệu theo yêu cầu chọn e: sai số do biến ngẫu nhiên mẫu của phương pháp nghiên cứu (theo mô hình đề xuất tại mục 3.2 dưới đây) cũng sẽ Chất lượng kiểm toán được đo lường bằng bị loại bỏ. Nguồn dữ liệu nghiên cứu được các biến BIG4, AT, AFT và AL nhóm tác giả thu thập chủ yếu từ báo cáo tài chính và các thông tin công bố khác thông Các biến kiểm soát trong mô hình bao gồm: Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 63
  6. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam GWTH, SIZE, LEV, EPS và BVPS viên không duy trì được thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong cuộc kiểm toán một cách MPS: Giá thị trường trên mỗi cổ phiếu đúng mức, dẫn đến làm giảm tính khách được đo lường bằng công thức tính: Giá quan và trung thực của báo cáo tài chính thị trường mỗi cổ phiếu = P/E*EPS tại thời và mất niềm tin của các nhà đầu tư, do vậy điểm cuối năm tài chính. mà giá cổ phiếu có xu hướng giảm. Do đó, nghiên cứu kì vọng dấu tương âm giữa 2 BIG4: Đại diện cho quy mô và danh tiếng biến MPS và AT. của công ty kiếm toán. Tại thị trường kiểm toán Việt Nam hiện nay, có 4 công ty kiểm AFT: Đại diện cho nhiệm kỳ của công ty toán có quy mô và doanh thu lớn nhất bao kiểm toán hay nói cách khác là thay đổi gồm PwC, E&Y, Deloitte và KPMG. Biến công ty kiểm toán trong các cuộc kiểm BIG 4 được đo lường bằng cách nếu trong toán. Nếu doanh nghiệp niêm yết tiến hành năm tài chính t, doanh nghiệp được kiểm đổi công ty kiểm toán trong năm tài chính toán bởi công ty kiểm toán thuộc BIG4 thì sau đó, biến sẽ mang giá trị “1” và ngược lại sẽ có giá trị là “1” và ngược lại sẽ mang giá nếu công ty kiểm toán tiến hành cuộc kiểm trị “0”. Nghiên cứu của Lindberg (2001) toán liên tiếp 2 năm liền, biến sẽ nhận giá đều chỉ ra rằng do có sự tín nhiệm hơn đối trị “0”. Theo Omri và Abdennebi (2014), với các công ty kiểm toán lớn nên các công nếu công ty kiểm toán có nhiệm kỳ càng ty kiểm toán này thường được coi là sẽ có lâu với khách hàng, sẽ gia tăng mức độ thân báo cáo kiểm toán chính xác và đáng tin cậy thiết từ đó làm mất tính khách quan, độc hơn. Các nhà đầu tư cũng sẽ có xu hướng lập của kiểm toán. Do vậy, nghiên cứu kì đầu tư vào công ty có báo cáo kiểm toán vọng tương quan nghịch giữa 2 biến MPS chất lượng, dẫn tới giá cổ phiếu có xu hướng và AFT. tăng. Do đó, nghiên cứu kì vọng dấu tương quan dương giữa 2 biến MPS và BIG4. AL: Đại diện cho độ chậm trễ của công ty kiểm toán trong việc phát hành báo cáo AT: Đại diện cho nhiệm kỳ kiểm toán viên kiểm toán, được đo lường bằng số ngày hay được hiểu là thay đổi kiểm toán viên chậm tính từ lúc hết hạn công bố phát trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật SOX tại hành kiểm toán vào ngày 31/3 hàng năm, Mỹ quy định kiểm toán viên sẽ không được nếu thời điểm phát hành báo cáo sau 31/3, coi là độc lập nếu họ thực hiện kiểm toán biến sẽ mang giá trị “0” và ngược lại. Theo liên tiếp cho cùng một khách hàng trong Mohamad-Nor và cộng sự (2010), việc bốn năm. Ngoài ra, tại Điều 16 Nghị định chậm trễ trong công bố thông tin tài chính 17/2012/NĐ-CP quy định như sau: “Kiểm đã kiểm toán và ý kiến của kiểm toán viên toán viên hành nghề không được ký báo về thông tin của doanh nghiệp sẽ làm các cáo kiểm toán cho một đơn vị được kiểm nhà đầu tư không chắc chắn trong việc ra toán quá ba (03) năm liên tục”. Vì vậy, các quyết định đầu tư, do đó có tác động biến AT được đo lường bằng cách nếu độ tiêu cực đến giá cổ phiếu. Vì vậy, nghiên dài nhiệm kỳ kiểm toán viên với cùng một cứu kì vọng tương quan nghịch giữa 2 biến khách hàng lớn hơn 3 năm sẽ nhận giá trị AL và MPS. “0” và ngược lại nhỏ hơn 3 năm sẽ nhận giá trị “1”. Sự thân thiết của kiểm toán viên GWTH: Đại diện cho triển vọng tăng trưởng đối với khách hàng sẽ khiến cho kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết trong tương 64 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  7. NGUYỄN THỊ HOA HỒNG - NGUYỄN TIẾN ĐẠT - NGUYỄN ĐẮC ĐẠT lai được đo lường bằng công thức: “GWTH nghiên cứu kì vọng có mối tương quan = Giá trị thị trường mỗi cổ phiếu (MPS)/ thuận chiều giữa 2 biến SIZE và MPS. Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu (BVPS)”. Theo Gumanti và cộng LEV: Đại diện cho đòn bảy tài chính của sự (2015), triển vọng tăng trưởng của một các doanh nghiệp niêm yết, được tính bằng doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư nhận công thức: “LEV = Tổng nợ/ Tổng vốn định và phán đoán về kết quả kinh doanh chủ sở hữu”. Chỉ số đòn bảy tài chính cho trong tương lai, từ đó đưa ra được các quyết thấy được tỷ lệ của tổng các khoản vay, dư định đầu tư hiệu quả, vì vậy nếu chỉ số này nợ của một doanh nghiệp so với tổng tài càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng có sản. Tùy vào lĩnh vực hoạt động của doanh tiềm năng tăng trưởng và phát triển, dẫn nghiệp để đánh giá chỉ số này cao hay thấp đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ có có ý nghĩa tốt hay xấu, nhưng xét về tổng những biến động tích cực. Do vậy, nghiên thể, nếu chỉ số đòn bẩy tài chính quá cao cứu kì vọng tương quan dương giữa 2 biến sẽ gây nên áp lực về tài chính đối với chủ MPS và GWTH. doanh nghiệp, dẫn đến khả năng phá sản cao. Các nhà đầu tư quan tâm đến chỉ số SIZE: Đại diện cho quy mô của công đòn bảy tài chính để đánh giá lợi nhuận ty được kiểm toán, được đo lường bằng kì vọng trong tương lại của doanh nghiệp logarit tự nhiên của tổng tài sản doanh đó (Gumanti và cộng sự, 2015). Do vậy, nghiệp. Theo Ugwunta và cộng sự (2018), nghiên cứu kì vọng có mối tương quan các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì ngược chiều giữa 2 biến LEV và MPS. càng nhận được niềm tin đến từ các nhà đầu tư và cổ đông, ngoài ra công ty lớn có khả EPS: Được tính bằng công thức: “EPS = năng cạnh tranh tốt hơn các công ty có quy (Thu nhập ròng- Cổ tức ưu đãi)/ Lượng cổ mô nhỏ trong cùng một ngành, theo đó các phiếu bình quân đang lưu hành”. EPS được doanh nghiệp niêm yết lớn trên thị trường coi là một trong những biến số quan trọng chứng khoán thường có giá cổ phiếu cao trong việc tính toán giá cổ phiếu. Các nhà hơn so với các doanh nghiệp khác. Vì vậy, đầu tư sẽ đánh giá chỉ số EPS đầu tiên khi Bảng 1. Tổng hợp các dấu kỳ vọng của các biến độc lập Biến độc lập Giải thích biến Dấu kỳ vọng BIG4 Quy mô và danh tiếng công ty kiểm toán + AT Nhiệm kỳ kiểm toán viên - AFT Nhiệm kỳ công ty kiểm toán - AL Độ trễ phát hành báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán - GWTH Triển vọng tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết + SIZE Quy mô doanh nghiệp niêm yết + LEV Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp niêm yết - EPS Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu + BVPS Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu + Trong đó: +: tương quan thuận chiều;-: tương quan nghịch chiều Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 65
  8. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đưa ra quyết định đầu tư mua cổ phiếu của hóa các tác động của biến độc lập (BIG4, các doanh nghiệp niêm yết, EPS càng cao AT, AFT, AL, GWTH, SIZE, LEV, EPS thì mức lợi nhuận thu được từ đầu tư càng và BVPS) lên biến phụ thuộc (MPS) trong lớn (Gumanti và cộng sự, 2015). Vì vậy, mô hình. nghiên cứu kì vọng dấu tương quan dương giữa 2 biến EPS và MPS. Đầu tiên, nghiên cứu tiến hành thực hiện hồi quy theo 3 phương pháp phổ biến trên BVPS: Đại diện cho giá trị sổ sách của vốn dữ liệu mẫu đã thu thập được bao gồm: hồi chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu và được tính quy theo phương pháp bình phương thông bằng công thức: “BVPS = Tổng giá trị vốn thường nhỏ nhất (Pooled OLS); hồi quy tác chủ sở hữu/ Tổng số cổ phiếu thường đang động cố định (FEM) và hồi quy tác động lưu hành”. Chỉ số này thường được các cổ ngẫu nhiên (REM). đông đánh giá để xem giá trị mà mình nhận được trong trường hợp công ty bị phá sản Sau đó, để có thể lựa chọn được phương hoặc các tài sản của doanh nghiệp được pháp nào phù hợp nhất với mô hình, nghiên thanh lý. Chỉ số này cao sẽ làm giảm rủi cứu thực hiện các kiểm định như sau: Kiểm ro của các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định định F để lựa giữa 2 mô hình là Pooled đầu tư vào một doanh nghiệp dẫn đến giá OLS và mô hình FEM. Tiếp theo đó, tiến cổ phiếu sẽ cao tương ứng (Gumanti và hành kiểm định Hausman để lựa chọn giữa cộng sự, 2015). Do vậy, nghiên cứu kì vọng 2 mô hình hồi quy tác động cố định FEM mối tương quan thuận giữa 2 biến MPS và và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên BVPS. REM. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành thêm kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, ○○ Phương pháp nghiên cứu hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, qua đó lượng 4. Kết quả nghiên cứu Bảng 2. Tóm tắt các đặc điểm của các biến trong mô hình hồi quy Giá trị trung Giá trị nhỏ Giá trị lớn Biến Số lượng mẫu Độ lệch chuẩn bình nhất nhất MPS 585 30,509 28,427 5,4 223 BIG4 585 0,078 0,269 0 1 AT 585 0,868 0,338 0 1 AFT 585 0,904 0,294 0 1 AL 585 0.803 0,397 0 1 GWTH 585 1,413 1,112 0,225 12,370 SIZE 585 20,351 1,558 16,771 24,848 LEV 585 44,925 18,865 4,282 89,428 EPS 585 3,307 2,933 -1,440 36,570 BVPS 585 21,629 10,807 10,140 94,830 Nguồn: Nhóm tác giả tự tính toán bằng phần mềm Stata 14 66 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  9. NGUYỄN THỊ HOA HỒNG - NGUYỄN TIẾN ĐẠT - NGUYỄN ĐẮC ĐẠT Bảng 2 dưới đây trình bày đặc điểm của các lập là 0,77 giữa giá thị trường mỗi cổ phiếu biến trong mô hình hồi quy. (MPS) và triển vọng tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết trong tương lai Từ Bảng 2 cho thấy đặc điểm của một số (GWTH).Kết quả kiểm định ảnh hưởng của biến: giá trị trung bình của biến BIG4 là chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của 0,078 cho thấy khá ít các công ty chọn làm các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt mẫu được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Nam giai đoạn 2014 - 2018 được trình bày Big4. Có khoảng gần 86,8% các công ty ở Bảng 4. được kiểm toán 3 năm liên tiếp bởi một công ty kiểm toán (biến AT). Giá trị thị Kết quả kiểm định white cho thấy mô hình trường mỗi cổ phiếu có sự chênh lệch lớn sử dụng phương pháp bình phương thông ở mức giá từ 5.400 đồng cho đến 223.000 thường nhỏ nhất (Pooled OLS) có xảy ra đồng, cho thấy sự biến động về giá cổ hiện tượng phương sai của sai số thay đổi phiếu trên TTCK là rất lớn. Thu nhập trên ở mức ý nghĩa 1%, do vậy mô hình hồi một cổ phiếu có giá trị thấp nhất âm, chứng quy OLS tỏ ra không phù hợp với mô hình tỏ trong mẫu nghiên cứu có công ty niêm nghiên cứu. yết trên thị trường có hoạt động kinh doanh không tốt. Theo đó, cần dùng kiểm định Hausman để so sánh giữa 2 mô hình FEM và REM chọn Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét đến ra mô hình phù hợp hơn. Kết quả kiểm sự tương quan giữa các biến trong mô hình định Hausman thấy rằng chi2 (9) = 104,73 ở Bảng 3 dưới đây. và Prob > chi2 = 0,000, có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Do mức ý nghĩa kiểm định Có thể thấy rằng, các biến độc lập đều có Hausman nhỏ hơn 5%, mô hình hồi quy hệ số tương quan dương với biến phụ thuộc tác động cố định (FEM) là phù hợp nhất để MPS, chỉ có biến đòn bẩy tài chính (LEV) đánh giá tác động của các biến độc lập. có hệ số tương quan âm. Hệ số tương quan lớn nhất giữa biến phụ thuộc và biến độc R2 = 0,9289 có ý nghĩa thống kê cho thấy Bảng 3. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình MPS BIG4 AT AFT AL GWTH SIZE LEV EPS BVPS MPS 1,000 BIG4 0,192 1,000 AT 0,031 -0,114 1,000 AFT 0,180 0,019 0,015 1,000 AL 0,050 0,251 -0,003 0,042 1,000 GWTH 0,774 0,112 0,039 0,145 0,040 1,000 SIZE 0,210 0,043 -0,103 0,491 0,069 0,155 1,000 LEV -0,201 -0,160 -0,010 0,039 0,001 -0,252 0,300 1,000 EPS 0,750 0,172 0,030 0,021 0,085 0,382 0,102 -0,065 1,000 BVPS 0,553 0,137 0,070 0,087 0,039 -0,006 0,145 -0,026 0,709 1,000 Nguồn: Nhóm tác giả tự tính toán bằng phần mềm Stata 14 Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 67
  10. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Bảng 4. Kết quả mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014- 2018 MPS Hệ số hồi quy Dấu kỳ Biến độc lập Pooled OLS FEM REM vọng Hằng số -3,780 -20,070 0,071 15,210 13,620 11,420 BIG4 + (6,15)*** (5,74)*** (6,50)*** -4,011 -3,362 -6,145 AT - (-2,18)** (-1,98)** (-2,08)*** -4,803 -4,089 -5,016 AFT - (-1,84)* (-1,77)* (-1,96)*** -4,670 -0,864 -4,603 AL - (-3,73)*** (-0,68) (-2,23)*** 13,420 16,410 14,540 GWTH + (30,62)*** (26,37)*** (29,68)*** 0,132 -0,062 0,076 SIZE + (0,68) (-0,16) (-0,08) -0,003 -0,007 -0,002 LEV - (-0,20) (-0,32) (0,02) 1,500 0,781 0,802 EPS + (9,22)*** (4,05)*** (7,65)*** 0,841 1,509 0,860 BVPS + (18,27)*** (18,88)*** (18,67)*** F (9, 585) = 1090,84 F (9 ,459) = 390,75 Wald chi2(9) = 6759,91 F- test Prob > F = 0,000*** Prob > F = 0,000*** Prob > chi2 = 0,000*** R2 hiệu 0,9438 0,9289 0,9435 chỉnh Kiểm định chi2(9) = 104,73 Hausman Prob>chi2 = 0,000*** Nguồn: Nhóm tác giả tự tính toán bằng phần mềm Stata 14 Ghi chú: *, ** và *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1% các biến độc lập giải thích được tới 92,89% 3,362*ATi,t - 4,089*AFTi,t - 0,864*ALi,t biến độc lập trong mô hình FEM. + 16,410*GWTHi,t - 0,062*SIZEi,t - 0,007*LEVi,t + 0,781*EPSi,t + Phương trình hồi quy được trình bày như sau: 1,509*BVPSi,t + ei,t MPSi,t = -20,070 + 13,620*BIG4i,t- Kết quả từ Bảng 4 cũng cho thấy các biến 68 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  11. NGUYỄN THỊ HOA HỒNG - NGUYỄN TIẾN ĐẠT - NGUYỄN ĐẮC ĐẠT đại diện cho chất lượng kiểm toán như công ty kiểm toán có quy mô và danh tiếng BIG4, AT, AFT đều có tác động đến giá thị càng lớn thì có chất lượng kiểm toán càng trường trên mỗi cổ phiếu, tuy nhiên nghiên cao, qua đó được các nhà đầu tư đánh giá cứu lại chưa chứng minh được mối quan hệ có triển vọng và giá cổ phiếu kéo theo cũng giữa độ trễ trong việc phát hành báo cáo tài tăng. chính đã kiểm toán đến giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chưa tìm được ○○ Biến AT bằng chứng cho thấy mức độ tác động của các biến kiểm soát như: Đòn bẩy tài Biến AT đại diện cho nhiệm kỳ kiểm toán chính (LEV), Quy mô công ty được kiểm viên có mối tương quan ngược chiều với toán (SIZE) đến việc tăng hay giảm giá thị biến MPS- giá thị trường mỗi cổ phiếu đồng trường mỗi cổ phiếu. Riêng đối với biến độ nhất với dấu tương quan kỳ vọng ban đầu chậm trễ của công ty kiểm toán trong việc và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Nhiệm phát hành báo cáo kiểm toán mặc dù kết kỳ kiểm toán viên càng dài thì tính độc lập quả không có ý nghĩa thống kê nhưng hệ và khách quan của kiểm toán viên sẽ càng số thể hiện tương quan ngược chiều đồng giảm và thậm chí có thể dẫn đến việc kiểm nhất với kỳ vọng ban đầu. Điều này cho toán viên hỗ trợ khách hàng tích cực hơn thấy việc cung cấp thông tin nhanh chậm trong việc áp dụng các lựa chọn kế toán mà cũng là một trong những yếu tố tác động những chính sách kế toán này không phù đến việc ra quyết định của nhà đầu tư, từ đó hợp với các chuẩn mực kế toán. Điều này có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu có thể dẫn tới việc không phát hiện được trên TTCK tại Việt Nam. các gian lận hoặc sai sót trọng yếu, gây ra những thiệt hại về mặt kinh tế cho các đối ○○ Biến BIG4 tượng sử dụng thông tin tài chính đã được kiểm toán, đặc biệt là các cổ đông và các Biến BIG4 đại diện cho quy mô và danh nhà đầu tư. Kết quả nghiên cứu từ phương tiếng của công ty kiểm toán có mối tương pháp FEM cho thấy cứ một kiểm toán viên quan thuận chiều với biến MPS- giá thị được kiểm toán 3 năm liên tiếp trở lên thì trường cho mỗi cổ phiếu ở mức ý nghĩa giá cổ phiếu trên thị trường của công ty đó 1% đúng với kì vọng dấu tương quan ban sẽ giảm 3,362 đơn vị do tương quan ngược đầu của nhóm tác giả cũng như nghiên cứu chiều. của Lindberg (2001). Kết quả nghiên cứu cho thấy cứ một công ty niêm yết trên hai ○○ Biến AFT sàn HOSE và HNX được kiểm toán bởi một công ty Big4 thì giá cổ phiếu trên thị Biến AFT đại diện cho nhiệm kỳ của công trường của công ty đó tăng 13,620 đơn ty kiểm toán hay chính là sự thay đổi công vị. Điều này chứng minh rằng, chất lượng ty kiểm toán trong các cuộc kiểm toán từ kiểm toán tăng đồng nghĩa với việc giá cổ kết quả nghiên cứu cho thấy có tương quan phiếu sẽ tăng. Có thể thấy xét trên hai khía nghịch với giá thị trường của cổ phiếu ở cạnh liên quan đến uy tín và trách nhiệm mức ý nghĩa 5%. Có thể thấy, cứ một công pháp lý của công ty kiểm toán thì công ty ty kiểm toán được kiểm toán 2 năm liên kiểm toán quy mô và danh tiếng càng lớn tiếp cho cùng một doanh nghiệp niêm yết thì có khuynh hướng cung cấp chất lượng trên TTCK Việt Nam thì giá cổ phiếu trên dịch vụ càng cao hơn. Nói cách khác, các thị trường của doanh nghiệp đó sẽ bị giảm Số 221- Tháng 10. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 69
  12. Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 4,089 đơn vị. Rõ ràng rằng nếu một công ty doanh nghiệp tăng theo. kiểm toán được kiểm toán cho một doanh nghiệp trong nhiều năm liền có thể dẫn tới 5. Kết luận tính độc lập và khách quan của báo cáo kiểm toán bị giảm do chỉ đạo của Ban lãnh Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chất đạo cấp cao các công ty kiểm toán muốn lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt trung thành. Nam trên mẫu nghiên cứu là 117 công ty niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HNX và Mặt khác, kết quả từ mô hình cũng cho HOSE với 585 quan sát trong giai đoạn thấy các biến GWTH, EPS, BVSP đại diện 2014 - 2018. cho đặc điểm của doanh nghiệp có tác động cùng chiều lên giá cổ phiếu qua biến phụ Bằng việc thực hiện hồi quy theo 3 phương thuộc MPS ở mức ý nghĩa rất cao 1%, đúng pháp phổ biến trên dữ liệu mẫu đã thu với dấu kỳ vọng. Điều này cho thấy, triển thập được bao gồm: hồi quy theo phương vọng tăng trưởng công ty tốt, lợi nhuận và pháp bình phương thông thường nhỏ nhất giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên mỗi (Pooled OLS); Hồi quy tác động cố định cổ phiếu tăng sẽ thúc đẩy giá cổ phiếu của xem tiếp trang 84 Tài liệu tham khảo 1. Al-Thuneibat, A. A., Al Issa, R. T. I. & Baker, R. A. A. (2011), ‘Do audit tenure and firm size contribute to audit quality? Empirical evidence from Jordan’, Managerial Auditing Journal, 23(1), 84-101. 2. Bạch Đức Hiển, 2008, Giáo trình Thị trường chứng khoán, NXB Tài chính, Hà Nội. 3. Callen, J. L. & Fang, X. (2011), ‘Institutional Investors and Crash Risk: Monitoring or Expropriation?’, Working paper, available at SSRN: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1804697. 4. Chaney, P. K. & Philipich, K. L. (2002), ‘Shredded Reputation: The Cost of Audit Failure’, Journal of Accounting Research, 40(4), 1221-1245. 5. DeAngelo, L. E. (1981), ‘Auditor size and audit quality’, Journal of Accounting and Economics, 3(3), 183-199. 6. Gumanti, T. A., Nastiti, A. S., Utami, E. S. & Manik, E. (2015), ‘Audit Quality and Earnings Management in Indonesian Initial Public Offerings’, Mediterranean Journal of Social Sciences, 6(5), 223-229. 7. Hoti, A. H., Ismajli, H., Ahmeti, S. & Dermaku, A. (2012), ‘Effects of Audit Opinion on Stock Prices: The Case of Croatia and Slovenia’, EuroEconomica, 2(31), 75-87. 8. Hussainey, K. (2009), ‘The impact of Audit Quality on Earnings Predictability’, Managerial Auditing Journal, 24(4), 340-351. 9. Jensen, M. C & Meckling, W. H. (1976), ‘Theory of the Firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure’, Journal of Financial Economics, 3(4), 355-375. 10. Khajavi, S. & Zare, A. (2016), ‘The effect of audit quality on stock crash risk in Tehran Stock Exchange’, International Journal of Economics and Financial Issues, 6(1), 20-25. 11. Kim, J. B. & Zhang, L. (2015), ‘Accounting conservatism and stock price crash risk: Firm-level evidence’, Contemporary Accounting Research, 32(2), 1-31. 12. Lindberg, D. L. (2001), ‘Discussion of the demand for auditor reputation across international markets for audit services’, The International Journal of Accounting, 36, 429-432. 13. Mohamad-Nor, M. N., Shafie, R. & Wan-Hussin, W. N. (2010), ‘Corporate Governance and Audit Report Lag in Malaysia’, Asian Academy of Management Journal of Accounting and Finance, 6(2), 57-84. 14. Omri, M. A. & Abdennebi, A. B. (2014), ‘Audit firm rotation and audit quality: case of the listed Tunisian firms’, International Journal of Economics and Business Research, 8(3), 245-257. 15. Ugwanta, D. O., Ugwuanyi, B. U. & Ngwa, C. U. (2018), ‘Effect of audit quality on market price of firms listed on the Nigerian stock market’, Journal of Accounting and Taxation, 10(6), 61-70. 16. Watts, R. L. (1998), ‘A review of agency problems, auditing and theory of the firm’, Journal of Law and Economics, 26(3), 567-587. 17. http://cafef.vn và https://www.vndirect.com.vn/, truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018 70 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
  13. Chương trình giáo dục tài chính quốc gia trong bối cảnh số hoá ngành Tài chính: Kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam doanh nghiệp khởi nghiệp’, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Thúc đẩy tiếp cận tài chính tại Việt Nam, Tập 1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 21. Vietnam Fintech Report 2018, Military Bank Security (MBS). 22. World Bank (2013), Global survey on consumer protection and financial literacy. 23. World Bank’s Global Findex Data 2014; World Bank’s Global Findex Data 2017. 24. Yen Thi Hai Nguyen (2017), ‘Evaluate Financial Literacy of Vietnamese Students in Higher Education and Its Determinants- The need of Financial Education’, Conference Papers – VEAM 2017. 25. Yoshino, Nayuki, Morgan, Peter, & Wignaraja, Ganeshan (2015), ‘Financial Education in Asia: Assessment and Recommendations’, ADBI Working Paper Series No. 534. 26. Yoshino, Nayuki, Morgan, Peter, & Trinh, Q.L. (2017), ‘Financial Literacy in Japan: Determimants and Impacts’, ADBI Working Paper 796. 27. http://tccn.ueb.edu.vn/Page-4/Su-menh.html; 28. https://www.youtube.com/watch?v=R55kRHo5Ba0&t=39s; 29. https://vinschool.edu.vn/news_event/vinschool-dua-giao-duc-tu-duy-tai-chinh-va-khoi-nghiep-vao-chuong-trinh- chinh-khoa-2/; 30. https://www.fintechnews.org tiếp theo trang 70 dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp mình (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên bằng cách nâng cao trình độ chuyên môn (REM) và các kiểm định để lựa chọn ra của các kiểm toán viên. Các cơ quan quản phương pháp phù hợp nhất, kết quả nghiên lý chức năng cũng cần đưa ra những biện cứu cho thấy ảnh hưởng đáng kể của chất pháp giám sát chặt chẽ để nâng cao chất lượng kiểm toán lên giá cổ phiếu của các lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam và công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam từ áp dụng các chế tài xử phạt có tính răn đe năm 2014 đến năm 2018. Nghiên cứu đã để đảm bảo tính minh bạch, công bằng trên chỉ ra quy mô, danh tiếng của công ty kiểm thị trường chứng khoán. toán và việc thay đổi kiểm toán viên trong các cuộc kiểm toán có ảnh hưởng lớn tới Hạn chế của nghiên cứu là chưa bao quát biến động giá của cổ phiếu trên TTCK tại các nhân tố, trong đó có mức độ chuyên sâu Việt Nam được đo lường bởi chỉ số giá thị về từng lĩnh vực ngành nghề của kiểm toán trường trên mỗi cổ phiếu (MPS). Ngoài ra, viên như một thước đo quan trọng cho chất việc luân chuyển các công ty kiểm toán lượng kiểm toán tới giá cổ phiếu trong các cũng có tác động đến giá thị trường mỗi doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Hạn cổ phiếu. Vì vậy, việc thay đổi kiểm toán chế này sẽ là gợi ý cho các hướng nghiên viên thường xuyên sẽ góp phần làm giảm cứu tiếp theo trong tương lai ■ sự thân thiết của kiểm toán viên đối với khách hàng kiểm toán, từ đó tăng thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính khách quan độc lập trong số liệu của báo cáo kiểm toán, dẫn đến thông tin tài chính có chất lượng hơn cho các nhà đầu tư. Mặt khác, các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn các công ty kiểm toán có quy mô và uy tín lớn trên thị trường để thực hiện dịch vụ kiểm toán. Các công ty kiểm toán cần có những chính sách nâng cao chất lượng 84 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 221- Tháng 10. 2020
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2