intTypePromotion=1

Bài giảng Tài chính tiền tệ - Chương 2: Ngân hàng nhà nước

Chia sẻ: Estupendo Estupendo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:44

0
133
lượt xem
4
download

Bài giảng Tài chính tiền tệ - Chương 2: Ngân hàng nhà nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Về mặt tổng thể chương 2 muốn cung cấp các kiến thức nền tảng về ngân hàng nhà nước trên cơ sở ngân hàng nhà nước là một nguồn quỹ quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính. Người học nắm được các nội dung lý thuyết về bản chất ngân sách nhà nước, việc phân cấp và quản lý hệ thống ngân hàng nhà nước, và vai trò quan trọng của ngân hàng nhà nước trong nền kinh tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Tài chính tiền tệ - Chương 2: Ngân hàng nhà nước

  1. CHƯƠNG 2. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Mục tiêu học tập của chương Mục tiêu kiến thức: Về mặt tổng thể chương 2 muốn cung cấp các kiến thức nền tảng về NSNN trên cơ sở NSNN là một nguồn quỹ quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính. Người học nắm được các nội dung lý thuyết về bản chất Ngân sách nhà nước (NSNN), việc phân cấp và quản lý hệ thống NSNN, và vai trò quan trọng của NSNN trong nền kinh tế. Thêm vào đó, người học nắm được các hoạt động thu chi kèm theo các nguyên tắc thu chi tương ứng và việc phân định thu chi giữa các cấp ngân sách. Cuối cùng người học cũng cần nắm được về chu trình ngân sách qua các giai đoạn khác nhau. Về mặt kỹ năng: Sinh viên sẽ phân tích một số tình huống kinh tế liên quan tới một số khái niệm của bài học và phân tích số liệu về ngân sách Việt Nam để làm rõ nội dung đang học.
  2. NỘI DUNG CHƯƠNG 2 Bài đọc 1 ......................................................................................................................................... 4 Bài đọc 2 ......................................................................................................................................... 5 I. Khái quát chung về NSNN .......................................................................................................... 7 1. Khái niệm NSNN .................................................................................................................... 7 2. Vai trò của NSNN ................................................................................................................... 8 3. Những nguyên tắc cơ bản quản lý NSNN ............................................................................. 10 4. Phương pháp quản lý NSNN ................................................................................................. 11 4.1. Phương pháp quản lý thường .......................................................................................... 11 4.2. Phương pháp tài khóa ..................................................................................................... 12 4.3. Phương pháp kết hợp ...................................................................................................... 13 II. Hệ thống NSNN ....................................................................................................................... 14 1. Khái niệm và nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN ............................................................... 14 2. Mô hình cơ bản của hệ thống NSNN .................................................................................... 15 3. Khái niệm và nguyên tắc phân cấp NSNN ............................................................................ 15 III. Thu NSNN .............................................................................................................................. 16 1. Khái niệm và đặc điểm .......................................................................................................... 16 2. Nguyên tắc thu NSNN........................................................................................................... 16 3. Nội dung các khoản thu NSNN ............................................................................................. 17 3.1. Thu từ thuế...................................................................................................................... 17 3.2. Thu từ phí, lệ phí ............................................................................................................ 21 3.3. Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước .......................................................................... 23 3.4. Thu từ hoạt động sự nghiệp: ........................................................................................... 23 3.5. Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước: ........................... 24 3.6. Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: ........................................................................... 24 3.7. Vay nợ: ........................................................................................................................... 24 4. Phân định nguồn thu giữa các cấp NSNN ............................................................................. 26 IV. Chi ngân sách nhà nước .......................................................................................................... 27 1. Khái niệm, đặc điểm.............................................................................................................. 27 2. Nguyên tắc và điều kiện chi NSNN ...................................................................................... 28 3. Nội dung các khoản chi NSNN ............................................................................................. 28 3.1. Chi thường xuyên ........................................................................................................... 28
  3. 3.2. Chi đầu tư phát triển ....................................................................................................... 30 3.3. Chi trả nợ ........................................................................................................................ 31 4. Phân định chi giữa các cấp NS ................................................................................................. 32 V. Cân đối ngân sách Nhà nước ................................................................................................... 33 1. Khái niệm cân đối NSNN...................................................................................................... 33 2. Nguyên tắc cân đối NSNN .................................................................................................... 33 3. Xử lý bội chi NSNN .............................................................................................................. 34 VI. Chu trình NSNN ..................................................................................................................... 35 1. Lập và phê chuẩn NSNN....................................................................................................... 36 2. Chấp hành NSNN .................................................................................................................. 37 3. Quyết toán NSNN ................................................................................................................. 38 Thảo luận tình huống .................................................................................................................... 39 Câu hỏi ôn tập ............................................................................................................................... 40 Câu hỏi trắc nghiệm ...................................................................................................................... 41
  4. Bài đọc 1 Quốc gia vỡ nợ Quốc gia vỡ nợ khi nó không trả nợ được nữa. Khi chuyện này sảy ra thì lãi mẹ đẻ lãi con. Tính toán của hai nhà kinh tế Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff cho thấy bình quân các quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng chất chồng thêm khoảng 86% nợ nần, trong khi tổng thu quốc gia giảm trung bình 2% trong năm tiếp theo của khủng hoảng. Tình trạng này thường diễn ra vào những chu kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính, như chuyện xảy ra cho các quốc gia Mỹ Latinh vào những năm cuối thập niên 80. Khi tình hình tài chính một quốc gia đi xuống, như đã xảy ra với Argentina hay Hy Lạp, các nhà đầu tư nước ngoài bán trái phiếu để tháo chạy, tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao. Điều này kéo theo sự mất giá của đồng tiền, càng khiến cho quốc gia đó khó trả nợ hơn. Điều gì sảy ra nếu Mỹ vỡ nợ Thật khó có thể tưởng tượng sự hỗn loạn của nền kinh tế thế giới nếu nước Mỹ vỡ nợ., đồng USD sụt giảm, giá vàng tăng vọt, các nhà đầu tư hoảng loạn, chứng khoán thế giới lao dốc, nhiều tổ chức tài chính nguy cơ sụp đổ và có thể châm ngòi cho một cuộc suy thoái toàn cầu. Không chỉ bản thân Mỹ mà các nền kinh tế khác cũng có thể bị ảnh hưởng nếu Chính phủ Mỹ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Trung Quốc cảm thấy lo ngại về khoản tiền hơn 1.300 tỉ USD mà họ đầu tư ở Mỹ. Mặc dù có khối lượng đầu tư vào nền kinh tế Mỹ kém Trung Quốc, nhưng Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng nặng hơn Bắc Kinh nếu Mỹ phá sản. Nhật giữ khối lượng trái phiếu kho bạc Mỹ trị giá 1,1 nghìn tỉ USD. Nguyên nhân nào dẫn tới vỡ nợ quốc gia Một nền tài chính quốc gia hoàn hảo được biểu hiện ở chỗ mọi khoản chi tiêu của chính phủ sẽ được bù đắp hoàn toàn từ thu thuế và đầu tư. Nhưng hầu như không có quốc gia thực hiện được công việc hoàn hảo đó. Quốc gia nào cũng phải bù đắp các chi tiêu bằng cách vay nợ và đưa ra lời hứa trả nợ cộng với lãi. Việc vay nợ được thực hiện dưới hình thức bán trái phiếu hoặc vay nợ trực tiếp từ nước ngoài…Nhưng rất nhiều quốc gia đã không thực hiện được lời hứa đó khi nền kinh tế trong nước đi xuống, khi hệ thống quản lý nhà nước thiếu hiệu quả và phình to, khi xuất hiện tình trạng tham nhũng tràn lan, các hoạt động chi tiêu ngân sách không thể kiểm soát nổi. Khi ấy những nguồn thu để trả nợ bị cạn kiệt và lời hứa trả nợ tan thành bong bóng. Quốc gia vỡ nợ. Vỡ nợ quốc gia có phải là địa ngục cho quốc gia đó? Mặc dù vỡ nợ quốc gia để lại nhiều hậu quả thảm khốc trước mắt thường nhiều quốc gia trên bờ vực khủng hoảng tài chính và vỡ nợ lại có động lực để thay đổi và làm mới hệ thống của nó. Đặng Tiểu Bình bắt đầu công cuộc tự do hóa nền kinh tế Trung Quốc vào năm 1978 khi nước này đối mặt với khủng hoảng ngân sách và tỷ giá hối đoái. Ấn Độ bắt đầu cải cách nền kinh tế của họ vào năm 1991, khi tổng dự trữ ngoại hối chỉ đủ chi trả hai tuần nhập khẩu. Vào năm 1982, Mexico vỡ nợ, kéo theo khủng hoảng kinh tế trên toàn bộ khu vực Mỹ Latinh. Nhưng giới quan sát cho rằng cũng nhờ cuộc khủng hoảng này mà chủ nghĩa độc tài ở khu vực này sụp đổ: ở Argentina giới quân sự nắm quyền bị lật đổ vào năm 1983, còn Brazil thì trở thành một nền dân chủ vào năm 1985... Đôi khi việc tuyên bố vỡ nợ đã làm động lực cho các cải cách ở quốc gia đó và lại trả được nợ, như Nga (1998), Argentina (2001) và một số quốc gia khác. Tuy nhiên một quốc gia vỡ nợ dè sau đó có hồi phục được thì chưa chắc đã phục hồi được niềm tin và uy tín trên thị trường tài chính quốc tế.
  5. Bài đọc 2 Cuộc chiến ngân sách và nợ công trong lòng nước Mỹ Kể từ năm 1976 đến nay, chính phủ Mỹ đã phải “đóng cửa” 18 lần, trong đó, có 4 lần đóng cửa trong vòng 1 ngày. Lần đóng cửa lâu nhất là 21 ngày vào hồi tháng 12/1995, dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Ngày 1/10/2013 vừa qua, thế giới lại một lần nữa tận mắt chứng kiến chính phủ liên bang Mỹ phải đóng cửa vì cạn ngân sách. Trong khi đó, “cuộc chiến nợ công” vẫn đang tiếp diễn giữa hai phe Dân chủ và Cộng hòa, đẩy nền kinh tế Mỹ đến bờ vực “vỡ nợ” và đe dọa nền kinh tế toàn cầu. Cuộc chiến ngân sách và nợ công Nước Mỹ vẫn tự hào về tính minh bạch trong hệ thống tam quyền phân lập của mình. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất từng ngóc ngách liên quan tới đời sống chính trị của Mỹ lại là cả một vấn đề khó khăn. Đây dường như cũng chính là điểm hấp dẫn nhất đối với những ai say mê tìm hiểu về nó. Cuộc chiến ngân sách cũng như nợ công của Mỹ cũng thế. Nó không chỉ có nguyên nhân đơn thuần ở góc độ kinh tế, mà còn là rất nhiều vấn đề chính trị quan trọng còn bị mắc mớ trong trận chiến thẫm màu chính trị giữa hai phe Cộng hòa và Dân chủ. Lần tìm đến bản chất của vấn đề, thì cuộc chiến này lại xuất phát từ quy mô bộ máy tổ chức của chính quyền liên bang. Chi phí để duy trì hoạt động của bộ máy này chiếm tới 1/5 (tương đương với 22%) tổng sản phẩm quốc nội. Trong lúc đó, nợ quốc gia - khoảng 17 ngàn tỷ - giờ đã vượt quá tổng sản lượng kinh tế Mỹ. Có thể nói, tất cả các chương trình hoạt động của chính phủ Mỹ đều là những "máy ngốn tiền" ngân sách liên bang, và là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng nợ nần. Bởi vậy, từ mấy chục năm nay, ngân sách Mỹ bị bội chi liên tục. Chính quyền liên bang phải đi vay bằng việc phát hành trái phiếu, tức là bán “giấy nợ” lấy tiền thanh toán chi tiêu công và lãi vay. Khi chính phủ liên bang đã vay rồi mà vẫn chưa đủ thì phải xin Quốc hội nâng định mức đi vay, gọi là “trần nợ công”. Như vậy, trần nợ công là giới hạn số tiền tối đa chính phủ có thể đi vay mà Quốc hội Mỹ đặt ra. Và, Quốc hội luôn là cơ quan được quyền thiết lập trần nợ quốc gia. Giới hạn hiện tại là 16.699 tỷ USD. Việc nâng trần được thực hiện rất thường xuyên, trung bình hơn một lần mỗi năm. Kể từ năm 1940, các nhà làm luật nước này đã phải nâng trần nợ công 79 lần. Mặc dù vậy, từ nhiều năm qua, nâng trần nợ công luôn là cuộc chiến của các chính trị gia tại Mỹ. Lần gần đây nhất là tháng 8/2011, các nhà làm luật đã mất hàng tháng mới đạt thỏa thuận nâng trần nợ công, chỉ chưa đầy 24 giờ trước khi Mỹ chính thức rơi vào cảnh vỡ nợ. Việc này đã khiến họ lần đầu tiên bị hãng đánh giá tín nhiệm Standard & Poor’s hạ một bậc xếp hạng xuống AA+. Hiện tại, điều kiện để nâng trần nợ công của đảng Cộng hòa là cắt giảm chi tiêu và không cấp vốn hoặc hoãn thực hiện chương trình Obamacare để giảm thâm hụt ngân sách. Trong khi đó, Tổng thống Obama và các nghị sĩ đảng Dân chủ lại không chấp nhận đàm phán nếu có các điều kiện này. Nguồn: CNN
  6. Qua hai bài đọc trên chúng ta thấy việc quản lý NSNN mà trong đó có nợ công đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với một quốc gia. Hai bài đọc trên đã cho thấy những hậu quả khủng khiếp của việc mất cân đối thu chi ngân sách quốc gia. Hơn thế nữa nó có thể trở thành công cụ cho các cuộc đấu đá chính trị giữa các đảng phái cầm quyền ở một số quốc gia. Bài học tại chương này tuy không đi sâu vào việc quản lý cũng như là vận hành hệ thống NSNN nhưng nó cung cấp các kiến thức nền tảng để người học nắm được bản chất của NSNN, hệ thống NSNN, các hoạt động thu chi và các vấn đề liên quan để người học có thể mường tượng được sự vận hành cũng như là vai trò của NSNN trong nền kinh tế.
  7. I. Khái quát chung về NSNN 1. Khái niệm NSNN Ngân sách nhà nước là một thành phần chủ chốt trong hệ thống tài chính. Đây là quỹ tiền tệ tập trung trung ương lớn nhất dưới sự điều hành của chính phủ. Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước. Điều 1 Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam năm 2002 đã định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy nói tới NSNN là nói tới các khoản thu và chi trong thời gian 1 năm theo các tiêu chí khác nhau và được thực hiện nghiêm ngặt theo một bản kế hoạch do Quốc hội thông qua gọi là dự toán NSNN. Dự toán NSNN chính là một bản kế hoạch thu chi của một quốc gia được thực hiện trước một năm tài khóa để đảm bảo các hoạt động của chính phủ được diễn ra liên tục. Việc hiểu về NSNN như trên là tìm hiểu về mặt hình thức hay biểu hiện ra bên ngoài của NSNN. Về mặt bản chất, ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ tài chính giữa nhà nước và xã hội, phát sinh, gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật định. Bảng 1. Chín tài liệu của dự toán NSNN tại Việt Nam STT Nội dung 1 Dự toán thu, chi ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc TW 2 Dự toán chi Chương trình mục tiêu quốc gia
  8. 3 Dự toán chi NSTW của từng Bộ, cơ quan Trung ương theo từng lĩnh vực chi và những nhiệm vụ chi của NSTW 4 Dự toán chi Ngân sách trung ương theo lĩnh vực 5 Các khoản thu, chi quản lý qua NSNN 6 Dự toán chi Ngân sách Nhà nước, chi NSTW, chi NSĐP theo cơ cấu chi 7 Dự toán thu Ngân sách Nhà nước theo lĩnh vực 8 Cân đối nguồn thu, chi dự toán NSTW và NSĐP 9 Cân đối Ngân sách Nhà nước 2. Vai trò của NSNN NSNN đóng các vai trò sau: (i) Vai trò của ngân sách tiêu dùng: Đảm bảo hay duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước, phân phối nguồn lực tài chính, và giám đốc các quá trình huy động và chi tiêu NSNN: Thứ nhất, từ các nguồn tài chính tập trung được, Nhà nước tiến hành phân phối các nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo tỷ lệ hợp lý nhằm vừa đảm bảo duy trì hoạt động và sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế- xã hội của Nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Thứ hai, Khi thực hiện chức năng tiêu dùng, NSNN đóng vai trò phân phối nguồn lực tài chính: Chính phủ thông qua các kênh khác nhau (thu thuế, lệ phí, thị trường mở, vay vốn …) đã tập hợp được các nguồn tiền về chính phủ. Sau đó chính phủ sử dụng các nguồn tiền này cho các hoạt động như vận hành bộ máy chính phủ, các hàng hóa công (chi thường xuyên), hay đầu tư phát triển (chi đầu tư phát triển). Việc phân bổ các nguồn lực này nếu hiệu quả sẽ là động lực cho nền kinh tế phát triển. Thứ ba, NSNN đóng vai trò giám đốc quá trình huy động các nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu: Thông qua quá trình lập ngân sách, chính phủ phân loại được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, rà soát lại việc thực hiện từng loại thu chi và do đó có những giải pháp để làm tốt thu – chi.
  9. Khi NSNN thực hiện tốt vai trò thu chi của mình nó sẽ đóng vai trò quan trọng tới các mặt khác của đời sống kinh tế xã hội, cụ thể:  Phát triển nền kinh tế thông qua việc thực hiện các chính sách tài khóa hợp lý (thuế và đầu tư công)  Phát triển các hàng hóa công góp phần cải thiện đời sống xã hội;  Đảm bảo an ninh và trật tự xã hội thông qua các hoạt động chi tiêu cho bộ máy công chức và việc chức cũng như các vấn đề an ninh quốc phòng. (ii). Vai trò của ngân sách phát triển: là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Thứ nhất, NSNN đóng vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô. Nhà nước có thể sử dụng việc thu chi ngân sách như là chính sách thắt chặt tài khóa (tăng thu thuế, giảm đầu tư công) khi nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát cao hoặc chính sách mở rộng tài khóa (giảm thu thuế, tăng đầu tư công) khi nền kinh tế gặp suy thoái. Thứ hai, Thông qua NSNN, Nhà nước định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo các định hướng của Nhà nước cả về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành. Tại Việt Nam do các doanh nghiệp quốc doanh vẫn đóng một vai trò rất lớn trong nền kinh tế nên chính phủ có thể thông qua các hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp quốc doanh để tạo ra các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong ngắn, trung và dài hạn. Thứ ba, thông qua chi NSNN, Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng- lĩnh vực mà tư nhân sẽ không muốn tham gia hoặc không thể tham gia. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, thức đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống dân cư. Thứ tư, NSNN góp phần lớn trong việc ổn định kinh tế xã hội. Điều này thể hiện ở điểm NSNN có những khoản dự phòng cho những trường hợp thiên tai, mất mùa, giá cả những mặt hàng quan trọng biến động mạnh, tỷ giá thay đổi không như mong muốn… (iii). Vai trò thực hiện sự công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội:
  10. Thứ nhất, Trong việc thực hiện công bằng, Nhà nước cố gắng tác động theo hai hướng: Giảm bớt thu nhập cao của một số đối tượng và nâng đỡ những người có thu nhập thấp để rút ngắn khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.  Giảm bớt thu nhập cao: đánh thuế (lũy tiến) vào các đối tượng có thu nhập cao, đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao vào những hàng hóa mà người có thu nhập cao tiêu dùng và tiêu dùng phần lớn.  Nâng đỡ các đối tượng có thu nhập thấp: giảm thuế cho những hàng hóa thiết yếu, thực hiện trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu như lương thực, điện, nước… và trợ cấp xã hội cho những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn. Thứ hai, Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội: Thông qua NSNN, tài trợ cho các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, văn hóa, tài trợ cho các chương trình việc làm, chính sách dân số, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội… 3. Những nguyên tắc cơ bản quản lý NSNN Quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất. Nguyên tắc thống nhất: Theo nguyên tắc này, mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất. Thống nhất quản lý chính là việc tuân thủ một khuân khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo có hiệu quả, hạn chế những tiêu cực và những rủi ro, nhất là những rủi ro, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản chi tiêu. Thứ hai, Nguyên tắc dân chủ: Một chính sách tốt là một ngân sách phản ảnh lợi ích của các tầng lớp, các bộ phận, các cộng đồng người trong các chính sách, hoạt động thu chi ngân sách. Sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách. Sự tham gia của người dân sẽ làm cho ngân sách minh bạch hơn, các thông tin ngân sách trung thực, chính xác hơn.
  11. Tuy nhiên, thực hiện dân chủ, tăng cường sự tham gia hoạt động của người dân trong quản lý ngân sách đôi khi làm cho quản lý ngân sách trở lên khó khăn. Các nhà lãnh đạo sẽ phải đối mặt với các ý kiến, các luồng quan điểm khác nhau của người dân, đôi khi là những hành động mang tính lợi dụng, chống đối. Thứ ba, Nguyên tắc cân đối ngân sách: Kế hoạch ngân sách được lập và thu, chi ngân sách phải cân đối. Mọi khoản chi phải có nguồn thu bù đắp. Thứ tư, Nguyên tắc công khai, minh bạch: ngân sách là một chương trình, là tấm gương phản ánh các hoạt động của chính phủ bằng các số liệu. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định thu chi tài chính, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả. Nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách. Thứ năm, Nguyên tắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng các nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra. Đây là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách, bao gồm:  Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách; chịu trách nhiệm về các quyết định về ngân sách của mình.  Trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trê và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội. Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện ngân sách Nhà nước theo chất lượng công việc đạt được. 4. Phương pháp quản lý NSNN Có ba phương pháp quản lý NSNN: (i) Phương pháp quản lý thường, (ii) Phương pháp tài khóa, và (iii) Kết hợp phương pháp quản lý thường và tài khóa. 4.1. Phương pháp quản lý thường Ngân sách dự trù các khoản thực thu và thực chi sẽ được thực hiện thật sự (thực thu, thực chi) trong năm tài chính. Nghiệp vụ thực hiện trong năm nào thì phải trả tiền, thu tiền và
  12. hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm đó. Phương pháp này chú trọng đến giai cuối cùng của nghiệp vụ: Sự trả tiền và sự thu tiền. Như vậy bảng quyết toán gồm tất cả các nghiệp vụ thực hiện trong một niên khóa, dù nghiệp vụ phát sinh trong niên khóa đó hoặc thuộc về niên khóa trước. Ưu điểm của phương pháp: - Bảng quyết toán được lập nhanh và rõ ràng; - Có thể biết rõ tình hình tài chính thực sự bất cứ lúc nào; - Việc bãi bỏ thời gian chỉnh lý giúp tránh được sự thực hiện thể thức chi chuyển nguồn hoặc chi bổ sung - Việc hành thu sẽ được xúc tiến trong 12 tháng để tông trọng các dự toán ngân sách - Tránh được việc lấy tiền của tài khóa sau để bù đắp số thâm hụt của tài khóa trước trong thời gian chỉnh lý Khuyết điểm của phương pháp: - Không trình bày bảng tổng kết tài khóa trung thực: Không để ý tới những số thu chưa thu được và những công tác hay dịch vụ đã thi hành trong năm đó chưa kịp trả tiền. - Khuyến khích che giấu sự thật: Về thu, cố gắng thu nhiều hơn số phát sinh (thu trước của năm sau). Về chi, hoãn trả nợ các chủ nợ để đưa gánh nặng tài khóa sang năm sau. Như vậy phương pháp này có thể làm sai lệch tình hình tài chính của các niên khóa sau bằng cách hoãn trả hay thu gấp. 4.2. Phương pháp tài khóa Phương pháp tài khóa là tập hợp trong một hệ thống ngân sách tất cả các công việc đã thực hiện và các quyền thụ hưởng (quyền đòi nợ) đã được xác lập từ đầu năm đến cuối năm chỉ danh tài khóa, không kể đến ngày thực sự trả tiền. Các nghiệp vụ phát sinh các khoản thu
  13. và chi tiêu trong thời gian thuộc về năm nào, phải ghi vào tài khóa năm đó. Mọi khoản chi tiêu đều căn cứ vào thời gian của hành vi phát sinh nợ. Ưu điểm của phương pháp: - Minh bạch và không thiếu sót: Về chi, quyền đòi nợ và trả nợ phát sinh năm nào thì được vào tài khóa của năm đó. Về thu cũng cũng có sự sắp xếp từng tài khóa để tiện phân biệt nhằm dễ kiểm soát và truy thu. - Cho biết chính sách tài chính của Chính phủ, vì bao gồm toàn thể nghiệp vụ thu chi của 1 niên khóa nhất định. - Tránh được những trở ngại do việc thu thuế chậm gây ra. Khuyết điểm của phương pháp: - Chậm trễ trong việc lập bảng quyết toán (vì có thời gian bổ túc) - Có thể hạch toán sai lầm vì hai tài khóa điều hành song song - Các sự phiền phức của thể thức chi phí chuyển tiếp - Các nhà quản trị có thể lấy tiền của tài khóa sau (thu trong thời gian chỉnh lý) để bù đắp số thâm hụt của tài khóa trước. 4.3. Phương pháp kết hợp Tại Việt Nam, việc quản lý NSNN kết hợp giữa phương pháp quản lý thường và phương pháp tài khóa. Về phần thu Ngân sách thì thì thực hiện phương pháp quản lý thường. Về phần chi Ngân sách thì thực hiện phối hợp giữa hai phương pháp. Khoản 2 điều 62 Luật NSNN 2002 nêu rõ: Toàn bộ các khoản thu thuộc NS các năm trước nộp trong năm sau phải hạch toán vào năm sau. Như vậy đây là sử dụng phương pháp quản lý thường. Trong khi đó Điều 66 Nghị định 60/2003: Các khoản chi NS thuộc dự toán năm trước nếu chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết không được chuyển năm sau chi tiếp. Nghĩa là sau ngày 31/12 không được sử dụng kinh phí thuộc dự toán năm trước còn lại. Ngoại trừ trường
  14. hợp được Bộ trưởng Bộ tài chính (đối với NSTW) hoặc Chủ tịch UBND (NS ĐP) quyết định chi tiếp cho năm sau. Như vậy đây là sử dụng phương pháp tài khóa. II. Hệ thống NSNN 1. Khái niệm và nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình sử dụng các nguồn tài chính để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp ngân sách.. Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính. Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp chính: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương. trong đó ngân sách địa phương bao gồm các cấp ngân sách: ngân sách thành phố (hay tỉnh), ngân sách quận (huyện), ngân sách xã (phường). Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện:  Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách.  Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình.  Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình.  Công khai và minh bạch: Các khoản thu chi phải được công khai, được giám sát và kiểm tra thường xuyên của các cấp có thẩm quyền;  Phân công và phân cấp quản lý: Hoạt động quản lý NSNN được phân công rõ ràng trong bộ máy quản lý nhà nước từ Quốc hội, chính phủ tới các các cấp chính quyền
  15. địa phương. Đồng thời việc quản lý này cũng được phân cấp rõ ràng giữa các cấp ngân sách như cấp trung ương và cấp địa phương.  Gắn quyền hạn và trách nhiệm: Các cá nhân, tập thể, cấp chính quyền tham gia quản lý ngân sách được gắn các quyền hạn cụ thể đồng thời phải chịu các trách nhiệm cụ thể nếu để các sai phạm xảy ra hoặc không hoàn thành nhiệm vụ. Điều 3 – Luật NSNN 2002 Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. 2. Mô hình cơ bản của hệ thống NSNN Trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức theo một trong hai mô hính sau: Mô hình thứ nhất, mô hình nhà nước liên bang. Theo mô hình này, NSNN được phân ra làm ba cấp như sau:  Ngân sách liên bang;  Ngân sách bang;  Ngân sách địa phương. Mô hình thứ hai, Mô hình nhà nước thống nhất. Theo mô hình này, NSNN được phân làm hai cấp:  Ngân sách trung ương;  Ngân sách địa phương Tại Việt Nam, NS địa phương được chia nhỏ ra làm ba cấp theo thứ tự ngân sách thành phố (hay tỉnh), ngân sách quận (huyện), ngân sách xã (phường). 3. Khái niệm và nguyên tắc phân cấp NSNN Phân cấp NSNN là việc phân định nguồn thu và các khoản chi của mỗi cấp ngân sách theo những nguyên tắc hoặc phương pháp nhất định. Phân cấp quản lý ngân sách nhằm tạo điều kiện về tài chính cho chính quyền nhà nước các cấp tham gia vào quá trình tổ chức, huy động, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để thực hiện các chức năng nhiệm vụ xác định. Khi phân cấp quản lý ngân sách cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
  16.  Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất.  Xác định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn thu chi giữa các cấp ngân sách.  Đảm bảo sự hợp lý và công bằng giữa các địa phương. III. Thu NSNN 1. Khái niệm và đặc điểm Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các mục đích chi tiêu của nhà nước. Việc thực hiện thu NSNN đã phát sinh ra hệ thống các mối quan hệ kinh tế Thu NSNN có những đặc điểm như sau:  Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;  Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v...  Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu. 2. Nguyên tắc thu NSNN Thu NSNN phải đảm bảo theo các nguyên tắc như sau:  Nguyên tắc ổn định và lâu dài: trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà nước
  17. và tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh  Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: hiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Do đó việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo được nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu  Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn: nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế...Các từ ngữ được sử dụng của văn bản phải thông dụng, dễ hiểu không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau.Đảm bảo nguyên tắc này giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật, trốn lậu thuế.  Nguyên tắc thu không hoàn trả trực tiếp: Khi thu thuế trực tiếp từ đối tượng thì khoản thuế này sẽ không được trả lại trực tiếp cho đối tượng mà sẽ hoàn trả lại gián tiếp thông qua các chính sách của nhà nước (các dịch vụ công, trợ cấp…).  Nguyên tắc đơn giản: nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế  Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế: theo nguyên tắc này thiết lập hệ thống thuế phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế về đối tượng tính thuế, phương thức thu nộp thuế suất. Đồng thời phải thực hiện đầy đủ các cam kết mang tính chất quốc tế. 3. Nội dung các khoản thu NSNN 3.1. Thu từ thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Việc thu thuế nhằm tái
  18. phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội. Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức cho nhà nước nhằm đảo bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế có những đặc trưng sau: Thứ nhất, nguồn gốc của thuế là một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội. Các cá nhân, doanh nghiệp là người hưởng lợi ích từ chi tiêu ngân sách nhà nước và họ có thu nhập nên phải có nghĩa vụ trích một phần thu nhập nộp vào ngân sách nhà nước, bằng hình thức trực tiếp (thuế thu nhập) hoặc gián tiếp (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…) Thứ hai, thuế là một hình thức phân phối lại một bộ phận nguồn tài chính của xã hội. Sự phân phối này không mang tính hoàn trả trực tiếp, mà hoàn trả gián tiếp cho người nộp và không tương đương về hình thức và số lượng đối với khoản đóng góp. Người chịu thuế được hưởng các hàng hoá và dịch vụ nhà nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuế nhiều và người nộp ít. Thứ ba, thuế mang tính chất cưỡng chế, được thiết lập theo luật định. Thuế mang tính cưỡng chế vì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước, nhưng do tính chất không hoàn trả trực tiếp và tương đương nên người chịu thuế không tự giác nộp. Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân. Trong phân loại về thuế chúng ta có thể chia ra làm thuế trực thu và thuế gián thu:  Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. Thuế trực thu là loại thuế mà người, hoạt động, tài sản chịu thuế và nộp thuế là một. Ví Dụ như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu dùng luôn, hay như thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân, tài sản.... Thuế đánh lên thu nhập hoặc tài sản với kỳ vọng rằng người bị thu thuế sẽ thực sự là người bị mất sức mua.
  19.  Là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hoá.Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng.Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một. Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế VAT,thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt... được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng. Thuế này chuyển sức mua khỏi người tiêu dùng cuối cùng bằng cách tạo khoảng chênh lệch giữa số tiền chi trả cho nhà sản xuất và giá bán. Các nguyên tắc chung về thuế: Các sắc thuế đều cần thỏa mãn ba nguyên tắc chung sau đây:  Trung lập: sắc thuế không được bóp méo các hoạt động sản xuất, dẫn tới phúc lợi xã hội (tổng hiệu dụng) của nền kinh tế bị giảm đi.  Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành trưng thu thuế phải không phức tạp và không tốn kém.  Công bằng: sắc thuế phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có điều kiện như nhau. Giữa các công dân có điều kiện khác nhau, thì thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường người có điều kiện tốt hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn). Riêng các sắc thuế địa phương còn cần thỏa mãn một số nguyên tắc nữa:  Cơ sở thuế phải bất biến: nghĩa là công dân, hoạt động và đồ vật phải tương đối cố định, không hay di chuyển giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo địa phương này không đánh thuế lên công dân, hoạt động và đồ vật vốn là của địa phương khác.
  20.  Nguồn thu ổn định: nghĩa là quy mô dân số địa phương và quy mô các hoạt động, đồ vật không nên biến động thường xuyên. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo thu ngân sách của địa phương không bị biến động  Nguồn thu phân bố đồng đều giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách giữa các địa phương không quá chênh lệch.  Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm tài chính. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo chính quyền địa phương không lạm dụng quyền hạn thuế của mình để đánh thuế quá mức. Trong thực tế, khó có sắc thuế nào đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc đòi hỏi cho nó. Vì thế, theo nguyên tắc về "cái tốt thứ hai", sắc thuế nào càng thỏa mãn nhiều nguyên tắc, thì càng xứng đáng là một sắc thuế tốt. Việc ban hành phần lớn các sắc thuế thường cần phải được quốc hội phê chuẩn và phải có luật về sắc thuế đó. Tại Việt Nam, đứng dưới góc độ NSNN, việc phân chia các loại thuế chi tiết hơn để phục vụ cho mục đích quản lý kinh tế và thu NSNN. Các loại thuế được quy định là nguồn thu cho NSNN (căn cứ theo điều 30 – Luật NSNN) bao gồm:  Thuế giá trị gia tăng: Là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.  Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Là loại thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu. Theo điều 2 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu, điều 1 Nghị định 87: Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu gồm: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.  Thuế tiêu thụ đặc biệt: Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng của xã hội, được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Mục tiêu của loại thuế này là nhằm điều tiết mạnh vào các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp hay những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khỏe, góp phần hướng dẫn phát triển sản xuất kinh doanh, tiêu dùng xã hội theo định hướng của Nhà nước, qua đó góp phần đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Thuế tiêu thụ đặc biệt được quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008.  Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu đánh vào phần lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý. Tổ chức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2013.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2