intTypePromotion=1

Bài thảo luận: Vai trò của ngân hàng trung ương và việc phát huy vai trò của nó trong thực tiễn

Chia sẻ: Tăng Anh Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
129
lượt xem
13
download

Bài thảo luận: Vai trò của ngân hàng trung ương và việc phát huy vai trò của nó trong thực tiễn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thảo luận "Vai trò của ngân hàng trung ương và việc phát huy vai trò của nó trong thực tiễn" gồm các nội dung chính được trình bày như sau: Khái niệm Ngân hàng trung ương, vai trò của Ngân hành trung ương, vai trò của ngân hàng trong thực tiễn,...Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thảo luận: Vai trò của ngân hàng trung ương và việc phát huy vai trò của nó trong thực tiễn

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP                                                                                                                    BÀI THẢO LUẬN NHÓM Học phần: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH ­ TIỀN   TỆ             Đề tài:  Vai trò của ngân hàng trung ương và việc   phát huy vai trò của nó trong thực tiễn. Nhóm:                         Lớp HP:   Giáo viên hướng dẫn:   1
  2. Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2014 I. Khái niệm. Ngân hàng trung  ương (NHTW) là một định chế  công quản của Nhà nước,   nhưng mối quan hệ của nó với Chính phủ  không hoàn toàn giống với các Bộ,  Ngành khác của Nhà nước. II. Vai trò của Ngân hành trung ương. a. Ngân hàng trung  ương góp phần  ổn định và phát triển nền   kinh tế ­ xã hội trông qua điều tiết khối lượng trong lưu thông. Trong nền kinh tế  thị  trường thị  trường, mức cung tiền tệ có tác động mạnh   mẽ  đến tăng trưởng kinh tế, thông qua sự  thúc đẩy mức tăng giảm tổng sản   phẩm quốc nội (GDP). Do vậy, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho   phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế giữ vị trí quan trọng bậc nhất  trong các nhiệm vụ của NHTW. Sự  điều tiết đối với lượng tiền trong lưu thông là rất cần thiết. Bởi lẽ, do   nhiều nhân tố  khác nhau tác động mà nền kinh tế  có lúc thăng lúc trầm. Mặt   khác, do tình hình thu chi tiền tệ  trong mỗi vùng, mỗi khu vực khác nhau và   thường xuyên biến động, làm cho nhu cầu tiền tệ cũng biến động tương ứng.  Thông qua hoạt động điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông của NHTW mà  mọi hoạt động điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông của NHTW mà mọi   hoạt động kinh tế ­ xã hội được thực hiện một cách trôi chảy hơn. NHTW thực hiện vai trò này thông qua các công cụ  điều tiết trực tiếp hoặc   gián tiếp như lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ  lệ  dự  trữ bắt buộc, lãi suất chiết   khấu, hoạt động thị trường mở. Đương nhiên, sự điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông chỉ có hiệu quả khi  có sự phối hợp đồng bộ  với quá trình sử  dụng linh hoạt các công cụ  kinh tế  ­   tài chính khác. 2
  3. b. Ngân hàng trung  ương tham gia thiết lập điều chỉnh cơ  cầu   nền kinh tế. Ngân hàng trung  ương tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh  tế ­ xã hội nhằm thiết lập cơ cấu kinh tế hợp lí và có hiệu quả. Đồng thời vơi  vị  trí là ngân hàng của Nhà nước. Thực hiện theo định hướng của Nhà nước   đưa ra, NHTW có chức năng quản lí các NH trung gian, vì thế  để  thống nhất   hoạt động giữa các ngân hàng theo một mục tiêu chugn để phát triển kinh tế và  đem lại lợi ích cho xã hội. Ngân hàng trung  ương đặt ra các hành lang pháp lí   NHTM,   giúp   các   NHTM   hoạt   động   đúng   đắn   không   đi   chệch   hướng   theo  đường lối chung, đem lại lợi ích cao nhất, không chỉ  cho khách hàng mà còn  đem lại lợi ích chung cho nền kinh tế.  NHTW không chỉ  trực tiếp điều chỉnh   lượng tiền lưu thông mà còn điều chỉnh lượng tiền vào cho ngân hàng thương   mại thông qua các tỉ lệ dự trữ bắt buộc hay bằng  uy tín của mình. Khi NHTM   thiếu vốn để  đầu tư  thì NHTW có thể  giảm tỉ  lệ  dự  trữ  bắt buộc. Khi đó sẽ  làm tăng lãi suất tiền gửi đem lại lợi nhuận cho khách hàng. NHTW còn là ngân hàng của các ngân hàng người cứu cánh cuối cùng khi ngân   hàng TM rơi vào tình trạng khó khăn của biến động thị  trường, đáp  ứng việc   thanh khoản hay cung  ứng kịp vốn thì đều có thể  vay NHTW cho phép thành  lập đều được hưởng quyền vay tiền tại NHTM trong trường hợp cần b ổ sung   về nhu cầu vốn khả dụng NHTW cấp tín dụng cho NHTM theo hai hình thức. + Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức thông qua tái triết khấu các chứng  từ có giá cộng cho vay thế chấp hoặc  ứng trước. Với vị trí đặc biệt của mình   NHTW tài trợ  tín dụng cho nền kinh tế  thông qua hệ  thống NHTM và các tổ  chức tín dụng để thực hiện kế hoạch cơ cấu nền kinh tế. Ví dụ: giảm lãi suất  tái triết khấu, giảm DTBB... Khi NHTW tài trọ  tín dụng thì NHTW kiểm soát   kiểm soát công cụ  này chủ  yếu bằng tác động đến giá cả  khoản vay (lãi suất   cho vay tái chiết khấu). + Khi NHTW nâng cao lãi suất tái chiết khấu, tức là làm cho giá của khoản  vay  tăng,  hạn  chế  cho  vay   các  NHTM,  làm  cho  khả  năng  vay   đối  với   các   NHTM giảm xuống dẫn tới lượng tiền cung  ứng giảm. Ngược l ại, khi NHTW   giảm lãi suất cho vay tái triết khấu, giá của khoản vay sẽ rẻ hơn, khuyến khích  3
  4. cho vay các NHTM, làm cho khả  năng cho vay đối với nền kinh tế  tăng lên,  lượng tiền cung ứng tăng lên. Ngân hàng trung ương quản lí cửa sổ chiết khấu   bằng nhiều cách để khoản vốn cho vay của mình khỏi bị sử dụng không đúng   và hạn chế  việc cho vay đó. Các ngân hàng đến vay chiết khấu của NHTW   thường phải chịu ba khoản phí: lợi tức chiết khấu, phí về  việc phải làm đúng  theo các yêu cầu điều tra của ngân hàng trung ương về khả năng thanh toán của   ngân hàng khi đến vay tại cửa sổ  chiết khấu, phí về  việc rất có thể  bị  ngân  hàng trung  ương từ  chối vay chiết khấu vì NHTW đang theo đuổi một chính  sách thiết chặt tiền tệ  nhằm chống lạm phát. Chính sách triết khâu còn quan  trọng ở chỗ nhăm tránh khỏi những cơn hoảng loạn tài chính cho các NHTM. NHTW   sử   dụng   DTBB   để   tác   động   đến   lượng   tiền   cung   ứng   trên   hai  phương diện : + Thứ nhất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các   NHTM. Theo thuyết tạo tiền, từ lượng tiền dự trữ ban đầu hệ thống NHTM có   thể tạo ra một lượng tiền gửi lớn gấp nhiều lần. Nếu NHTW quyết định tăng  hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm cho hệ số tạo tiền hẹp. + Thứ hai, tỉ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống  NHTM. Khi mức dự trữ tăng lên, đòi hỏi các NHTM phải tăng lãi suất cho vay   đối với nền kinh tế, giá các khoản vay đắt hơn, khả năng cho vay của các ngân   hàng thương mại giảm xuống và theo đó lượng tiền cung  ứng cũng sẽ  giảm   xuống. Ngược lại, khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc phải giảm xuống, các NHTM có cơ  hội giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, giá các khoản vay rẻ  hơn, khả  năng cho vay của các NHTM và do đó lượng tiền cung ứng tăng lên... Ngân hàng trung  ương cần có vai trò trong việc dự đoán những biến cố  của nền   kinh tế. Ví dụ như:  Khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế của nước ta và đang hội nhập   cùng với kinh tế thế giới. Vì vậy vai trò của Ngân hàng trung ương rất quan trọng   trong việc dự đoán những biến cố  của nền kinh tế, những tín hiệu thị  trường để  có những quyết định đúng đắn về các chính sách tiền tệ, nhằm góp phần làm điều   chỉnh kịp thời cơ cấu nền kinh tế hiện có cho phù hợp với thực tiễn nền kinh tế  4
  5. đất nước và xu thế hội nhập quốc tế. c. Ngân hàng trung  ương  ổn định sức mua của đồng tiền quốc   gia. Để ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia, thông qua việc xây dựng   và thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW góp phần cân đối tổng cầu và tổng   cung tiền của toàn xã hội. NHTW thay mặt Nhà nước quản lí các hoạt động  tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các dịch vụ  ngân hàng khác. Xét đơn xin thành  lập  NHTM, cấp giấy phép hoạt động, quy định nội dung, phạm vi, quy chế  hoạt động kinh doanh của các NHTM  và tổ  chức tín dụng. Quy định tỉ  lệ  dự  trữ bắt buộc đối với các loại tiền giữ và yêu cầu của các NHTM và tổ chức tín   dụng. Quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền giữ và yêu cầu của  các NHTM phải được thực hiện. Chủ động áp dụng các giải pháp để điều tiết  khối lượng tiền cung ứng. Việc phát hành tiền của NHTW được thực hiện trên  cơ  sở  tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại, các tổ  chức tín dụng. Các   ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phát hành tiền vào lưu thông thoe   nhu cầu tiền tệ  phát sinh do tăng trưởng kinh tế  đòi hỏi thông qua cơ  chế  tín   dụng ngắn hạng và được đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thể hiện trên kỳ phiếu  thương mại và các chứng từ  nợ  khác. Vì vậy, tiền phát hành vào lưu thông  được đảm bảo bằng lượng hàng hóa, dịch vụ, làm cho tổng khối lượng tiền tệ  phù hợp với tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Mặt khác việc phát  hành tiền thông qua cơ chế tín dụng còn giúp ngân hàng xác định được thời hạn  tiền quay trở về nơi phát hành, ngăn chặn hiện tượng lạm phát, đồng thời tạo  điều kiện kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng theo nhu cầu của mục tiêu ổn  định tiền tệ. Để  đáp  ứng nhu cầu lưu thông tiền mặt, NHTW thường phải in   hoặc đúc sẵn một số  lượng tiền tệ  nhất định để  dự  trữ. Thông thường, khối  lượng tiền dự trữ này gồm những loại tiền có hình dạng, kích thước, màu sắc   mệnh giá hoàn toàn khác tiền đang lưu hàng. Loại dự trữ này dùng để thay thế  những đồng tiền trong lưu thông bị  rách nát, dơ  bẩn. Trong TH tiền đang lưu  hành có triệu chứng mất giá trị nghiêm trọng hoặc bị làm giả cần phải thay thế  bằng tiền mới. Trong điều kiện lưu thông tiền khỏi hoàn thì khối lượng tiền   trên thực tế  sẽ  phù hợp với nhu cầu của lưu thông hàng hóa một cách tự  phát  thông qua cơ chế đúc và đổi tiền tự do. Ngày này, thời đại của lưu thông tiền   5
  6. giấy bất khả  hoán, bản thân tiền giấy không thể  tự  điều tiết được giữa chức   năng phương tiện troa đổi và than htoán với chứuc năng phương tiện cất giữ  giá trị. Do đó, việc phát hành giấy  bạc ngân hàng của NHTW phải đẩm bảo   phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế cả về số lượng lẫn cơ c ấu cũng như yêu   cầu quản lí vĩ mô. Đồng thời, NHTW phải kiểm soát toàn bộ  khối lượng tiền   cung ứng, tổ chức công tác điều hòa lưu thông tiền tệ, kiểm soát quá trình tạo  tiền của các NHTM nhằm vừa đảm bảo đủ phương tiện trao đổi và thanh toán,  vừa đảm bảo kiểm soát lạm phát.  ổn định sức mua đối ngoại: thông qua việc   xây dựng chính sách tỉ giá, lãi suất, quản lí, ngoại hối,... NHTW tác động mạnh   đến cân đối cung cầu ngoại tệ để góp phần ổn định tỉ giá hối đoái, ổn định sức   mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia. NHTW quản lí dự  trữ  quốc gia về  ngoại tệ, vàng, bạc, và các phương tiện giá trị ngoài tệ  khác. NHTW thay mặt   nhà nước tham giá kí kết các hiệp định về  tiền tệ, tín dụng, thanh toán với   nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế, cố vấn các chính sách tài chính –   tiền tệ  cho chính phủ, cung ứng các phương tiện thanh toán cho hệ thống kho  bạc nhà nước, cho ngân sách Nhà nước vay khi thiếu hụt. Cần lưu ý rằng, ổn  định sức mua của đồng tiền quốc gia không có nghĩa là giữ cố định nó, sức mua  đối nội cũng như ngoại giao có thể biến động lên xuống trong một thời kì nào  đó.  Song sự biến đổi ấy cần được kiểm soát, duy trì, điểu chỉnh ở mức độ hợp  lí cho phép, đảm bảo có lợi cho nền kinh tế quốc dân. d. Ngân hàng trung  ương quản lí hệ  thống ngân hàng thương   mại và các tổ chức tín dụng khác. Với chức năng là Ngân hàng của các ngân hàng, NHTW có vai trò quản lí  toàn   bộ hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Vì các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng trong nước đều phải mở  tài khoản và kí quỹ tại NHTW nên hoàn toàn thực hiện được vai trò điều tiết  thành toán giữa các ngân hàng giống nhau như  những thân chủ  mua bán lẫn  nhau có cùng một tài khoản ngân hàng. Vai trò này giúp NHTW kiểm soát, theo   dõi quản lí hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước. Ngân hàng trung  ương thể  hiện rõ nét vai trò của mình trong việc quản lí  NHTM và các tổ chức tín dụng thông qua một vài chức năng: 6
  7. + NHTW quản lí dự trữ bắt buộc của hệ thống NHTM + NHTW là hệ thống cho vay cuối cùng của NHTM Trong một nền kinh tế thị trường sôi động và phức tạp hiện nay để  thực hiện  vai trò, cũng là trọng trách to lớn này NHTW phải xây dựng và ban hành hàng   loạt các văn bản pháp luật quy định chức năng nhiệm vụ  quyền hạn của các   tổ chức tín dụng. Để có thể điều hành sáng suốt, và quản lí một cách hiệu quả  tốt nhất NHTW đã và đang ngày càng nâng cao  bộ máy quản lí, nắm bắt các  tin hiệu thị  trường, phân tích những diễn biến trong lĩnh vực tín dụng, thanh   toán thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường ngoại t ệ, th ị tr ường vàng,...   để đưa ra các giải pháp hữu hiệu. NHTW ở bất kì quốc gia nào đều có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo giá  trị đồng tiền, kiềm chế  lạm phát và sự  an toàn của hệ  thống ngân hàng. Nhờ  có NHTW với thẩm quyền trong việc xác định thực thi chính sách tiền tệ quốc   gia và với tư cách là “ngân hàng mẹ của hệ  thống ngân hàng” mà nhiều ngân  hàng trung ương được giải cứu thoát khỏi tình trạng phá sản. Nhìn chung, Ngân hàng trung ương đã hoạt động và quản lí hoạt động của hệ  thống ngân hàng thương mại và các tổ  chức tín dụng theo nhiều mặt, trên  nhiều phương diện và thông qua nhiều phương thức khác nhau để  hoạt động  tài chính diễn ra lưu thông. Dẫn đến phát triển nền kinh tế. Đội ngũ quản lí  ngân hàng trung  ương còn thường xuyên thanh tra giám sát các hoạt động của  các ngân hàng thương mại và các tổ  chức tín dụng, kịp thời phát hiện những  hành vị vi phạm pháp luật để có biện pháp xử lí thích hợp. III. Vai trò của ngân hàng trong thực tiễn. a. Ngân   hàng   trung   ương   trong   điều   tiết   khối   lượng   tiền   lưu   thông Tín   phiếu   NHNN   là   công   cụ   điều  tiết   tiền  tệ   thường  sử   dụng   trong   trường hợp cấp bách nhằm vào mục tiêu ngắn hạn. Tín phiếu Ngân hàng nhà nước: công cụ ít dùng 7
  8. Về  bản chất, tín phiếu NHNN là một trong những công cụ  điều tiết lượng   cung tiền của NHNN với cơ chế  tương tự  như công cụ  trái phiếu chính phủ  (TPCP) song lại có thời hạn dưới 1 năm tương tự như tín phiếu Kho bạc Nhà  nước (KBNN). Về  mục đích sử  dụng, NHNN phát hành tín phiếu để  thu hút tiền về, giảm  lượng tiền trên thị  trường để  thực hiện chính sách tiền tệ  thắt chặt nhằm   chống lạm phát hay ngược lại, NHNN mua vào tín phiếu để  tăng lượng cung  tiền, nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng khi nguy cơ lạm   phát cao không còn hoặc ít nhất là đã giảm. Đối tượng nắm giữ  tín phiếu NHNN thường khó có thể  sử  dụng tín phiếu   NHNN để cầm cố, mua, bán trên thị trường mở (OMO) mà thường buộc phải  giữ lại đến khi đáo hạn để hưởng một mức lãi suất nhất định. Tuy nhiên, công cụ  tín phiếu NHNN không thường xuyên được sử  dụng do  theo cơ chế  thị trường thì TPCP đã đảm nhận được vai trò hàng hóa chủ  đạo  trên thị  trường mở  với những  ưu thế  hấp dẫn tuyệt đối cả  về  lãi suất, quy  mô, thời hạn, tính thanh khoản và mức độ  rủi ro. Hơn nữa, sức mạnh can   thiệp vào thị trường tài chính tiền tệ của công cụ tín phiếu NHNN không hiệu  lực bằng các công cụ  truyền thống như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết   khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Chính vì vậy, tín phiếu NHNN chỉ  được sử  dụng trong trường hợp cấp bách  nhằm vào mục tiêu ngắn hạn và đặc biệt có hiệu quả  khi đi kèm với biện  pháp mang tính hành chính là bắt buộc, cả  bắt buộc mua cũng như  bắt buộc   chấp nhận mức lãi suất nhất định thường là thấp hơn nhiều so với lãi suất   TPCP và mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường. Quy mô phát hành Lý do thuyết phục duy nhất cho việc phát hành tín phiếu NHNN trong hai năm  qua là nhằm thu hút bớt lượng VND mà NHNN đã bơm ra để mua ngoại tệ, cụ  thể  là mua USD để  tăng dự  trữ ngoại hối. Theo thông tin gần đây thì dự  trữ   ngoại hối Việt Nam năm 2012 đã tăng vọt lên trên 20 tỷ USD, tăng 7 tỷ đồng   so với năm 2011. Theo đánh giá của các chuyên gia thì dự trữ  ngoại hối năm   8
  9. 2013 ở khoảng 30 tỷ USD , năm 2014 là khoảng 35 tỷ USD và 2015 sẽ đạt 40   tỷ  USD. Việc mua vào gần 17 tỷ  USD để  bổ  sung dự  trữ  ngoại hối cộng   với mục tiêu kiềm chế  lạm phát nên khối lượng phát hành tín phiếu đã   tăng lên rất nhiều. Thống kê cho thấy, kể  từ  ngày 15/3/2012 đến thời điểm ngày 9/12/2013,   NHNN đã phát hành thành công tổng cộng 412.591 tỷ đồng tín phiếu các kỳ  hạn từ  28 đến 182 ngày, trong đó năm 2012 phát hành tổng cộng 173.850 tỷ  đồng  và  năm  2013  phát  hành  tổng cộng 238.741  tỷ   đồng. Hiện tại,  đã  có  367.454 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn, trong đó khối lượng tín phiếu đáo hạn năm  2012 là 115.290 tỷ đồng và trong năm 2013 là 252.164 tỷ đồng. Về cơ cấu, tín  phiếu kỳ hạn 91 ngày và 28 ngày được phát hành và đáo hạn nhiều nhất (hình   dưới). Hiện còn 45.137 tỷ đồng tín phiếu chưa đáo hạn, trong đó tín phiếu kỳ hạn 28   ngày và 56 ngày lần lượt là 13.131 tỷ  đồng và 2.276 tỷ  đồng; các kỳ  hạn 91   ngày, 154 ngày và 182 ngày lần lượt là 12.144 tỷ đồng, 7.994 tỷ đồng và 9.592  tỷ đồng. Gánh nặng trả nợ gốc và lãi suất tín phiếu tiếp tục dai dẳng Với lượng tín phiếu còn lưu thông thị  trường là 45.137 tỷ  đồng nêu trên cùng  với xử  lý nợ  xấu trong năm 2014 bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC đồng  nghĩa với việc tiền để tái cấp vốn được tung ra thị trường. Vì vậy, NHNN sẽ   phải tiếp tục sử dụng công cụ phát hành tín phiếu để một mặt thanh toán   khối lượng tín phiếu đáo hạn và mặt khác hút tiền về  nhằm kiềm chế   9
  10. lạm phát. Ước tính, 7.752, 64 tỷ đồng là tổng số lãi phải trả cho 412.591 tỷ đồng tín   phiếu đã phát hành, trong đó, NHNN đã thanh toán tổng cộng 6.991,4 tỷ đồng  tín phiếu đáo hạn (2.973,05 tỷ  cho năm 2012 và 4.018,36 tỷ  cho năm 2013).   Hiện còn 561,24 tỷ  đồng tiền lãi tín phiếu NHNN sẽ  phải thanh toán trong  năm 2014. NHNN dự kiến mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt trong năm 2013 khoảng   30.000 tỷ  đồng và năm 2014 khoảng 150.000 tỷ  đồng. Với khối lượng trái  phiếu đặc biệt nêu trên,lượng tiền tái cấp vốn có thể  tung ra thị  trường   năm 2014 tối đa khoảng 120.000 tỷ đồng. Như vậy, cùng với lượng tín phiếu  đã phát hành và đang được lưu thông, vòng quay của khối lượng tín phiếu phát  hành  trong  năm   2014  sẽ  tùy  thuộc  vào  kỳ   hạn  phát  hành.  Tuy  nhiên,   ước   tính, khối lượng tín phiếu phát hành năm 2014 có  thể  không thấp hơn   300.000 tỷ. Giả  định lãi suất bình quân và kỳ  hạn phát hành tín phiếu bình  quân trong năm  2014 lần lượt  là 5%/năm và 103 ngày (tương tự  như  năm  2013), tổng số  tiền lãi tín phiếu NHNN phải trả  trong năm 2014 khoảng   4.330 tỷ đồng. b. Ngân hàng trung ương trong việc ổn định sức mua của đồng tiền   quốc gia Chính sách ti ề n t ệ  năm 2013 và đ ị nh h ướ ng năm 2014  Trong năm 2013, công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng  Nhà nước (NHNN) đã bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, kiên định với các  mục tiêu lớn của nền kinh tế, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả.   Trên cơ sở các nhiệm vụ, mục tiêu xác định, NHNN đã tiếp tục nỗ  lực mạnh mẽ  trong công tác điều hành, đảm bảo các chính sách, diễn biến tiền tệ  phù hợp với  diễn biến kinh tế vĩ mô, phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, đồng   thời đề cao tính khoa học trong điều hành. Đây là năm thứ hai liên tiếp, nền kinh tế  chứng kiến những nỗ  lực mạnh mẽ  của NHNN trong công tác điều hành CSTT  hướng tới mục tiêu lớn như  kiểm soát lạm phát, tái cơ  cấu hệ  thống các tổ  chức   tín dụng (TCTD), tháo gỡ  khó khăn cho khu vực sản xuất, hỗ  trợ thị trường, giải   10
  11. quyết nợ xấu. Có thể thấy, CSTT ngày càng chứng tỏ được vai trò then chốt trong  công tác điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần quan trọng trong việc tăng cường tính   ổn định của nền kinh tế. Những kết quả đạt được của năm 2013 Một là, mục tiêu  ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành của NHNN là lạm  phát đã được kiềm chế, diễn biến theo xu hướng giảm và khá  ổn định. Nếu lạm  phát của năm 2012 là 6,81% thì lạm phát của năm 2013 chỉ   ở  mức 6,04% ­ mức  thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây (xem Đồ thị 1). Đồ thị 1.  Diễn biến lạm phát 2011 ­ T12/2013 Diễn   biến   lãi   suất   2008   ­  T11/2013 Nguồn: NHNN và Tổng cục Thống kê Hai là, chính sách lãi suất được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô,   đặc biệt là diễn biến của lạm phát. Tính chủ động của công cụ lãi suất trong việc   truyền dẫn tín hiệu tới thị  trường đã được cải thiện rõ nét. Trong năm 2013, các   mức lãi suất điều hành của NHNN được điều chỉnh giảm hai lần. Hiện tại, lãi  suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ  mức 9%/năm xuống còn 7%/năm; lãi  suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống còn 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong   thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán  bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 10%/năm xuống còn 8%/năm. Trên thị  trường 1, NHNN đã thực hiện giảm 3% lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng  VNĐ đối với các lĩnh vực  ưu tiên; giảm 1% lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ.   Đồng thời từ tháng 6/2013, NHNN đã cho phép các TCTD tự ấn định lãi suất tiền  gửi có kỳ  hạn từ  6 tháng trở  lên. Đây là bước đi cần thiết để  NHNN hướng tới   thực hiện tự do hóa lãi suất. Diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng theo   sát với lãi suất chỉ đạo của NHNN và giảm mạnh. Lãi suất huy động giảm liên tục   khoảng từ  2 ­ 4%, lãi suất cho vay giảm từ  3 ­ 5% so với mức lãi suất cuối năm   11
  12. 2012. Điều này không những phản ánh tính thanh khoản của các TCTD ngày càng  ổn định, mà còn biểu hiện tính dẫn dắt thị trường của NHNN ngày càng tăng.  Ba là, hoạt động trên thị trường tiền tệ nhìn chung diễn biến khá tích cực, phản   ánh sự  chủ  động của NHNN trong công tác kiểm soát khối lượng tiền cung  ứng.   Trong năm 2013, khối lượng giao dịch (KLGD) trên thị trường liên ngân hàng diễn  ra khá  ổn định và đồng đều qua các quý so với năm 2012, đồng thời hoạt động   bơm, hút tiền trên thị trường mở cũng rất nhịp nhàng, gần như là lượng cung tiền   được dự  báo phù hợp với nhu cầu và diễn biến của nền kinh tế  và KLGD cũng  giảm đáng kể so với năm 2012 (xem Đồ thị 2). Đồ thị 2. Quy  mô  giao   dịch   của  thị   trường  Trạng   thái   hoạt   động   trên   thị  liên ngân hàng năm 2012 ­ 2013 trường mở năm 2012 ­ 2013 250000 200000 150000 100000 Tỷ đồng 50000 0 -50000 -100000 -150000 Bơm Hút Ròng Nguồn: NHNN Bốn là, chính sách điều hành của NHNN đã hướng dòng vốn tín dụng tập trung  vào hỗ  trợ cho các lĩnh vực ưu tiên như  nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công   nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ  cao,  doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án hiệu quả. Tăng trưởng tín dụng  tuy thấp hơn các năm trước đây nhưng hiệu quả và chất lượng tín dụng ngày càng  được cải thiện. Nhờ đó, kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến khá tích cực, tăng   trưởng quý sau cao hơn quý trước, năm sau cao hơn năm trước, lạm phát tiếp tục  xu hướng giảm và sản xuất kinh doanh cũng có những tín hiệu khả quan hơn. Năm là, thị  trường ngoại tệ và thị  trường vàng diễn biến ổn định, phù hợp với  diễn biến cung cầu ngoại tệ  trên thị  trường, niềm tin vào VNĐ ngày càng được  củng cố, hỗ trợ kiềm chế lạm phát, góp phần giảm thiểu tình trạng đô la hóa, vàng  hóa tại Việt Nam; tạo môi trường  ổn định để  thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo  điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế  hoạch   kinh doanh (xem Đồ thị 3).   12
  13. Đồ thị 3. Tỷ giá USD/VND từ tháng 1/2013 - đến nay Giá vàng trong nước từ tháng 1/2013 - đến nay 21,300 VND 50,000 21,200 21,100 VND 45,000 21,000 VND 40,000 20,900 20,800 VND 35,000 20,700 VND 30,000 20,600 4/3 9/4 6/6 6/2 2/5 6/9 25/9 18/1 21/3 20/5 25/6 12/7 31/7 19/8 6/12 14/10 19/11 31/10 2/1/2013 5/8/2013 7/3/2013 1/2/2013 6/5/2013 1/16/2013 1/30/2013 2/13/2013 2/27/2013 3/13/2013 3/27/2013 4/10/2013 4/24/2013 5/22/2013 6/19/2013 7/17/2013 7/31/2013 8/14/2013 8/28/2013 9/11/2013 9/25/2013 10/9/2013 11/6/2013 12/4/2013 10/23/2013 11/20/2013 Tỷ giá bán NHTM Tỷ giá BQLNH Giá SJC mua vào Giá SJC bán ra Nguồn: NHNN Sáu là, hoạt động của hệ  thống các TCTD dần đi vào  ổn định, tình hình thanh  khoản của hệ thống được cải thiện rõ nét qua từng năm, rủi ro đổ vỡ hệ thống đã   bị đẩy lùi; các ngân hàng thương mại đáp ứng ngày càng tốt hơn các quy định đảm   bảo an toàn trong hoạt động; tốc độ tăng nợ xấu đã chậm lại...  Những nỗ lực đáng chú ý trong công tác điều hành CSTT của NHNN trong  năm 2013 Một là, thực hiện đồng bộ  các giải pháp nhằm đảm bảo một môi trường   vận hành CSTT một cách thuận lợi, nâng cao vai trò của các công cụ CSTT gián  tiếp. Theo đó, nhiều chính sách đã được thực hiện và phối hợp một cách hiệu quả,   tạo được hiệu ứng hỗ trợ mạnh mẽ, cụ thể như sau: + Các giải pháp tiết giảm tình trạng đô la hóa và vàng hóa,  ổn định thị  trường   ngoại hối được NHNN thực hiện nhịp nhàng cùng với các giải pháp điều hành  chính sách tỷ giá chủ động, mang tính dẫn dắt thị trường; chính sách đấu thầu vàng  đảm bảo sự   ổn định của thị  trường. Chính sách tỷ  giá trong năm 2013 đã được  NHNN điều hành linh hoạt hơn so với năm 2012 nhưng vẫn đảm bảo được xu  hướng  ổn định để  góp phần kiểm soát lạm phát, khuyến khích xuất khẩu, kiểm  soát nhập khẩu, tăng dự trữ ngoại hối; + Các giải pháp giải phóng kênh tín dụng được NHNN thực hiện mạnh mẽ  thông qua các chương trình tái cấu trúc, giải quyết nợ xấu tồn đọng, hoàn thiện cơ  chế quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, thông qua các chương trình tọa đàm   xúc tiến đầu tư theo vùng lãnh thổ, theo ngành nghề. Bên cạnh đó, NHNN cũng tổ  chức các buổi làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp trên cả  nước để  nắm bắt  các nút thắt và chung tay tháo gỡ  những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh  13
  14. doanh; + Các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị  trường liên ngân hàng trong việc truyền tải những thay đổi trong điều hành CSTT   của NHNN tới các điều kiện tiền tệ (mức cung tiền và lãi suất thị trường) đối với   nền kinh tế; cung cấp các chỉ  báo về  tình hình vốn khả  dụng của hệ  thống các  TCTD; + Các biện pháp điều hành lãi suất với những bước đi thích hợp, đảm bảo giảm   nhanh chóng và hiệu quả mặt bằng lãi suất, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô,  từng bước hình thành đường cong lãi suất, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu ổn định tỷ  giá và thị trường ngoại hối; + Các giải pháp thiết lập kỷ luật thị trường tiền tệ được thực hiện nghiêm túc  trên cơ sở điều hành CSTT gắn kết chặt chẽ với công tác thanh tra, giám sát, đảm  bảo thực thi nghiêm các chính sách của NHNN, qua đó giúp cơ  chế  truyền tải   CSTT được vận hành tốt hơn. Hai là, phối hợp các công cụ điều hành một cách linh hoạt, hiệu quả, từng   bước tạo lập các điều kiện cần thiết để  chuyển sang cơ  chế  điều hành gián   tiếp khi thuận lợi, cụ thể như sau: + Phối hợp giữa điều hành lãi suất và tỷ giá hướng tới đảm bảo lợi ích nắm giữ  đồng nội tệ, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu bán lại ngoại tệ  cho các   TCTD,  ổn định kỳ  vọng lạm phát và  ổn định tỷ  giá theo cam kết điều hành hàng  năm; + Tăng cường vai trò của công cụ  thị  trường mở, phối hợp nhịp nhàng với các  kênh của thị trường tiền tệ để điều tiết lượng tiền cung ứng. Theo đó, Nghiệp vụ  OMO được điều hành linh hoạt, thận trọng thông qua hoạt động mua các giấy tờ  có giá và bán tín phiếu NHNN với kỳ hạn và lãi suất được điều chỉnh phù hợp với   diễn biến của thị trường để hỗ trợ thanh khoản và điều hòa vốn khả dụng cho các   TCTD;  + Phối hợp và điều chỉnh các mức lãi suất chỉ  đạo một cách chủ  động, truyền   dẫn hiệu quả  tín hiệu điều hành của NHNN để  định hướng thị  trường. Từ  đầu  năm 2012 đến nay, NHNN đã điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ  mô và mối quan hệ  của lãi suất với cung tiền, lạm phát, tăng trưởng kinh tế  và   diễn biến của thị trường tiền tệ.  Định hướng điều hành CSTT năm 2014 Mặc dù đã đạt được kết quả tích cực trên nhiều mặt, song trong bối cảnh kinh   14
  15. tế  thế  giới diễn biến phức tạp và khó lường; kinh tế  trong nước ngày càng hội   nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, do đó, công   tác điều hành CSTT năm 2014 vẫn tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn,  thách thức cần phải được xử lý trong thời gian tới. Trước tiên là những thách thức đến từ  diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế  giới: Trong năm 2014, mặc dù kinh tế thế giới dự báo đã có nhiều dấu hiệu khởi   sắc, đặc biệt là sự  hồi phục của các nền kinh tế đầu tàu. Tuy nhiên, những thách   thức lớn của kinh tế  toàn cầu sau khủng hoảng chưa được giải quyết một cách  bền vững, cụ thể như tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, chính sách nợ công tại một số  quốc gia vẫn chưa được thống nhất, các gói nới lỏng định lượng vẫn tiếp tục   được duy trì, rủi ro vẫn còn tiềm ẩn trên phần lớn các thị trường, bất ổn chính trị ­   xã hội và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp... Điều đó có thể  tác động bất lợi   đến hoạt động thương mại trong nước, đến sự dịch chuyển của các dòng vốn đầu  tư... nên vẫn có thể  tạo ra những áp lực đối với công tác quản lý ngoại hối, đặc  biệt khi các nền kinh tế  mới nổi tập trung phát triển với cơ  chế  tỷ  giá linh hoạt  hơn.   Bên cạnh đó, Việt Nam đang tiếp tục hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền   kinh tế thế giới thông qua việc ký kết các hiệp định hợp tác quốc tế song phương   và đa phương mà trước mắt là Hiệp định đối tác Kinh tế  Chiến lược xuyên Thái  Bình Dương (TPP), có thể  dẫn đến những thay đổi cần thiết trong quan điểm,  nguyên tắc điều hành các chính sách quản lý kinh tế. Tiếp đến là những thách thức đến từ  diễn biến kinh tế  trong nước: Kinh tế vĩ  mô có những dấu hiệu tích cực, song chuyển biến còn chậm, chưa ổn định, vững   chắc. Tăng trưởng tiềm năng của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, tăng   trưởng kinh tế trong hai năm trở lại đây chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi nhu  cầu trong nước phục hồi chậm, sức mua còn yếu, lạm phát tuy đã được kiểm soát  nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại… Bên cạnh đó, dòng vốn tín dụng còn   chưa thông suốt, nợ  xấu còn  ở  mức cao (xem Đồ  thị  4), khó khăn của thị  trường   bất động sản chưa thể giải quyết và đặc biệt là áp lực bội chi ngân sách ngày càng   lớn,… đã trở thành những thách thức lớn cho công tác điều hành CSTT trong năm  2014 nói chung và đặc biệt là sẽ tạo ra áp lực trong công tác quản lý tín dụng của   NHNN. Những thách thức này sẽ  buộc NHNN phải theo đuổi cùng một lúc nhiều  mục tiêu trong quá trình điều hành chính sách, đặc biệt là việc phải tập trung theo  đuổi các mục tiêu ngắn hạn như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi khả năng  hỗ trợ của chính sách tài khóa ngày càng yếu đã tạo ra nhiều khó khăn cho NHNN  trong việc theo đuổi mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là  ổn định giá cả, thể  15
  16. hiện ở mức lạm phát thấp và ổn định trong trung và dài hạn (xem Đồ thị 4). Đồ thị 4. Nợ xấu giai đoạn 2005 ­ T9/2013 Tăng trưởng  tín dụng giai  đoạn  2012 ­ 2013 16.0% 4.90% 14.0% 4.20% 12.0% 3.50% 10.0% 2.80% 8.0% 2.10% 6.0% 1.40% 4.0% 0.70% 2.0% 0.00% 0.0% 3 -2.0% 06 07 08 09 11 12 05 10 01 13 Th 2 2 2 2 2 Th 5 2 2 Th 6 2 2 2 2 Th g 9 2 g 1 12 3 Th 3 2 3 3 3 Th 6 2 3 Th 7 2 3 3 Th g 9 3 g 1 13 Th 11 2 g 2 12 20 20 20 20 /11 3 20 20 20 20 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 án 01 1 án 01 25 201 /20 /2 án 20 án 20 án 20 án 20 Th 1 2 Th 3 2 Th 4 2 Th 7 2 Th 8 2 Th 1 2 Th 2 2 Th 4 2 Th 5 2 Th 8 2 Th 12 2 -4.0% T9 0 Th 0 g g g g g g g g g g g g g g g án g g Th Nợ xấu/Tổng dư nợ (%) Tốc độ tăng tín dụng so cùng kỳ năm trước Tốc độ tăng tín dụng so với tháng trước        Cuối cùng  là những thách thức của quá trình tái cấu trúc: Trong hai năm vừa  qua, mặc dù đã đạt được những kết quả  bước đầu trong việc thực hiện chương   trình tái cấu trúc các TCTD giai đoạn 2011 ­ 2015, song đó mới chỉ  là việc giải  quyết những khó khăn trước mắt. Còn những vấn đề  cốt lõi của chương trình tái  cấu trúc như  giải quyết triệt để  nợ  xấu, tăng cường năng lực quản trị  điều hành  sau tái cơ cấu, thay đổi cấu trúc sở hữu, đặc biệt là khắc phục vấn đề sở hữu chéo  vẫn đang trong thời gian khởi động… chưa thật sự  dẫn đễn những thay đổi về  chất. Bên cạnh đó, khuôn khổ  pháp lý cho việc tái cơ  cấu các TCTD chưa được  hoàn thiện, đặc biệt là cơ  chế  mua bán nợ  xấu, quy chế  điều tiết thống nhất các  hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A),..; nguồn lực tài chính công còn hạn chế,  nguồn lực tài chính bên ngoài chưa có cơ  chế  phù hợp để thu hút; quá trình tái cơ  cấu trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước chưa có nhiều khởi sắc,…  sẽ  tiếp tục  ảnh hưởng đến tiến độ  và tính hiệu quả  của chương trình tái cơ  cấu   hệ thống  các TCTD giai đoạn 2011 ­ 2015. Những thách thức chính yếu trên đòi hỏi NHNN tiếp tục phải kiên định với mục   tiêu điều hành, phải tăng cường phối hợp chặt chẽ  và đồng bộ  hơn nữa với các   Bộ, ngành, phải có những chiến lược mạnh mẽ và nỗ  lực cao hơn để  giải quyết   16
  17. thành công những thách thức. Trên cơ sở  đó, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế ­  xã hội năm 2014 đã được Quốc hội phê duyệt, với chỉ  tiêu tăng trưởng đạt mức   khoảng 5,8%; lạm phát (chỉ  số  giá tiêu dùng ­ CPI)  ở  mức khoảng 7%. Do vậy,  mục tiêu CSTT cần đạt được trong năm 2014 là: tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiểm  soát lạm phát không vượt quá mục tiêu Quốc hội phê chuẩn, ổn định tiền tệ và hệ  thống các TCTD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng   kinh tế. Để đạt được mục tiêu trên, việc điều hành CSTT phải đảm bảo tính linh hoạt, tiếp  tục phát huy tính chủ  động cao, định hướng thị  trường theo mục tiêu đã đặt ra.  Theo đó, việc điều hành các công cụ  CSTT cần được điều hành linh hoạt, đồng   bộ, đảm bảo kiểm soát khối lượng tiền cung ứng theo định hướng tăng trưởng tín   dụng ở mức 12 ­ 14%; tổng phương tiện thanh toán tăng trưởng khoảng 16 ­ 18%;  điều hành chủ động các mức lãi suất chỉ đạo của NHNN để định hướng lãi suất thị  trường, đảm bảo tính  ổn định, không gây ra những biến động bất thường, nhằm   tiếp tục tạo sự  ổn định bền vững trên thị trường tiền tệ, kiềm chế lạm phát; theo  dõi sát diễn biến tỷ giá, thị  trường tiền tệ, ngoại hối, cung cầu ngoại tệ để  điều   hành tỷ  giá phù hợp; Tiếp tục thực hiện các giải pháp quản lý thị  trường vàng,   không để những biến động của thị trường vàng ảnh hưởng đến ổn định vĩ mô; tiếp  tục khắc phục tình trạng đô la hóa nền kinh tế bằng nhiều biện pháp, trong đó cần   có sự  phối chặt chẽ  giữa điều hành tỷ  giá với lãi suất theo hướng khuyến khích  giữ  VNĐ, hạn chế  dịch chuyển sang USD. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện thể  chế, cơ chế chính sách cho hoạt động tiền tệ tín dụng nhằm tạo điều kiện cho các  TCTD tái cơ cấu và phát triển mạnh mẽ; Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải  pháp tái cơ cấu các TCTD để tăng cường tính hiệu quả của cơ chế tác động CSTT  và tạo đà phát triển hệ thống các TCTD trong những năm tiếp theo; Tiếp tục tăng   cường năng lực thanh tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi   kinh doanh thiếu lành mạnh có thể gây bất ổn định hệ thống; Tăng cường công tác  truyền thông, tăng cường trách nhiệm cần được đẩy mạnh để  nâng cao hơn nữa   lòng tin của xã hội, tránh những thông tin sai lệnh làm  ảnh hưởng đến hiệu quả  điều hành. c.  Ngân hàng Nhà nước trong năm 2013 vừa qua Trong năm 2013 NHNN đã triển khai quyết liệt, đồng bộ  các giải pháp chỉ  đạo,  17
  18. điều hành nhằm  ổn định thị  trường tiền tệ, thị  trường ngoại tệ, vàng, đảm bảo  thanh khoản của các TCTD, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu. Nhờ đó,  ngành Ngân hàng đã đạt được những kết quả  tích cực, thể  hiện trên những mặt  chính sau: (i) Về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng: Điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, kết hợp giữa điều hành theo lãi  suất và điều hành lượng tiền cung  ứng nhằm kiểm soát các chỉ  tiêu tiền tệ, đảm  bảo thanh khoản của các TCTD, vừa góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh   tế  vĩ mô. Chỉ  tiêu tổng phương tiện thanh toán tiếp tục tăng ở  mức phù hợp với   mục   tiêu   định   hướng   14­16%   đặt   ra   từ   đầu   năm,   đến   ngày   12/12/2013,   tăng   14,64% so với cuối năm 2012; huy động vốn tăng 15,61%, trong đó bằng ngoại tệ  tăng 13,7%, bằng VND tăng khá cao 15,93% so với cuối năm 2012. Lãi suất được   điều hành theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường và bám sát diễn biến kinh tế  vĩ mô, tiền tệ, tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất, góp phần tháo gỡ  khó khăn cho  sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Thanh khoản VND  của hệ thống các TCTD được giữ vững và tiếp tục cải thiện, đảm bảo khả năng  thanh toán và chi trả của hệ thống. Điều hành lãi suất theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường và bám sát diễn biến  kinh tế  vĩ mô, tiền tệ  và đã đạt được mục tiêu tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất,  góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; từng bước nới lỏng quy định  trần lãi suất huy động bằng VND. Bên cạnh đó, NHNN tăng cường giám sát chặt   chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN về lãi suất của các TCTD, kịp thời phát   hiện các hành vi vi phạm nhằm thiết lập kỷ  cương trên thị  trường. Nhờ  đó, tính  kỷ luật thị trường được tăng cường, đường cong lãi suất đã dần được hình thành. (ii) Triển khai đồng bộ  các giải pháp tháo gỡ  khó khăn cho hoạt động sản   xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường: Tín dụng được điều hành linh hoạt, theo hướng mở  rộng tín dụng đi đôi với an  toàn hoạt động của các TCTD. Kiểm soát chặt hoạt động cho vay bằng ngoại tệ  phù hợp với chủ  trương của Chính phủ  về  hạn chế  đô la hóa trong nền kinh tế.  NHNN đã chỉ đạo các TCTD tích cực tham gia tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp   18
  19. như: Xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, tạo điều kiện thuận lợi cho   các khách hàng vay được tiếp cận vay mới, thực hiện miễn, giảm lãi vốn vay, ưu  tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau... NHNN tham gia tích cực vào việc xây dựng cơ chế và chỉ đạo NHTM cho vay hỗ  trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ­CP của Chính phủ, góp phần giải quyết chính  sách an sinh xã hội và xử lý tồn kho cho thị trường vật liệu xây dựng và thị trường   bất động sản. Chỉ  đạo các TCTD thực hiện các chương trình: Cho vay thu mua,   tạm trữ thóc gạo; chăn nuôi và thủy sản; chính sách hỗ  trợ  giảm tổn thất sau thu  hoạch; hỗ  trợ  vốn dài hạn để  tái canh cà phê; hỗ  trợ  những địa phương bị   ảnh   hưởng bão lụt... Cùng với đó, chỉ  đạo các TCTD nâng cao hiệu quả  quản lý kinh   doanh, tiết kiệm chi phí áp dụng lãi suất cho vay mới ở mức hợp lý, xem xét điều   chỉnh giảm lãi suất cho vay cũ về  mức dưới 13%/năm trên cơ  sở  khả  năng tài  chính để chia sẻ khó khăn với nền kinh tế. Năm 2013, tăng trưởng tín dụng tuy thấp hơn chỉ  tiêu định hướng 12% nhưng   nhiều khả năng tăng cao hơn mức tăng của năm 2012 và chất lượng tín dụng, hiệu   quả tín dụng đối với nền kinh tế cũng được cải thiện rõ rệt; đến ngày 12/12/2013,  tín dụng toàn hệ  thống các TCTD đối với nền kinh tế  đã tăng 8,83% so với cuối   năm 2012. Cơ cấu tín dụng được tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất   là với các lĩnh vực ưu tiên; cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm dần  cả về số tuyệt đối và tỷ trọng. Đến cuối tháng 11/2013, tín dụng đối với lĩnh vực  nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 17%, doanh nghiệp  ứng dụng công nghệ cao   tăng 24,51%, xuất khẩu tăng 3,32%, công nghiệp hỗ  trợ  tăng 10,84% so với cuối   năm 2012. (iii) Điều hành thị  trường ngoại hối và tỷ  giá linh hoạt, kết hợp chặt chẽ,  đồng bộ giữa chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất: Việc điều hành linh hoạt thị  trường này trong năm 2013 đã khuyến khích người  dân nắm giữ VND, giảm nắm giữ ngoại tệ, khuyến khích các TCTD bán ngoại tệ  cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước. Nhìn chung, thị  trường ngoại hối   về cơ bản ổn định, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống cải thiện, tâm lý găm giữ  ngoại tệ  được đẩy lùi một bước, hoạt động của thị  trườngtự  do bị  thu hẹp, tình  trạng đô la hóa giảm, lòng tin vào đồng Việt Nam được nâng cao. 19
  20. (iv) Về quản lý thị trường vàng: Trong năm 2013, NHNN đã Quyết liệt triển khai các giải pháp đồng bộ về quản lý  thị  trường  vàng  trên cơ  sở  khuôn khổ  pháp lý  mới  mà nòng cốt là  Nghị   định  24/2012/NĐ­CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ. Theo đó, TCTD thực hiện tất toán  toàn bộ số dư huy động vốn bằng vàng đến hạn phải chi trả từ đầu tháng 7/2013,   giảm dần số  dư  cho vay vốn bằng vàng nên đã loại bỏ  toàn bộ  rủi ro liên quan  đến vàng và chấm dứt tình trạng ”vàng hóa” trong hoạt động của TCTD. Cùng với  đó, tăng cường công tác thanh tra, giám sát chặt chẽ  hoạt động của các TCTD,   doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng, can thiệp bình  ổn thị trường vàng thông   qua đấu thầu vàng, tổ  chức sản xuất vàng miếng SJC để  đáp  ứng nhu cầu vàng  miếng cho thị  trường, thiết lập một mạng lưới mua, bán vàng miếng mới, có tổ  chức, quản lý chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận mua, bán  vàng. (v) Về thực hiện cơ cấu lại các TCTD: Sau gần 2 năm triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ  các biện pháp cơ  cấu lại  hệ  thống các tổ  chức tín dụng, ngành Ngân hàng Việt Nam đã vượt qua thời kỳ  khó khăn nhất, hoàn thành cơ  bản nhiệm vụ  theo đúng lộ  trình, kế  hoạch đặt ra   của Đề án, thể hiện trên một số kết quả quan trọng: Một là, tái cơ cấu được thực   hiện đồng bộ  trên tất cả  các mặt về  cơ  chế, chính sách, tài chính, quản trị, hoạt   động đối với tất cả các nhóm TCTD cả trong nước và nước ngoài. Việc sáp nhập,  hợp nhất, mua lại các TCTD đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, chủ yếu thực hiện   theo nguyên tắc tự  nguyện. NHNN chưa phải áp dụng biện pháp can thiệp bắt   buộc đối với trường hợp nào theo quy định của pháp luật. Hai là, an toàn của hệ  thống TCTD được bảo đảm, nguy cơ  gây đổ  vỡ, mất an toàn hệ  thống đã được   giảm dần, khả năng chi trả  của các TCTD được cải thiện, tài sản của Nhà nước  và tiền gửi của nhân dân được an toàn, chi trả  đầy đủ, kịp thời, kể  cả   ở  một số  NHTM cổ  phần yếu kém phải cơ  cấu lại. Ba là, từng bước lành mạnh hóa tài  chính, trọng tâm là tăng vốn điều lệ  và xử  lý nợ  xấu của các tổ  chức tín dụng.   Trong 11 tháng đầu năm, vốn điều lệ  của toàn hệ  thống các TCTD tăng 6,65%,   tương đương 25,8 ngàn tỷ đồng (vốn chủ sở hữu tăng 43,5 ngàn tỷ đồng). Hệ thống Ngân hàng đã tích cực thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiềm chế nợ  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2