intTypePromotion=1

Báo cáo về việc thực hiện luật về bình đẳng giới, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh Đắk Nông

Chia sẻ: Nguyễn Đức Hoàng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
160
lượt xem
10
download

Báo cáo về việc thực hiện luật về bình đẳng giới, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh Đắk Nông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo về việc thực hiện luật về bình đẳng giới, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh Đắk Nông được biện soạn với các nội dung: Đặc điểm tình hình chung; Công tác triển khai thực hiện Luật về Bình đẳng giới, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình. Để nắm vững nội dung kiến thức mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo về việc thực hiện luật về bình đẳng giới, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh Đắk Nông

  1. UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐĂKR’LẤP Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc Số:         /UBND ­ BC Đắkr’lấp, ngày     tháng    năm 2016 BÁO CÁO Về việc thực hiện Luật về Bình đẳng giới, hôn nhân gia đình  và phòng, chống bạo lực gia đình Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 4668/UBND­VX ngày   14 tháng 9 năm 2016 về việc chuẩn bị nội dung tiếp và làm việc với Đoàn Ủy ban  về các vấn đề  xã hội của Quốc hội khảo sát tại tỉnh Đắk Nông, Uỷ  ban nhân dân   huyện báo cáo tình hình thực hiện Luật Bình  đẳng giới,  hôn nhân gia  đình và  phòng, chống bạo lực gia đình như sau: I.Đặc điểm tình hình chung Huyện Đắk Lấp nằm phía tây nam của tỉnh Đăk nông có tổng diện tích tự  nhiên 63.585ha gồm 10 xã và 01 thị trấn với 110 thôn, bon, tổ dân phố, có 24 đồng  bào dân tộc anh em sinh sống. Dân số toàn huyện 83.313 khẩu, có 3 tôn giáo chính   với 18.962 hội tín đồ. Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng và triển khai thực  hiện các văn bản quy phạm pháp luật đồng thời thực hiện lồng ghép các vấn đề  bình đẳng giới hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trong các công  tác của huyện nhằm phát huy hiệu quả các chính sách, pháp luật của Nhà nước về  bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ, hôn nhân gia đình và phòng, chống bạo lực  gia đình. II. Công tác triển khai thực hiện Luật về  Bình đẳng giới, hôn nhân gia  đình  và phòng, chống bạo lực gia đình A. Về lĩnh vực bình đẳng giới 1. Công tác tuyên truyền, phổ  biến pháp luật về  bình đẳng giới cho  nhân dân và cán bộ, công chức tại địa phương Xác định được tầm quan trọng của công tác tuyên truyền việc thay đổi nhận  thức, hành vi về bình đẳng giới, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Ban vì sự tiến bộ  của phụ  nữ huyện phối hợp với phòng Tư  Pháp, Hội Liên hiệp Phụ  nữ, phòng Y   tế, UBND các xã, thị  trấn tích cực triển khai tuyên truyền, phổ  biến sâu rộng các  Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước như:  Nghi quyêt 11­NQ/TW ̣ ́   ̉ ̣ ́ ̣ Luật bình đẳng giới; Công ước CEDAW, Bộ Luật Lao động, Pháp  cua Bô chinh tri,  lệnh Dân sô ­ KHHGĐ,  ́ các kiến thức về giới, kiến thức có liên quan đến phụ nữ, 
  2. trẻ em; va các văn b ̀ ản khác liên quan đến bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ  nữ.... 2. Việc triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới tại địa phương a) Ban hành văn bản của địa phương Căn cứ Quyết định số  2351/QĐ­TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính  phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011­2020, Quyết   định số 1241/QĐ­TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia  về   bình   đẳng   giới   giai   đoạn   2011­2015,   Quyết   định   số   1696/QĐ­TTg   ngày  02/10/2015  của Thủ  tướng Chính phủ  phê duyệt Chương trình quốc gia về  bình   đẳng giới giai đoạn 2016­2020 và các văn bản hướng dẫn của các Bộ Lao động ­  Thương binh và Xã hội, UBND huyện ĐăkR’Lấp đã ban hành các văn bản:  ­ Quyết định số 3670/QĐ­UBND ngày 11/3/2014 của Ủy ban nhân dân huyện  về việc kiện toàn lại Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện ĐăkR’Lấp. ­ Kế hoạch số 81/KH­UBND ngày 9/12/2014 của Ủy ban nhân dân huyện về  việc tập huấn cán bộ làm cán bộ làm công tác Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ  nữ huyện ĐăkR’Lấp. ­ Kế hoạch số  29/KH­BVSTBPN ngày 15/4/2015 của Ban vì sự tiến bộ phụ  nữ huyện ban hành Kế hoạch thực hiện hoạt động Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ  của phụ nữ huyện ĐăkR’Lấp. ­ Chương trình số 24/CTr ­ UBND ngày 06/7/2016 của Ban vì sự tiến bộ phụ  nữ huyện về việc công tác Bình đẳng giới và vì sự  tiến bộ của Phụ nữ năm 2016  trên địa bàn huyện ĐăkR’Lấp. b) Tổ chức, bộ máy và kinh phí hoạt động ­ Bộ  máy tổ  chức và hoạt động về bình đẳng giới và vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ  ở  địa   phương  được   kiện   toàn  theo  Ban   vì   sự   tiến   bộ   của   phụ   nữ   huyện   ĐăkR’Lấp được kiện toàn theo Quyết định số  1286/QĐ­UBND, ngày 23/08/2010  của  Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông về  việc thành lập Ban vì sự  tiến bộ  phụ  nữ  huyện Đăk R’Lấp. Năm 2014, Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện ĐăkR’Lấp đã được kiện toàn lại   vì có một số thành viên thay đổi với số thành viên hiện tại là 19 thành viên. Trong  đó đồng chí Phó chủ  tịch UBND – Phụ  trách Văn hóa – Xã hội làm Trưởng ban,   đồng chí Phó trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện làm phó ban   thường trực, còn lại các đồng chí là các Trưởng, phó phòng ban các cơ  quan trong  huyện, các Phó chủ  tịch UBND các xã, thị  trấn phụ  trách Văn hóa – Xã hội làm  thành viên. . Xây dựng và ban hành Quy chế  hoạt động của Ban Vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ  huyện. Đến nay, toàn huyện đã có trên 10 ban, ngành, đoàn thể và 11/11 xã, thị  trấn, cơ  bản kiện toàn, thành lập tổ  chức bộ  máy Ban vì sự  tiến bộ  phụ  nữ  hoặc  
  3. phân công cán bộ  phụ  trách công tác bình đẳng giới đi vào hoạt động từng bước   đạt hiệu quả, thiết thực. ­ Kinh phí hoạt động:  Ngân sách Nhà nước đầu tư  cho công tác  bình đẳng  giới là: 60 triệu đồng cụ thể qua các năm:                ĐVT: Triệu đồng Ngân sách  Năm Ngân sách địa phương Tổng  Trung ương 2011 0 0 0 2012 0 0 0 2013 35 35 2014 0 0 0 2015 25 0 25 2016 0 0 0 Tổng cộng 60 60 c) Việc triển khai Chiến lược quốc gia về  bình đẳng giới giai đoạn  2011­2020; Chương trình hành động quốc gia giai đoạn 2016­2020 và tổ  chức  các hoạt động về bình đẳng giới tại địa phương ­ Ban hành chương trình công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ hằng năm; hướng   dẫn các phòng, ban, ngành, UBND các xã, thị  trấn triển khai công tác Bình đẳng  giới.  ­ Phối hợp với Đài Phát thanh ­ Truyền hình huyện, phòng Văn hoá – Thông  tin, đưa 40 tin, bài, phóng sự về bình đẳng giới.  ­ Tổ chức 02 lớp tập huấn nâng cao năng lực công tác bình đẳng giới cho đội  ngũ cán bộ  làm công tác bình đẳng giới và vì sự  tiến bộ  phụ  nữ  các cấp với 215   lượt người tham dự  tại các xã thị  trấn. Đồng thời phối hợp với Sở  Lao động –  Thương binh và Xã hội triển khai các lớp tập huấn cho cán bộ phụ nữ ở huyện. d) Hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ và cơ chế phối hợp hoạt  động với các cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại địa phương. Công tác vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ   huyện  trong thời gian qua đã được sự  quan tâm của Đảng, nhà nước, các cấp, các ngành đoàn thể tạo bước chuyển biến   mạnh mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình   đẳng giới, từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng cao vị  thế  của phụ  nữ  trong một số  lĩnh vực bất bình đẳng hoặc nguy cơ  bất bình đẳng giới cao, góp   phần thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong 
  4. mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội trên địa bàn huyện.  Trong thời gian tới, Ban vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ  huyện ĐăkR’Lấp tiếp tục tập  trung triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản của Đảng, Nhà nước và Ủy ban  nhân dân tỉnh về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. Bồi dưỡng   nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ  của phụ  nữ. Tăng cường các hoạt động giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm   trong việc thực hiện bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ…. Bên cạnh đó còn có   những khó khăn như: tỷ  lệ  phụ  nữ  tham gia công tác quản lý, lãnh đạo trong hệ  thống chính trị   ở  huyện ĐăkR’Lấp  vẫn chưa nhiều, thiếu tính  ổn định và bền  vững; tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đến nay còn thấp. đ) Việc rà soát các văn bản quy định hiện hành (theo quy định của Mục   II.1 chỉ  thị  số  10/2007/CT­TTg của Thủ  tướng Chính phủ  ngày 03/5/2007 về  việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới) và lồng ghép vấn đề bình đẳng   giới trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (theo quy định Thông  tư 17/TT­BTP của Bộ Tư pháp ngày 13/8/2014).  Đến nay, huyện chưa triển khai 02 nội dung trên vì chưa có văn bản hướng  dẫn cụ thể của Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ban, ngành.  e) Việc lồng ghép vấn đề  bình đẳng giới trong xây dựng cơ  chế, chính  sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Huyện đã lồng ghép vấn đề  bình đẳng giới vào việc xây dựng quy hoạch, kế  hoạch phát triển kinh tế  ­ xã hội của huyện, các ban, ngành, địa phương có liên  quan đến các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch hành động, theo từng năm và nhiệm   kỳ, nâng cao trách nhiệm trong tổ  chức thực hiện, tạo ra những chuyển biến tích  cực trong nhận thức của các cấp  ủy Đảng và chính quyền, lãnh đạo các doanh   nghiệp, người lao động và nhân dân nói chung về việc thực hiện bình đẳng giới. Những lĩnh vực đã lồng ghép giới trong kế  hoạch bao gồm các lĩnh vực: lao   động, việc làm, trong giáo dục, đào tạo, y tế, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, gia  đình.  3. Đánh giá kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật bình đẳng giới  trong 8 lĩnh vực được quy định tại Chương II (từ  Điều 11 đến Điều 18 của  Luật bình đẳng giới) trong đó tập trung vào các nội dung: ban hành các quy  định, hướng dẫn triển khai và việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình  đẳng giới của từng lĩnh vực tại địa phương 3.1. Bình đẳng trong lĩnh vực chính trị ­ Tổ chức tuyên truyền cho 9.868/10.126 lượt cán bộ, hội viên phụ nữ các  thôn, bon tích cực hưởng  ứng các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng  kỷ  niệm 85 năm thành lập Đảng; 105 năm ngày Quốc tế  phụ  nữ  (8/3/1910 –   8/3/2015 ) và 1975 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng; 125 năm ngày sinh chủ  tịch  
  5. Hồ  Chí Minh 19/5; Đại hội đại biểu Đảng bộ  huyện ĐăkR’Lấp lần thứ  VIII,   Đại hội đại biểu tỉnh lần thứ  XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XII của  Đảng; tuyên truyền ngày thương binh liệt sỹ  27/7; 70 năm cách mạng tháng 8  và Quốc khánh 2/9; 85 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10  đạt 97,4  %. ­ Tuyên truyền Chỉ thị số 46­CT/TW, ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về  tăng cường sự  lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh, trật tự  trong tình hình mới; Chương trình mục tiêu Quốc gia   phòng ngừa tố  giác tội  phạm và phòng chống mua bán người năm 2015; công tác Bảo hiểm y tế toàn  dân; Vận động các gia đình cán bộ, hội viên, phụ nữ  luôn đoàn kết hướng về  Biển Đảo và bảo vệ  chủ  quyền của đất nước, thực hiện tốt chủ  trương của  Đảng và hành hung người Trung Quốc đang sống và làm việc tại địa phương.  Kết quả có 10.025/10.126 lượt cán bộ, hội viên, phụ nữ tham gia, đạt 99 %. ­ Tuyên truyền việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ  Chí Minh chủ  đề  năm 2015 về  trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân,  Đoàn kết xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng nông thôn  mới có 9.726/10.126 lượt cán bộ, hội viên, phụ nữ tham gia, đạt 96 %. ­ Tiếp tục triển khai thực hiện Đề  án “Tuyên truyền giáo dục phẩm chất   đạo đức Phụ  nữ  Việt nam thời kỳ  đẩy mạnh CNH­HĐH đất nước giai đoạn   2010­2015; Đề  án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ  nuôi dạy con tốt giai đoạn 2010­ 2015”; Đề  án “Hỗ  trợ  phụ  nữ  học nghề, giới thiệu việc làm” đến 11/11 Hội  phụ  nữ  xã, TT. Kết quả có 10.126/10/126 lượt cán bộ, hội viên, phụ  nữ  tham   gia,  đạt 100%. ­  Xây dựng kế  hoạch triển khai Nghị quyết số  04/NQ­ĐĐ của Hội LHPN   Việt Nam về đổi mới và tăng cường lãnh đạo công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức,  lối sống cho cán bộ, hội viên phụ nữ đến 11/11 Hội phụ nữ  xã, TT và các đơn vị  trực thuộc. ­ Có 72 đ/c là đại biểu dự Đại hội Đảng bộ  huyện lần thứ  VIII, nhiệm   kỳ  2015­2020. Kết quả  có 8/41 đ/c được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ  huyện đạt 19,5%; (trong đó chủ tịch Hội phụ nữ huyện 01 đồng chí). 3.2. Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế việc làm Luôn đẩy mạnh, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi trọng   phát huy nội lực của phụ nữ để giảm nghèo bền vững; qua các phong trào   “Phụ  nữ  giúp nhau phát triển kinh tế”,  “Giúp phụ  nữ  nghèo có địa chỉ”,  “Thực hành tiết kiệm theo gương Bác” với nhiều hình thức sáng tạo như  “Hũ gạo tình thương”, “Nuôi heo đất”, “Mỗi hội viên, phụ  nữ  tiết kiệm   5.000đồng/tháng”... được triển khai sâu rộng trong cán bộ, hội viên, phụ  nữ. Từ các phong trào vận động được 3.432.750.000đ, giúp cho 412 lượt chị  phụ nữ để phát triển kinh tế.
  6. Tổng số hộ nghèo của huyện 1.680 hộ với 6.928 khẩu, tỷ lệ hộ nghèo   8,4%; trong đó: đồng bào dân tộc tại chỗ  349 hộ với 1.5560 khẩu, dân tộc   kinh 1.172 hộ  với 4.602 khẩu; tổng s ố phụ n ữ nghèo làm chủ  hộ  566 hộ,   phụ nữ làm chủ hộ nghèo được giúp đỡ 386, phụ nữ làm chủ hộ được giúp   thoát nghèo 187. Tỷ  lệ  hộ  nghèo do phụ  nữ  làm chủ  hộ  giảm 12% so với   đầu nhiệm kỳ. Vốn Quỹ cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế, đến nay toàn huyện đã thành  lập được 36 nhóm với gần 600 thành viên tham gia (3 xã: Quảng Tín, Đăk  Wer,   Đăk   Ru),   tổng   dư   nợ   đến   nay   trên   5   tỷ   đồng   (số   liệu   đến   ngày  30/7/2016). Công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề  và giới thiệu việc làm, ngày   càng được  chú trọng; trong nhiệm kỳ  qua Hội LHPN huyện  đã phối hợp  với Trường Dạy nghề của Huyện mở 02 lớp đào tạo May công nghiệp, có   92 học viên tham gia, trong đó có 85 học viên nữ và sau đào tạo được tuyển  dụng vào làm việc tại Cơ sở May của Trường Dạy nghề của Huyện. Phối   hợp với Trung tâm giới thiệu việc làm của Hội LHPN tỉnh tổ chức được 04   lớp Dệt Thổ cẩm với 120 chị tham gia. Phối hợp với Phòng nông nghiệp và  phát triển nông thôn, Trạm khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, Trạm thú   y, tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho kho ảng 1.330 l ượt   phụ nữ tham gia.  ­ Duy trì mô hình phụ  nữ  Công an giúp nhau phát triển kinh tế  gia đình;   mô hình nuôi heo đất mỗi tháng tiết kiệm 20.000 đ/HV/tháng, tạo quỹ tặng quà  cho chị em phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trong huyện nhân dịp lễ, tết..  ­ Vốn quỹ cơ hội cho phụ nữ làm kinh tế (3EM): Đến nay toàn huyện đã  thành lập được 35 nhóm với 574 thành viên tham gia (3 xã: Quảng Tín, Đăk   Wer, Đăk Ru). Tổng dư nợ là: 5.161.200.000đ.  ­ Tổ chức giao ban Quỹ cơ hội cho 34 chị là các nhóm trưởng, các tổ  tiết  kiệm  và 04 lớp tập huấn  thuộc dự án 3EM, có 160 lượt người tham gia. ­ Duy trì 03 mô hình sản xuất, chế biến hạt điều của chị Phạm Thị Luyến   và Nguyễn Thị  Hạnh, Trần Thị  Mỹ   ở  Đắk Ru, 01 trang trại nuôi heo của chị  Nguyễn Thị  Hường tại xã Đắk Ru. Đã tập hợp, thu hút và tạo việc làm cho   khoảng 100 chị.  3.3. Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ­ Lĩnh vực giáo dục đào tạo được tập trung chỉ  đạo thực hiện ngày càng có  nhiều chuyển biến. Quan tâm đầu tư  xây dựng cơ  sở  vật chất trường học, bồi  dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên đáp  ứng yêu cầu dạy và học trong tình  hình mới, các giáo viên và cán bộ quản lý đạt chuẩn và trên chuẩn. Đến nay,  11/11  xã, thị trấn đã được công nhận đạt chuẩn PCGDMNNT, hoàn thiện hồ sơ  đề  nghị  công   nhận   lại   đạt   chuẩn   PCGDMNNT   cấp   huyện.   Năm   học   2015­2016,   toàn 
  7. huyện có 57 trường học các cấp, trong đó: 15 trường mầm non (02 trường mầm   non tư thục) với 3.223 học sinh; 23 trường tiểu học với 8.783 h ọc sinh; 13 tr ường   THCS với 6.313 học sinh; 04 trường THPT, 01 trường phổ thông Dân tộc nội trú và   01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, có 15 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó có  Trường THPT Phạm Văn Đồng), tỷ lệ chiếm 26%.    ­ Tổ chức Hội cấp cơ sở 12 (trong đó HPN xã, TT: 11; HPN Công an: 01);  Chi hội thôn bon: 110 (trong đó: Chi hội thôn: 98;  chi hội Bon: 12);  Tổng số  hội viên đến 30/10/2015 có 10.126 HV (trong đó dân tộc kinh: 8.106; dân tộc  thiểu số: 2.020); HV thường xuyên sinh hoạt có 8.468 (trong đó dân tộc kinh:  6.865; dân tộc thiểu số: 1.603);    Phát triển hội viên mới 80 chị (trong đó: dân  tộc kinh: 67; dân tộc thiểu số 13);  chuyển sang Hội Người Cao tuổi và chuyển  đi nơi khác 78 chị. Chất   lượng   hoạt   động   của   tổ   chức   Hội   cơ   sở   được   nâng   lên,   lực  lượng hội viên nòng cốt có 285 hội viên trên 11 xã/thị trấn; cơ sở Hội xếp   loại vững mạnh và xuất sắc bình quân hàng năm  tỷ  lệ  đạt 80%; khá đạt  20%; không có cơ  sở  trung bình và yếu kém;  cán bộ  Hội được khen tặng  danh hiệu “Cán bộ hội cơ sở giỏi” tăng hàng năm.  Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ  được hội đặc biệt quan tâm, đã   góp phần quan trọng nâng cao năng lực, trình độ  và chuẩn hóa cán bộ  Hội  từ  cấp huyện đến cơ  sở. Tính chung các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, đã  có  220   lượt   chị   tham   gia học   tập.   Có  100%   chủ   tịch,   phó   chủ   tịch   Hội   LHPN cấp huyện đạt trình độ  Đại học; cán bộ  Hội cấp xã/TT có 7/22 chị  đạt trình độ  Đại học – Cao đẳng, tỷ  lệ  31,81% , có 13/22 chị  đạt trình độ  trung cấp, tỷ lệ 59,09%; có 02/22 chị đạt trình độ sơ cấp, tỷ lệ 9,09%. Công tác thi đua khen thưởng từng bước được đổi mới, nội dung thi  đua có trọng tâm, trọng điểm, khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của mỗi  cấp Hội. Việc xét khen thưởng được thực hiện thường xuyên, công khai,  dân chủ, đúng quy định. 3.4. Bình đẳng trong lĩnh vực y tế Phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh ĐăkNông phát thẻ miễn phí cho 105  hộ dân xã Đăk Wer có hoàn cảnh khó khăn. Vận động được 3.164 chị tham gia  mua bảo hiểm y tế tự nguyện. Phối hợp với ngành y tế, TT KHH gia đình tổ  chức cuộc vận động “ phụ  nữ cả nước thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng   đồng”; tư  vấn về kiến thức nuôi dạy con và tổ  chức chiến dịch chăm sóc sức   khoẻ sinh sản tại 11/11 xã, thị trấn. Kết quả có 10.126 chị  tham gia đăng ký và   đã có 10.020 chị thực hiện, đạt 98,9 %.
  8. + KHHGĐ có  3.326 chị  thực hiện (trong đó  1.210 chị  đặt vòng; uống  thuốc tránh thai 1.967chị; bao cao su 1.144, đình sản 12, đặt dụng cụ  tử  cung   703); Số lượt khám và điều trị phụ khoa có 6.196 chị + Dự  án tiêm chủng mở rộng: Tỷ lệ  trẻ tiêm chủng đầy đủ  8 loại vắc xin   đạt 41,7% tỷ lệ phụ nữ được tiêm UV2+ là 35,2%; tỷ lệ phụ nữ 15 ­ 35 được tiêm  UV2+ là 53,9%;  tỷ  lệ  trẻ  sơ  sinh được tiêm văc xin viêm gan B trước 24 giờ  đạt  42,4%.  3.5. Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa thông tin Chiến lược quy định đến năm 2016  giảm 60% sản phẩm văn hoá, thông tin  mang định kiến giới; tăng thời lượng phát sóng các chương trình, chuyên mục và số  lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về  bình đẳng giới; có  80% đài phát  thanh địa phương có chuyên mục, chuyên đề  nâng cao nhận thức về  bình đẳng  giới. Trong thời gian qua, nhờ các hoạt động truyền thanh đã góp phần quan trọng  trong việc cung cấp thông tin, các chủ  trương chính sách của Đảng, pháp luật của  Nhà nước tới nhân dân, trong đó có Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo   lực gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đài phát thanh huyện  đã xây dựng  nhiều chuyên đề, chuyên mục, chuyên trang về  gia đình – xã hội đề  cập các nội  dung về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình.  Phối hợp với các cơ quan ban, ngành liên quan thường xuyên tăng cường kiểm  tra và thu hồi các sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới mang nội dung   bạo lực gia đình. Như vậy cho thấy, đã có sự chuyển biến trong hành động của các  đơn vị chức năng liên quan đối với việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới hiện   nay. 3.6. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Công tác tuyên truyền, vận động phụ  nữ  thực hiện chủ  trương của   Đảng,   chính   sách   pháp   luật  của   Nhà  nước,   đặc   biệt  là   các   chủ   trương,  chính sách liên quan trực tiếp đến phụ  nữ  như: Nghị  quyết số  11­NQ/TW  của Bộ  Chính trị  về  công tác phụ  nữ  thời kỳ  đẩy mạnh công nghiệp hóa,  hiện đại hóa đất nước, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia   đình; Tuyên truyền Chỉ  thị  số  46­CT/TW, ngày 22/6/2015 của Bộ  Chính trị  về  tăng cường sự  lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh,   trật tự trong tình hình mới; Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng ngừa tố  giác  tội  phạm   và   phòng   chống   mua  bán  người   năm  2015;   công   tác   Bảo   hiểm y tế  toàn dân; tuyên truyền, vận động các gia đình cán bộ, hội viên,  phụ  nữ  luôn đoàn kết hướng về  Biển Đảo và bảo vệ  chủ  quyền của đất  nước, thực hiện tốt chủ trương của Đảng. Kết quả  có 10.025/10.126 lượt   cán bộ, hội viên, phụ nữ tham gia, đạt 99 %. 
  9. Đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ  nữ Việt Nam   thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai đoạn 2010­ 2015”; đã tạo tiền đề quan trọng động viên phụ nữ rèn luyện, phấn đấu giữ  gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của người phụ  nữ  Việt Nam. Các hình  thức tuyên truyền ngày càng đa dạng như: Truyền thông trực tiếp, tổ  chức   Hội thi cán bộ  Hội cơ  sở  giỏi, Hội thi Hát ru hát dân ca cổ  truyền, Giải   bóng chuyền nữ, Hội nghị biểu dương phụ nữ điển hình tiên tiến, tổ  chức   mít tinh, tọa đàm, hội diễn văn nghệ, Hội thi ẩm thực, thi viết tìm hiểu về  Luật giao thông, Luật phòng chống ma túy, biến đổi khí hậu, bảo vệ  môi  trường…vv đã thu hút hàng ngàn lượt cán bộ, hội viên phụ  nữ  tham gia.   Qua đó đã từng bước nâng cao trình độ  hiểu biết về  kiến thức pháp luật,  tạo chuyển biến trong nhận thức, đến thay đổi hành vi và ý thức về  sống   và làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong cán bộ,  hội viên phụ  nữ,   đồng thời phát huy những giá trị  truyền thống tốt đẹp của người phụ  nữ  Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Phong   trào đọc sách và học tập qua sách báo được các cấp Hội quan tâm triển khai   trong cán bộ, hội viên, phụ nữ, các cơ sở Hội đã xây dựng và duy trì tủ sách   phụ  nữ… nhằm   đáp  ứng nhu cầu của cán bộ  Hội cơ  sở  trong triển khai   công tác Hội và góp phần nâng cao hiểu biết của phụ nữ. Hàng năm có 80%  hội viên, phụ  nữ  được tham gia các hoạt động tuyên truyền giáo dục của   các cấp Hội, đạt chỉ tiêu so với Nghị quyết (NQ 80%). Việc sâu sát cơ  sở, nắm bắt tình hình tư  tưởng, đời sống, nhu cầu,   nguyện vọng của các tầng lớp phụ  nữ  ngày càng được coi trọng và tiến  hành thường xuyên hơn, quan tâm những nơi có diễn biến phức tạp, vùng  quy hoạch, giải tỏa... Chủ động phản ánh với cấp ủy, chính quyền những   vấn đề  bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng của phụ  nữ, của nhân dân; tuyên  truyền, hướng dẫn phụ nữ thực hiện quyền và nghĩa vụ  của công dân, góp  phần đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, các cấp hội còn  chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền miệng,   tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng.  4. Tình hình triển khai thực hiện Thông tư số 07/2012/TT­BKHĐT ngày  22/10/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư  quy định nội dung Bộ chỉ tiêu thống   kê phát triển giới của quốc gia; Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới cấp tỉnh,   huyện, xã. Trong thời gian quan, công tác thu thập, xử lý thông tin số liệu vê bình đẳng   giới được quan tâm, báo cáo cơ  bản đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn gặp khó khăn do  đội ngũ cơ  sở  chưa được củng cố, chưa có cán bộ  chuyên trách cho công tác bình  đẳng   giới   nên   công   tác  thực   hiện   Thông   tư   số   07/2012/TT­BKHĐT   ngày  22/10/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chưa được triển khai.
  10. 5. Đánh giá vai trò, trách nhiệm của cơ quan được phân công chủ trì nội  dung này và sự phối hợp với các cơ quan có liên quan ­ Uỷ  ban nhân dân huyện là cơ  quan được phân công chủ  trì nội dung  thực  hiện Luật Bình đẳng giới đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh trong tổ chức triển   khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án. ­ Chỉ đạo, phối hợp với phòng Văn hoá ­ Thông tin , Đai Phát thanh ­Truy ̀ ền   ̀ ́ ̣ ̣ ̉ hình tuyên truyên cac nôi dung vê Luât Binh đăng gi ̀ ̀ ơi, vì s ́ ự tiến bộ phụ nữ và cać   ̉ ương dân thi hanh Luât Binh đăng gi văn ban h ́ ̃ ̀ ̣ ̀ ̉ ới, thông qua cac đ ́ ợt truyên thông cao ̀   ̉ điêm nh ư ngay Quôc tê Phu n ̀ ́ ́ ̣ ữ 8/3, ngay gia đinh Viêt Nam 28/6 và ngày b ̀ ̀ ̣ ầu cử  đại  biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 ­   2021. ­ Phối hợp với Ban vì sự tiến bộ phụ nữ phòng Nội vụ tổ chức tuyên truyền,  phổ biến thông tin chính sách, pháp luật về giới và bình đẳng giới.  Tuy nhiện, đội ngũ cán bộ của huyện thực hiện công tác  Bình đẳng giới rất  ít so với yêu cầu công việc nên có lúc chưa kịp thời. 6. Kiểm tra, giám sát thi hành Luật bình đẳng giới và xử lý vi phạm Qua các năm  Ủy ban nhân dân tỉnh tổ  chức kiểm tra công tác vì sự  tiến bộ  của phụ nữ và bình đẳng giới tại 11 xã, thị trấn. Theo đó, đã tổ chức các đoàn kiểm   tra tại các cơ quan, địa phương. Qua kiểm tra các cơ quan, địa phương đã xây dựng  và triển khai thực hiện Kế hoạch về bình đẳng giới kế hoạch hằng năm; bố trí cán  bộ kiêm nhiệm làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; đã thành   lập và kiện toàn Ban Vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ  cấp xã. Công tác thông tin, tuyên  truyền chính sách, pháp luật về bình đẳng giới được các cơ quan, địa phương thực  hiện với nhiều hình thức phong phú, phù hợp góp phần tích cực nâng cao nhận  thức nhằm thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới và tạo chuyển biến mới trong   thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về bình đẳng giới. 7. Những khó khăn và vướng mắc, những khoảng trống giữa quy định  của Luật bình đẳng giới và việc thực thi trong thực tế và đề nghị phân tích rõ  nguyên nhân chủ quan, khách quan của những hạn chế, vướng mắc. Đồng  thời xác định những vấn đề mới nảy sinh trong thực hiện bình đẳng giới cần  được điều chỉnh 7.1. Những khó khăn, vướng mắc ­ Một số đơn vị chưa chủ động trong công tác phân tích, thống kê số liệu tách  biệt giới, dẫn đến việc đánh giá kết quả thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự  tiến bộ của phụ nữ gặp nhiều khó khăn. ­ Định kiến giới đôi lúc, đôi khi còn tồn tại trong cơ quan, đơn vị, nam nữ vẫn   chưa thực sự bình đẳng trên một số lĩnh vực…
  11. ­ Phụ nữ ít có cơ hội nắm giữ các vị trí mang tính chiến lược, ra quyết định và  có tầm ảnh hưởng, chủ yếu đảm nhận vị trí cấp phó dẫn đến kết quả bầu cử Ban   chấp hành bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016­2021 thấp   so với kế hoạch. ­ Các thành viên của Ban VSTBCPN ở các cấp đều hoạt động kiêm nhiệm, sự  phối kết hợp giữa các ngành, các cấp chưa được thường xuyên, liên tục nên gặp  không ít khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ. 7.2. Nguyên nhân ­ Sự phối hợp liên ngành đôi lúc chưa chặt chẽ, triển khai các kế hoạch chậm  so với yêu cầu. Do huyện chưa có cán bộ  chuyên trách và đội ngũ cộng tác viên   chưa được củng cố  đã làm ảnh hưởng rất lớn cho công tác giám sát, quản lý, báo   cáo tình hình công tác bình đẳng giới và vì sự  tiến bộ  của phụ  nữ  trên địa bàn   huyện. Do địa bàn rộng, dân di cư tự do nhiều, phong tục tập quán, đời sống   của một bộ phận phụ nữ gặp khó khăn; gánh nặng công việc gia đình với   trách nhiệm xã hội; nhu cầu học tập nâng cao trình độ  năng lực mọi mặt,   tâm lý tự  ti, tiêu cực và tệ nạn xã hội là những cản trở  đối với sự  tiến bộ  và phát triển của phụ  nữ. Việc thực hiện các chủ  trương chính sách của  Đảng về phụ nữ và Bình đẳng giới trong xã hội và một số bộ phận cán bộ,  đảng viên chưa đầy đủ. Thiếu nguồn lực cả  về  con người và kinh phí để  thực hiện chủ trương “Hướng về cơ sở”. Một số cán bộ Hội còn hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ  năng xử  lý, tổ  chức thực hiện và khả  năng tuyên truyền, vận động; thiếu   chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội; còn tâm   lý trông chờ  vào chỉ  đạo, hướng dẫn cụ  thể  từ  cấp trên, thiếu cụ  thể  hóa   theo tình hình và nhu cầu của địa phương. Công tác phối hợp hoạt động với   các ban, ngành, đoàn thể thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Việc phát huy  vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ chưa đáp ứng yêu cầu thực  tiễn. ­ Công tác tuyên truyền còn chưa đi vào chiều sâu, thiếu những hình thức   phong phú, hấp dẫn, kỹ  năng trong công tác truyền thông của cán bộ  cơ  sở  dù có  tập huấn nhiều nhưng do có sự  thay đổi nên chưa đáp  ứng yêu cầu. Cán bộ  làm  công tác này ở các cấp đều kiêm nhiệm nên công việc triển khai đôi lúc còn chậm   so với kế hoạch đề ra. ­ Kinh phí cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ tại cơ quan, đơn vị, cơ sở  còn ít, nên còn ảnh hưởng đến  hoạt động của Ban. 8. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới 8.1. Đối với các cơ quan trung ương
  12. ­ Đề  nghị  Quốc hội: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ  thống luật pháp,  chính sách theo hướng bảo đảm bình đẳng giới thực chất. Rà soát, sửa đổi những  quy định tạo ra sự bất lợi đối với lao động nữ của pháp luật lao động, trong đó có   sự phân biệt về tuổi tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. 8.2. Đối với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh: a. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự chỉ đạo của lãnh đạo  đơn vị đối với công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ. b. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng thực hiện: ­ Đề xuất các chính sách nâng cao chất lượng nguồn cán bộ  nữ; tăng cường  biên chế  cho cấp huyện và cấp xã để  đủ  sức đảm đương hoạt động bình đẳng  giới. ­ Lồng ghép có hiệu quả  nội dung bình đẳng giới, chú trọng các biện pháp  thúc đẩy bình đẳng giới, chính sách hỗ trợ phụ nữ. ­ Tổ chức các khóa tập huấn nhằm tuyên truyền, phổ biến và nâng cao trách  nhiệm của lãnh đạo đơn vị trong thực hiện bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ  nữ; ­ Hỗ trợ các dự án, vốn vay cho phụ nữ nghèo các xã, thị  trấn để  phát triển   kinh tế. ­ Động viên, phát triển phong trào phụ  nữ; đưa nội dung tuyên truyền, giáo  dục về giới và bình đẳng giới vào nội dung sinh hoạt của cơ quan, công đoàn, đoàn  thanh niên… ̀ ế độ phụ cấp cho đội ngũ cán bộ hội, nhất là các chức danh Phó chủ  ­ Vê ch tịch Hôi ph ̣ ụ  nữ  xã, thi trân; chi h ̣ ́ ội trưởng, chi hội phó các thôn, bon còn thấp   không đáp  ứng được nhu cầu cuộc sống với tình hình hiện nay, nên không động  viên kịp thời đến cán bộ Hội cơ sở để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đề nghị  các cơ  quan chức năng cần xem xét điều chỉnh lại chế  độ  phụ  cấp cho các chức   danh trên, để đảm bảo hoạt động của các cấp Hội được tốt hơn. ­ Đề  nghị  Sở  Tài chính nghiên bố  sung thêm kinh phí hoạt động bình đẳng   giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. ­ Về  chế  độ  báo cáo các chuyên đề: đề  nghị  Tỉnh Hội phối hợp với các  ngành liên quan của tỉnh để lấy các số liệu báo cáo như: (số liệu về y tế, mại dâm,  ma túy, dân tộc, tôn giáo …) để  giảm bớt chế  độ  báo cáo chuyên đề  cho cấp  huyện; hiện tại biên chế  cán bộ  cấp huyện có hạn; bên cạnh đó theo sự  chỉ  đạo  của Trung ương Hội và Tỉnh Hội cần phải hướng về cơ sở nhiều hơn để nắm bắt  tình hình, tâm tư nguyện vọng của chị em hội viên phụ  nữ; mặt khác việc lấy số  liệu liên quan đến (ma túy, mại dâm, HIV …) rất khó khăn, cho nên cũng  ảnh   hưởng đến công việc của Hội. 2. Đối với Ban VSTBPN tỉnh Đăk Nông:
  13. ­ Về kinh phí phục vụ cho các hoạt động phong trào, các Đề  án của các cấp  Ban còn hạn chế, nên không tổ  chức được các phong trào thiết thực phù hợp với  địa phương. Đề nghị các cơ quan chức năng cần bổ sung kinh phí để Ban triển khai  tổ chức các phong trào, Đề án theo kế hoạch đã đề ra.  ­ Đề  nghị  Ban vì sự  tiến bộ của phụ nữ tỉnh: Tổ  chức các lớp tập huấn về  lồng ghép giới và bồi dưỡng nghiệp vụ  hoạt động vì sự  tiến bộ  phụ  nữ  cho đối   tượng lãnh đạo các ngành, các cấp; Tổ chức các lớp tập huấn cho báo cáo viên cấp   huyện để  tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương trong triển khai công tác bình   đẳng giới. ­ Tiếp tục ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện các mục tiêu  của Chỉ thị 49 cho phù hợp trong tình hình mới. ­ Cần tiếp tục xây dựng các dự án, chính sách trong việc đầu tư xây dựng các  thiết chế về văn hóa ở những thôn, bon còn khó khăn phục vụ cho công tác gia đình  ­ Tổ chức kiểm tra việc triển khai thực hiện thường xuyên; tổ chức hội nghị,   hội thảo các chuyên đề  liên quan nhằm đúc rút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình   tiên tiến. B. Về lĩnh vực hôn nhân và gia đình 1. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống  bạo lực gia đình. Hàng năm Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Văn hóa và Thông tin ban  hành kế hoạch và chủ động thực hiện  công tác tuyên truyền về Luật phòng, chống  bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em…trong các  ngày : quốc tế hạnh phúc 20/3, ngày gia đình Việt Năm 28/6, ngày thế giới chấm  dứt bạo lực với phụ nữ 25/11 bằng nhiều hình thức như: Băng rôn, Áp phích, xe  loa lưu động, lồng ghép việc tuyên truyền trong các buổi văn nghệ, các buổi chiếu  phim ở các thôn bon; Tổ chức Hội thi tìm hiểu Luật phòng, chống bạo lực gia đình cấp huyện với  sự tham gia đông đảo các đội thi đến từ các xã, thị trấn; Chỉ đạo Đài truyền thanh huyện xây dựng và phát sóng các bài phóng sự về  bạo lực gia đình và phổ biến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên Đài  Truyền thanh huyện và hệ thống phát thanh của các xã, thị trấn; Chỉ đạo UBND các xã, thị trấn thực hiện công tác tuyên truyền hàng năm,  trong đó có tuyên truyền về Luật phòng chống bạo lực gia đình; Ngoài ra việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia  đình còn được lồng ghép trong các trong các buổi sinh hoạt câu lạc bộ phòng,  chống bạo lực gia đình, trong các buổi sinh hoạt chi bộ, cuộc họp thôn, bon, tổ dân  phố…
  14. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống bạo  lực gia đình mang lại hiệu quả cao, góp phần đẩy lùi tình trạng bạo lực gia đình  trên địa bàn huyện. Xây dựng gia đình “No  ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” là mục  tiêu hướng tới của phần lớn các chương trình, các hoạt động của cuộc Hội;   hàng năm có 83,5% gia đình cán bộ, hội viên phụ nữ đạt 4 chuẩn mực, vượt  chỉ tiêu so với nghị quyết đề ra (NQ 80%). Đề  án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ  nuôi, dạy con tốt giai đoạn 2010 –   2015” đã bước đầu hỗ trợ phụ nữ nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng,   hướng tới thay đổi hành vi nuôi, dạy con theo khoa học, đã tổ  chức tập  huấn được 04 lớp (tỉnh 01, huyện 03) cho các đối tượng là tuyên truyền   viên ở cơ sở, chi hội trưởng, chi hội phó ở thôn, bon, TDP; với 255 chị tham   gia. Các cấp hội lồng ghép trong sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm phụ  nữ  tiết   kiệm, sinh hoạt chi hội, để  truyền thông nâng cao kiến thức, kỹ  năng về  chăm sóc sức khỏe sinh sản, dân số, KHHGĐ, nuôi dạy con, phòng chống  tệ nạn xã hội, phòng chống dịch bệnh, HIV/AIDS, phòng chống bạo lực gia  đình… góp phần hỗ trợ  phụ nữ  thực hiện vai trò nòng cốt trong xây dựng   gia đình hạnh phúc. Hàng năm có 80% các bà mẹ  trong độ  tuổi sinh đẻ  có  kiến thức nuôi con theo phương pháp khoa học, đạt 100% so với nghị quyết  Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch ” gắn phong trào  “Cả  nước chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị  văn minh”  có nhiều  nội   dung   thiết   thực   được   các   cơ   sở   Hội   hưởng   ứng   tích   cực;   đến   nay  8.468/10.126  hộ   gia   đình   hội   viên   nắm   vững   các   tiêu   chí   đạt   83,6%,   có  3.775 hộ  gia đình đạt tiêu chí  “5 không, 3 sạch”.   Cuộc  vận động “xây   dựng gia đình 5 không 3 sạch” được đông đảo hội viên, phụ nữ hưởng ứng   tham gia, đang từng bước đi vào cuộc sống, là nhân tố tích cực thúc đẩy đổi  mới phương thức hoạt động, đã thành lập được 11 mô hình điểm “ 5 không  3 sạch” tại 11 xã, thị trấn để nhân rộng trên toàn huyện. Để  nâng cao vai trò của gia đình trong giải quyết các vấn đề  xã hội,   Hội  LHPN huyện phối  hợp với Công an huyện tiếp tục triển khai thực   hiện Nghị quyết liên tịch số 01/NQ­LT về “ Quản lý, giáo dục con em trong   gia đình không phạm tội và các tệ  nạn xã hội ” ; phối hợp với ngành giáo  dục tiếp tục triển khai phong trào “Trường học thân thiện học sinh tích   cực”,   cuộc   vận   động   “Tiếp   bước   cho   em   đến   trường”;   phối   hợp   với  Chương trình Phát triển vùng (Tầm nhìn thế giới) triển khai các phong trào   hoạt động như: tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ  năng chăm cóc dinh  dưỡng trẻ  cho bà mẹ  và người chăm trẻ, tổ  chức hội thi “Nuôi con bằng  sữa mẹ  ...”, thi “Chăm sóc sức khỏe trẻ  em”, vv ...; các chương trình phối  hợp đã góp phần thiết thực nâng cao trách nhiệm của các bậc cha mẹ trong   việc nuôi dạy, giáo dục con cái.
  15. Công tác hậu phương quân đội, nhân đạo từ  thiện được các cấp Hội   duy trì   thường xuyên,  tổ  chức  các hoạt động đền  ơn đáp nghĩa nhân kỷ  niệm  các  ngày  lễ,  tết  truyền  thống   hàng   năm,  với  tổng  số   tiền  khoảng  297.000.000đ.  Triển khai mô hình “mỗi tổ  chức, cá nhân gắn với một địa   chỉ nhân đạo” đến nay đã có 04 địa chỉ nhân đạo; tặng được 03 sổ tiết kiệm   cho nữ  thanh niên xung phong với số  tiền 1.500.000 đồng. Tích cực tham  gia các cuộc vận động: xây dựng Tượng đài N’Trang Lơng, Tượng đài Bà  Triệu, Tượng đài Mẹ  Thứ,  ủng hộ  Biển đảo ... với số  tiền 40.500.000đ,  qua đó khẳng định vai trò, vị trí, khả năng đóng góp to lớn của phụ nữ trong   gia đình và xã hội, góp phần thực hiện  tốt mục tiêu xây dựng gia đình “No   ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Phối hợp hỗ  trợ  và vận động chị  em  tham gia nấu ăn phục vụ  huấn luyện Dân quân tự  vệ  hàng năm tại các xã,  thị trấn được triển khai thực hiện tốt.  Hỗ  trợ  xây dựng được 22 căn nhà “Mái  ấm tình thương” cho phụ  nữ  nghèo, với tổng trị giá hơn 650 triệu đồng, vượt 12 căn so với chỉ tiêu nghị  quyết đề ra (NQ 5­10 căn). 2. Ch ỉ  đạ o tri ển khai th ực hi ện Lu ật phòng, chống bạ o l ực gia đình  tạ i đị a ph ươ ng.   Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện các văn bản chỉ  đạo, hướng dẫn thực   hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa,   Thể thao và Du lịch như: Quyết định số 1709/ QĐ ­ UBND, ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về  việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa  bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2020; Kế hoạch số 179/KH­UBND, ngày 20/5/2016 của Ủy   ban nhân dân tỉnh về việc Tổ chức Lễ phát động Tháng hành động Quốc gia về phòng,   chống bạo lực gia đình; Mittinh Lễ kỷ niệm ngày Gia đình Việt Nam; Tham gia Hội thi   CLB gia đình khu vực phía Nam; Hướng dẫn số 211/HD ­ SVHTTDL ngày 08/4/2013  của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổ chức thành lập và hoạt động của mô   hình phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Đắk Nông; Hướng dẫn số 141/HD ­  SVHTTDK, ngày 1/4/2014 về việc rà soát, sửa đổi hương ước, đảm bảo nguyên tắc bình  đẳng giới và nhân rộng mô hình câu lạc  bộ phòng, chống bạo lực gia đình năm 2014; Kế  hoạch số 17/KH ­ SVHTTDL ngày 19/5/2015 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh  Đắk Nông về việc tổ chức tập huấn công tác gia đình cho BCN CLB phòng, chống bạo   lực gia đình trên địa bàn tỉnh; Hướng dẫn số 210/HD­SVHTTDL, ngày 11/4/2016 của Sở  Văn hóa, Thể thao và Du lịch về phương pháp tổ chức thành lập, duy trì và nhân rộng mô  hình CLB phòng, chống bạo lực gia đình và đăng ký địa chỉ tin cậy tại cộng đồng;  Ủy ban nhân dân huyện chỉ  đạo Phòng Văn hóa và Thông tin đưa nội dung  phòng, chống bạo lực gia đình vào kế  hoạch hoạt động hàng năm; chỉ  đạo Phòng  Văn hóa và Thông tin tham mưu cho  Ủy ban nhân dân huyện ban hành kế  hoạch 
  16. hành động phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn huyện Đắk R’lấp giai đoạn   2016 ­ 2020  3. Các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch mô hình về phòng, chống  bạo lực gia đình đã được triển khai, số cụ việc bạo lực gia đình tại địa  phương. Thực hiện về việc rà soát, đưa nội dung đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới  và phòng, chống bạo lực gia đình vào nội dung bản hương ước của các thôn bon,  tổ dân phố trên địa bàn huyện; Triển khai thực hiện  Quyết định số 1709/ QĐ ­ UBND, ngày 10/11/2014 của Ủy  ban nhân dân tỉnh về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống bạo  lực gia đình trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2020;  Tiếp tục triển khai nhân rộng và duy trì hoạt đông các mô hình câu lạc bộ phòng,  chống bạo lực gia đình ở các thôn, bon, tổ dân phố. Tổng số câu lạc bộ về gia đình: 13  câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, 15 câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình, hiện  tại đang tiến hành thành lập thêm 03 câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình ở xã  Nghĩa Thắng và xã Nhân cơ do nguồn kinh phí của tỉnh cấp; Số vụ bạo lực gia đình tại địa phương: năm 2015 là 36 vụ; sáu tháng đầu  năm 2016 là 25 vụ. Duy  trì  được 11 câu lạc bộ  “Phòng chống bạo lực gia đình”; 02 “câu  lạc  bộ   tình  thương”;  13   Câu   lạc  bộ  “Gia  đình   hạnh   phúc”;   43  câu  lạc   bộ  “Không sinh con thứ 3”; 49 câu lạc bộ “5 không 3 sạch”; 04 câu lạc bộ phụ nữ  dân tộc “Sống tốt đời đẹp đạo”; 02 "CLB Hiếu hỷ"; 01 “CLB phụ  nữ  tiêu   biểu”.  Phối hợp với Hội LHPN tỉnh tổ chức tập huấn Đề án giáo dục 5 triệu bà  mẹ nuôi dạy con tốt giai đoạn 2010­2015 và cuộc vận động 5 không 3 sạch có  65 chị tham gia. 4. Tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo  lực gia đình và hòa giải mâu thuẩn tranh chấp giữa các thành viên gia đình. Hiện nay đa số các thôn, bon, tổ dân phố trên địa bàn huyện đều có Tổ hòa  giải hoạt động có hiệu quả, hầu hết các vụ việc bạo lực gia đình được góp ý phê  bình tại cộng đồng. 5. Hoạt động bảo vệ và hổ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; việc phát  hiện báo tin về bạo lực gia đình; các biện pháp đã xử lý; số nạn nhân được  tư vấn, hổ trợ, chăm sóc y tế; hoạt động của các cơ sở trợ giúp nạn nhân  bạo lực gia đình. Việc phát hiện báo tin , bảo vệ và hổ trợ nạn nhân về bạo lực gia đình được  thực hiện bắt đầu từ hệ thống chính quyền tự quản của các thôn, bon, tổ dân phố. 
  17. Nếu  vụ việc bạo lực gia đình mang tính chất nghiêm trọng thì sẻ được ban tự  quản, ban chủ nhiệm câu lạc bộ và các cộng tác viên báo cáo lên chính quyền cấp  trên để được xử lý, nếu vụ việc bạo lực gia đình không mang tính chất nghiêm  trọng sẻ đươc xử lý theo hình thức góp ý hòa giải tại cơ sở. Trong sáu tháng đầu năm 2016 có 25 vụ bạo lực gia đình: Xử lý hình sự : 0  vụ; xử phạt hành chính là 02 vụ; góp ý hòa gải tại cộng đồng dân cư là 25 vụ. 6. Nguồn nhân lực và kinh phí cho hoạt động phòng, chống bạo lực gia  đình tại địa phương. Nguồn nhân lực: Hầu hết các cán bộ thực hiện công tác gia đình đều là kiêm  nhiệm: ở cấp huyện cán bộ thư viện kiêm phụ trách công tác gia đình, ở cấp xã là  công chức văn hóa xã, ở cấp thôn là trưởng thôn. Kinh phí cho hoạt đông: Hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh chưa bố trí nguồn  ngân sách riêng cho hoạt động, kinh phí được trích từ nguồn kinh phí hoạt động  thường xuyên của Phòng Văn hóa và Thông tin 7. Kiến nghị.  7.1 Đối với trung ương:  ­  Sớm ban hành Thông tư hướng dẫn kinh phí thực hiện công tác gia đình; ­ Có hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho các bộ làm  công tác gia đình ở địa phương; ­ Bố trí nguồn kinh phí riêng cho công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia  đình. 7.2 Đối với tỉnh: ­ Tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác gia đình và phòng,  chống bạo lực gia đình;  ­ Đưa ra các giải pháp có hiệu quả hơn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất về  tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương;  ­ Bố trí nguồn kinh phí riêng cho công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia  đình. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Hội phụ nữ các xã, TT và triển khai thực hiện các   nội dung, mục tiêu của Chỉ thị tại một số xã, thôn bon trên địa bàn huyện chưa sâu  sát nên kết quả trên một số  lĩnh vực chưa cao. Tỷ lệ “Câu lạc bộ gia đình hạnh   phúc”, “Câu lạc bộ chống bạo lực gia đinh’,  “xây dựng gia đình văn hóa”   tại  một số xã còn thấp  Đội ngũ cán bộ làm công tác Hội, chi hội ở cơ cơ sở hoạt động chưa đều tay,   có xã, thôn phong trào và công tác tuyên truyền kèm hiệu quả; 
  18. Bên cạnh đó vẫn còn mộ  số  cán bộ, hội viên phụ  nữ  thiếu gương mẫu trong  việc thực hiện các nội dung, tinh thần của Chỉ  thị; công tác kiểm tra thực hiện   chưa thường  xuyên nên nhân dân chưa tự giác thực hiện. C. Lĩnh vực Hôn nhân và gia đình 1. Công tác tuyên truyền, phổ  biến giáo dục pháp luật về  hôn nhân và  gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội khoa XIII thông qua tai ́ ̣  ̀ ̣ ky hop th ứ 7 và có hiệu lực thi hành kể  từ  ngày 01/01/2015 đã đáp  ứng một cách  kịp thời các yêu cầu khách quan của thực tiễn hôn nhân và gia đình Việt Nam; công  nhận, thực hiện và bảo vệ tốt hơn các quyền nhân thân và tài sản của cá nhân trong  lĩnh vực hôn nhân và gia đình; nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình,  vai trò của gia đình đối với xã hội và vai trò của Nhà nước và xã hội đối với gia   đình. Nhằm triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả  Luật hôn nhân và gia đình  tại địa phương, UBND huyện đã chỉ  đạo phòng Tư  pháp triển khai phổ  biến cho   cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã cụ thể đã mở được 11 lớp với 365 người dự  nghe. Đồng thời, chỉ đạo UBND các xã, thị trấn tuyên truyền văn bản cho nhân dân  trên địa bàn. Ngoài ra, còn tăng cường tuyền truyền, phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình  thông qua loa, đài truyền thanh ở cơ sở. 2. Việc áp dụng tập quán về  hôn nhân và gia đình ( Điều 7, Luật Hôn  nhân và gia đình):  Theo Điều 6, Nghị  định 126/2014/NĐ­CP Quy định chi tiết một số  điều và  biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định: Trong thời hạn 03 năm kể  từ  ngày Nghị  định này có hiệu lực, UBND tỉnh có trách nhiệm xây dựng trình  HĐND cùng cấp phê duyệt danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình được áp  dụng tại địa phương. Tính đến thời điểm hiện nay chưa có danh mục các tập quán  về hôn nhân và gia đình được áp dụng tại địa phương nên UBND huyện chưa có cơ  sở  để  triển khai thực hiện. Tuy nhiên, trong thời gian qua trên địa bàn chưa phát   sinh trường hợp nào. 3. Tình hình Tảo hôn, chung sống như  vợ  chồng, không đăng ký kết   hôn; kết hôn giữa những người quan hệ  họ  hàng thân thích; việc xử  lý đối  với các trường hợp kết hôn không tuân thủ điều kiện kết hôn theo luật định
  19. Do làm tốt công tác tuyên truyền phổ  biến giáo dục pháp luật về  việc Tảo  hôn và ý thức chấp hành pháp luật của người ngày càng cao nên trên địa bàn trong   thời gian qua chưa phát sinh trường hợp vi phạm nào. Riêng chung sống như  vợ  chồng không qua đăng ký kết hôn là 18 trường hợp. 4. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Từ  ngày 01/01/2016 Luật Hộ  tịch có hiệu lực quy định UBND huyện có  thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn có yếu tố  nước ngoài. UBND huyện thực   hiện đăng ký kết hôn cho 04 trường hợp ( Vương Quốc Anh, Hàn Quốc, Malaysia,  Nhật Bản) và thực hiện ghi chú Kết hôn có yếu tố nước ngoài cho 01 trường hợp   (Hàn Quốc). Tất cả, các trường hợp trên đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ  tục,  đảm bảo hồ  sơ  theo quy định của Luật Hộ  tịch và các văn bản pháp luật có liên  quan. 5. Những khó khăn, vướng mắc, những khoảng trống giữa quy định của   Luật và thực thi trong thực tế. Trong quá trình thực thi Luật hôn nhân gia đình và áp dụng Luật trong thực   tế, nhận thấy chưa có khó khăn, vướng mắc nào. Tuy nhiên, trong thời gian tới đề  nghị  UBND tỉnh sớm ban hành danh mục các tập quán về  hôn nhân và gia đình  được áp dụng tại địa phương.                                    Trên đây là báo cáo tình hình thực hiện Luật Bình đẳng giới, hôn nhân gia  đình và phòng, chống bạo lực gia đình của Ủy ban nhân dân huyện ĐăkR’Lấp. Nơi nhận : KT. CHỦ TỊCH ­ UBND tỉnh Đăk Nông; PHÓ CHỦ TỊCH ­ TT. Huyện ủy;  ­ TT. HĐND huyện; ­ Chủ tịch, các PCT UBND huyện;  ­ Các phòng ban, đơn vị; ­ UBND các xã, thị trấn; ­ Lưu: VT   
  20.        
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2