intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bệnh Học Thực Hành: Viêm gan siêu vi

Chia sẻ: Abcdef_39 Abcdef_39 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:19

0
90
lượt xem
13
download

Bệnh Học Thực Hành: Viêm gan siêu vi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viêm gan siêu vi được coi là bệnh lây lan thường gặp. Tỉ lệ phát bệnh khá cao, tính chất lây truyền mạnh và đường lây cũng phức tạp. Hiện nay, người ta tìm thấy có 5 loại siêu vi gây viêm gan: Viêm gan Siêu vi A; Viêm gan siêu vi B; Viêm gan siêu vi không A không B (HNANB); Viêm gan siêu vi D; Viêm gan siêu vi E. Nhưng ba loại đầu thường gặp hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh Học Thực Hành: Viêm gan siêu vi

  1. VIÊM GAN SIÊU VI Viêm gan siêu vi được coi là bệnh lây lan thường gặp. Tỉ lệ phát bệnh khá cao, tính chất lây truyền mạnh và đường lây cũng phức tạp. Hiện nay, người ta tìm thấy có 5 loại siêu vi gây viêm gan: + Viêm gan Siêu vi A. + Viêm gan siêu vi B. + Viêm gan siêu vi không A không B (HNANB). + Viêm gan siêu vi D. + Viêm gan siêu vi E. Nhưng ba loại đầu thường gặp hơn. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh là mệt mỏi, chán ăn, sợ mỡ, nôn hoặc buồn nôn, vùng gan đau hoặc đầy tức vùng thượng vị, nhiều bệnh nhân vàng da và sốt, gan to ấn đau kèm theo suy giảm chức năng gan... Nguồn bệnh là người bệnh và người mang vi rút. Đường lây viêm gan siêu vi A chủ yếu là đường tiêu hóa (qua miệng), viêm gan siêu vi B và viêm gan siêu vi không A không B chủ yếu là đường máu (tiêm, châm, phẫu thuật, vết thương chảy máu...). Nguyên Nhân Theo YHCT Dựa vào các triệu chứng lâm sàng của viêm gan siêu vi thì bệnh thuộc phạm trù các chứng Hoàng Đản, hoặc Hiếp Thống. Theo YHCT, nguyên nhân bệnh chủ yếu là do cảm nhiễm thấp nhiệ bên ngoài, uất kết ở Tỳ Vị, chức năng vận hóa rối loạn gây nên chán ăn, đầy bụng, ảnh hưởng đến Can Đởm, gây nên khí huyết ứ trệ, ha sườn đau, bụng đầy, mật ứ, miệng đắng.Thấp nhiệt thịnh nung đốt bì phu sinh ra vàng da (hoàng đản). Ăn uống không điều độ, uống nhiều rượu cũng làm tổn thương Tỳ Vị, thấp nhiệt nội sinh, nung nấu Can, Đởm dẫn đến vàng da, đau sườn, mệt mỏi, chán ăn. Ngoài ra, người bệnh do cảm phải tà khí dịch lệ sinh ra nhiệt độc công phá bên trong làm cho phần vinh, huyết bị tổn thương. Nhiệt độc thãm vào Tâm bào gây nên hoàng đản cấp, sốt cao, mê man, nói sảng, chảy máu cam, tiêu ra máu...
  2. Chẩn Đoán 1. Chẩn đoán xác định theo: a. Yếu tố dịch tễ: tình hình dịch bệnh, tiếp xúc bệnh nhân, lịch sử truyền máu, chích thuốc, châm cứu, nhổ răng... b. Triệu chứng lâm sàng: chán ăn, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, vàng da, gan to, vùng gan đau... c. Hội chứng hủy hoại tế bào gan: Transaminase tăng: GPT (ALT) tăng nhiều hơn GOT (AST) tăng rất cao gấp 5- 10 lần trị số bình thường. d. Tìm chứng cớ nhiễm vi rút: HBSAG (kháng nguyên bề mặt của vi rút viêm gan B) dương tính trong HBV, còn đối với HAV thì phân lập vi rút trong phân và xuất hiện IGM kháng HAV trong huyết thanh. e. Các phương pháp kiểm tra gan bằng siêu âm và sinh thiết gan. 2. Chẩn đoán phân biệt và chú ý: a. Viêm gan thời kỳ đầu và thể không vàng da: dễ bị bỏ qua do nghĩ viêm họng, cảm mạo, rối loạn tiêu hóa. Cần hỏi kỹ lịch sử tiếp xúc và tình hình dịch bệnh. b. Viêm gan do nhiễm độc, nhiễm trùng trong các bệnh thương hàn, viêm ruột do trực khuẩn coli gây vàng da, SGOT, SGPT máu tăng nhưng sốt kéo dài, có triệu chứng riêng của bệnh. c. Vàng da do bệnh xoắn trùng: có ban chẩn, cơ bắp đau, anbumin niệu, xoắn trùng trong máu, thử nghiệm ngưng kết huyết thanh dương tính. d. Vàng da do tắc mật: tắc mật ở người lớn thường do sạn ống mật, u đầu tụy có triệu chứng riêng, cần cảnh giác. e. Vàng da do nhiễm độc thuốc: Chú ý hỏi tiền sử dùng thuốc như dùng thuốc có Thạch tín, Rimifon, Chlorproilazin, thuốc chống ung thư... f. Đau bung cấp do viêm gan cần phân biệt với viêm ruột thừa, giun chui ống mật, giun đường ruột...
  3. g. Ung thư gan: người gầy, gan to nhanh, đau nhiều. Tiên Lượng Viêm gan do vi rút A nếu có chế độ nghỉ ngơi, chăm sóc ăn uống tốt thường được hồi phục trong vòng 10-15 ngày, ít khi kéo dài. Viêm gan vi rút B dễ chuyển thành mạn tính, một số ít tiến triển thành xơ gan rất ít trường hợp chuyển thành ung thư gan. Điều Trị Bằng YHCT Theo YHCT, viêm gan vàng da thuộc phạm trù chứng Hoàng đản, phép trị chính là: Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết, giải độc (đối với viêm gan cấp, thể tối cấp), sơ can, kiện tỳ, hòa vị, tiêu thực (đối với thể không vàng da, thời kỳ hồi phục), hoạt huyết, hóa ứ (đối với viêm gan mạn, xơ gan). Tùy theo tính chất bệnh mà dùng phép trị thích hợp. VIÊM GAN CẤP Thường gặp 3 thể: + Thấp Nhiệt Thịnh: Da mắt vàng tươi, bứt rứt khó chịu, người nóng, bực tức, chán ăn miệng đắng khô, bụng đầy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, ngứa hoặc không, tiểu ít vàng như nước vối, táo bón, rìa lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt, Sác hoặc Nhu Sác. Điều trị: Thanh lợi thấp nhiệøt. Dùng bài Nhân Trần Cao Thang gia giảm: Nhân trần 40g, Chi tử 12g, Sinh Đại hoàng 8g (cho vào sau), Bồ công anh, Thổ phuc linh đều 10g, sắc uống. Trường hợp thấp năïng thêm Hậu phác, Thương truật, Trạch tả. Nhiệt thịnh thêm Hoàng bá, Thạch cao. + Nhiệt Độc Thịnh (Thể nặng và rất nặng): khát, bứt rứt, vàng da nặng lên rất nhanh, ngực bụng đầy tức, táo bón, tiểu vàng đỏ, nặng thì hôn mê, nói sảng, co giật, tiêu tiểu có máu, lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng nhớt, khô, mạch Hoạt Sác. Điều trị: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, cứu âm. Dùng bài Tê Giác Địa Hoàng Thang hợp Nhân Trần Cao Thang gia giảm: Tê giác 30g (tán bột mịn, hòa thuốc uống), Sinh địa 20g, Xích thược 12g, Đơn bì 12g, Chi tử 12g, Nhân trần 16g, Bản lam căn 40g, Thạch hộc 12g.
  4. Nếu sốt cao mê man: thêm An Cung Ngưu Hoàng hoặc Chí Bảo Đơn để thanh tâm, khai khiếu. + Can Vị Bất Hòa (thể viêm gan không vàng da, thời kỳ hồi phục): mạn sườn đau tức, bụng trên đầy hơi, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, miệng đắng, chán ăn, chất lưỡi đỏ nhợt, mạch Huyền. Điều trị: Sơ Can, hòa Vị. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm: Sài hồ, Bạch thược, Hương phụ đều 12g, Chỉ xác, Trần bì, Xuyên khung, Chích thảo đều 6g. Có triệu chứng thấp nhiệt thêm Hoàng bá, Nhân trần. Ngực đau nhiều thêm Uất kim. Nôn, buồn nôn thêm Gừng tươi, Bán hạ, Trúc nhự. Trường hợp có triệu chứng Tỳ hư, dùng bài Tiêu Dao Tán gia giảm. VIÊM GAN MẠN TÍNH Thường gặp 2 thể: 1- Can Tỳ Bất Hòa: bệnh nhân không sốt, da không vàng hoặc vàng nhẹ, gan còn sờ được dưới bờ sườn, mạn sườn đầy tức hoặc ấn đau, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, rêu lưỡi dày nhớt, mạch Huyền Hoạt. Điều trị: Sơ Can, kiện Tỳ. Dùng bài Tiêu Dao Tán gia giảm: Đương quy, Sài hồ, Bạch truật, Bạch linh, Hà thủ ô, Uất kim 12g đều 12g, Bạch thược 20g, Đan sâm, Trần bì, Hậu phác 8g, Cam thảo 4g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống. Bệnh nhân mệt mỏi nhiều thêm Nhân sâm 8g (hoặc Đảng sâm 12g), huyết kém hay chóng mặt, mắt mờ thêm Tang thầm, Kỷ tử. Sắc da còn vàng thêm Nhân trần, Chi tử. 2. Khí Huyết Ứ Trệ: Sắc mặt kém tươi nhuận, môi thâm tím, gan to, ấn đau, mạn sườn đau tức, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, rêu vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Khẩn. Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ. Dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm: Đương quy, Sinh địa, Đan sâm, Xuyên Ngưu tất, Bạch truật, Sài hồ, Uất kim đều 12g, Bạch thược, Xích thược đều 10g, Xuyên khung, Đào nhân đều 8g, Hồng hoa 6g, Trần bì, Hậu phác đều 8g.
  5. Gan to cứng thêm Miết giáp, Mẫu lệ; Bụng đầy hơi thêm Mộc hương, Sa nhân; Vùng gan đau nhiều thêm Nhũ hương, Một dược. Trường hợp khí hư thêm Nhân sâm (hoặc Đảng sâm), Hoàng kỳ. Bệnh viêm gan siêu vi tuy trên lâm sàng thường gặp các thể trên đây nhưng thường lẫn lộn vì vậy cần chú ý khi biện chứng luận trị. Những Điều Cần Chú Ý Trong Điều Trị Bệnh Viêm Gan Siêu Vi Bệnh nhân cần có chế độ sinh hoạt điều độ, nghỉ ngơi đầy đủ, không lao động trí óc hoặc chân tay quá sức gây mệt mỏi. Về chế độ ăn, cần dùng các thức ăn dễ tiêu như rau đậu, trái cây, sữa, cá, thịt nạc, cũng không nên ăn nhiều vì thịt là loại thức ăn khó tiêu đối với người đau gan, rất hạn chế ăn các chất dầu mỡ. Không ăn các chất cay nóng như ớt, tiêu, rượu, thuốc lá... Lúc chức năng gan kém cần thận trọng lúc dùng thuốc trụ sinh hoặc các loại thuốc cổ truyền có độc như Phụ tử, Ô đầu, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật... Bệnh nhân viêm gan siêu vi A thời kỳ cấp tính nên nằm viện cách ly ít nhất 30 ngày sau khi phát hiện vàng da, bệnh chưa khỏi thời gian cách ly dài hơn. Bệnh nhân viêm gan siêu vi B và không A không B phải chú ý vô khuẩn kỹ các dụng cụ tiêm chích, châm và tốt nhất là các dụng cụ điều trị phải dùng riêng. Nhân viên y tế phải thực hiện tốt chế độ cách ly để bảo vệ cho bệnh nhân và tự bảo vệ cho mình. Kinh Nghiệm Dùng Thuốc Điều Trị Viêm Gan Siêu Vi Vàng da: là triệu chứng thường gặp, trong YHCT chia làm 2 loại: 1- Dương Hoàng: thường gặp trong giai đoạn bệnh cấp, màu vàng tươi, thường kèm táo bón. Rêu lưỡi vàng dày thuộc nhiệt chứng, thực chứng. Dùng phép trị thamh nhiệt lợi thấp là chủ yếu. 2- Âm Hoàng: gặp trong viêm gan mạn, màu vàng xạm, thường kèm tiêu lỏng, lưỡi nhợt, rêu dày, thuộc hàn chứng, hư chứng. Dùng phép ôn hóa hàn thấp là chính. Vàng da thường đi kèm với huyết ứ, khí trệ, âm hư, huyết hư, lúc trị cần chú ý kết hợp hành khí, hoạt huyết, dưỡng âm (dưỡng huyết). Trị vàng da dùng vị Nhân trần là chủ dược, đối với dương hoàng, lúc bắt đầu dùng liều cao 30-60g, kết hợp với thuốc giải biểu, lợi tiểu, thông tiện, lý khí, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết,
  6. phương hương hóa trọc, có kết quả tốt. Sau 1-2 tuần lượng Nhân trần nên giảm và dùng các loại thuốc có vị ngọt, tính hàn để tư âm, thanh nhiệt như Sinh địa, Hoạt thạch, Cát căn, Thạch hộc... kết hợp thuốc lợi tiểu như Bạch linh, Trư linh, Trạch tả có kết quả tốt. Đồng thời tùy tình hình bệnh nên dùng thêm thuốc ôn dương, kiện tỳ, dưỡng huyết, hoạt huyết, tư dưỡng can âm. Vùng gan đau và gan to: Vùng mạn sườn đau theo YHCT có thể là can khí uất kết, can huyết ứ trệ, can đởm hỏa thịnh, can âm (huyết) bất túc. Nếu vùng gan đau tức lúc đau lúc không là do can khí uất thì phép trị là sơ can, giải uất. Nếu là vùng đau cố định, ấn vào đau tăng, vùng gan đau tức là do nhiệt độc thịnh, cần thanh nhiệt giải độc. Nếu vùng gan đau như dao đâm, đau cố định là do khí trệ, huyết ứ, cần hoạt huyết, hóa ứ. Nếu vùng gan đau âm ỉ, lúc mệt đau tăng, xoa dễ chịu là do âm huyết hư nên dưỡng can huyết, thường dùng bài Kim Linh Tử Tán (Xuyên luyện tử, Diên hồ sách). Trường hợp gan to, YHCT cho là chứng Tích Tụ, dùng thuốc hoạt huyết, lý khí, hóa tích, dưỡng huyết, nhuyễn kiên, tán kết như Đan sâm, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Miết giáp, Mẫu lệ, Hạ khô thảo, Khương hoàng, Bối mẫu, Trạch lan, Bạch cương tàm... Bụng đầy: thường nguyên nhân là ớ can, tỳ, vị. Ăn xong đầy bụng là can vị bất hòa thì sơ can, hòa vị. Bụng đầy liên tục là tỳ hư thấp trệ, cần kiện tỳ lợi thấp. Sốt nhẹ kéo dài: có thể gặp trong 3 trường hợp sau: + Nếu sốt kèm theo bứt rứt, còn vàng da, rêu lười vàng là còn thấp nhiệt nên dùng bài Đơn Chi Tiêu Dao Tán. + Nếu sốt vào chiều kèm theo lòng bàn chân tay nóng, ra mồ hôi trộm, lười thon đỏ là âm hư nên dùng bài Thanh Hao Miết Giáp Thang. + Nếu sốt vào buổi sáng kèm theo hồi hộp khó thở, tự ra mồ hôi, thân lười bệu sắc nhợt là khí huyết hư nên dùng bài Bổ Trung Ích Khí hoặc Bát Trân Thang. 5. Mạch sao (mao mạch dãn hình sao): thường gặp trong 2 trường hợp: nếu là do nhiệt nhâïp phần huyết thì dùng phép trị lương huyết, thanh nhiệt, lợl thấp như dùng các vị thuốc Sinh địa, Tiểu kế, Mao căn, Đơn bì. Nếu là do khí trệ, huyết ứ thì phải lý khí, hoạt huyết, hóa ứ dùng các vị Đào nhân, Hồng hoa Đơn bì, Đan sâm…
  7. 6. Mất ngủ: là một triệu chứng thường gặp trong bệnh viêm gan mạn tính. Có thể do nhiều nguyên nhân: nếu là can uất hóa hỏa, dùng phép sơ can, tả nhiệt, dùng bài Long Đởm Tả Can Thang. Nếu là đờm nhiệt uất kết, dùng phép hóa đờm, thanh nhiệt, dùng bài Ôn Đởm Thang. Nếu là âm hư hỏa vượng dùng phép tư âm, thanh tâm, dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang, Thanh Dinh Thang. Nếu là tâm tỳ lưỡng hư dùng phép bổ dưỡng tâm tỳ, dùng bài Qui Tỳ Thang. Nếu do ứ huyết dùng phép hoạt huyết, lý khí, dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang... 7. Transaminaza tăng cao: Trường hợp viêm gan siêu vi mạn tính, Transaminaza không hạ, tùy tình hình bệnh có thể chọn các phép trị sau: Thanh nhiệt giải độc, lợi thủy thông tiện, dùng các vị thuốc như Nhân trần, Sơn chi, Đại hoàng, Long đởm thảo, Hoàng cầm, Bản lam căn, Bồ công anh, Hổ trượng, Thanh đại, Kim ngân hoa, Liên kiều, Bại tương thảo, Lô hội, Hạ khô thảo, Hoạt thạch, Xa tiền tử, Mộc thông... Phương hương hóa trọc: dùng các vị thuốc Hoắc hương, Bội lan, Khấu nhân, Sa nhân, Cúc hoa... Lương huyết thông lạc: dùng các vị thuốc: Tiểu kế, Sinh địa, Xích thược, Bạch thược, Đơn bì, Mao căn, Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm... Dưỡng âm, liễm âm: dùng các vị thuốc Ngũ vị tử, Ô mai, Ngũ bội tử, Mộc qua, Bạch thược, Câu kỷ tử, Mạch môn, Sa sâm, Minh phàn... . Đối với tỷ lệ A/G nghịch đảo và điện di protein không bình thường: Tác giả Dương Phần Minh (Hồ Nam, Trung Quốc) cho rằng các vị thuốc như Bản lam căn, Hoàng tinh, Bạch truật, Sinh hoàng kỳ, Kê huyết đằng có tác dụng tốt. Bệnh viện thủ đô Bắc Kinh dùng phép ích khí, hoạt huyết với các vị Hoàng kỳ, Phục linh, Đan sâm, Sinh sơn tra, Hổ trượng, Thảo hà xa, Mã tiên thảo đều 15g, Bạch truật, Trạch lan đều 10g, Vương bất lưu hành 12g, Cam thảo 5g, thấy có tác dụng điều chỉnh điện di protein. 9. Đối với kháng nguyên bề mặt viêm gan vi rút B dương tính (HBSAG (+): Thượng Xuân Hoa, cho là cần kết hợp phép phù chính và khu tà, dùng các vị Đảng sâm 9g, Ngũ vị tử 6g, Hoàng kỳ, Toàn qua lâu, Phục linh, Dương đề căn đều 15g. Trần Kế Minh thì dùng phép ích thận, giải độc với các vị Nhục thung dung, Ba kích thiên, Đương qui đều 10g, Thổ Phục linh, Địa hoàng đều 30g, chích Phong phòng 2g, Thăng ma 10g, Tang ký sinh 12g. Dương hư thêm Tiên linh tỳ 12g, Bạch truật 10g. Âm hư thêm Sa sâm, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo đều 12g, Huyền
  8. sâm 18g. Nếu nhiệt độc thịnh dùng Tứ Diệu Dũng An Thang gia vị: Huyền sâm, Ngân hoa, Thổ phục linh, Sinh địa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Sừng trâu đều 30g, Sinh cam thảo, Đương quy, Thăng ma đều 10g, Quán chúng 12g, Qua lâu 15g, Đại hoàng than 5g. Chu Tăng Bánh dùng phép hoạt huyết giải độc, thanh nhiệt với các vị: Hổ trượng 500g, Lộ phong phòng, Tử thảo, Đởm'thảo, Binh lang đều 100g tán bột, trộn mật làm hoàn, mỗi lần uống 10g, ngày 3 lần, đồng thời uống nuốt bột Minh phàn 0,2g bột Bối mẫu 1g. Đối với người mang vi rút viêm gan B, bệnh lây, thị xã Hoàng Thạch tỉnh Hồ Bắc (TQ), dùng phép ôn thận, thanh nhiệt, giải độc. Lấy toa căn bản có Tiên linh tỳ, Sinh hoàng kỳ, Kỷ tử, Nữ trinh tử, Bạch hoa xà thiệt thảo đều 15g, Đổng tật lê, Trần bì đều 10g, Binh lang 12g, Liên kiều 20g. Bệnh viện tỉnh Sơn Đông dùng bài Kháng Viêm Gan Siêu Vi B gồm Hoàng Kỳ 180g, Đảng sâm 45g, Sừng trâu 30g, sắc đặc còn 500ml, mỗi lần uống 100ml, ngày 2 lần. Dùng liền trong 6 tháng. Bệnh viện lây số 2 Bắc Kinh dùng bột chống HBV gồm Quế chi, Nhục quế, Can khương, Bạch thược, Đan sâm, Đại táo, Cam thảo, mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần. Các bài thuốc thường được dùng sau khi mắc bệnh viêm gan siêu vi: Tiêu Dao Hoàn, Ô Kê Bạch Phượng Hoàn, Lục Vị Địa Hoàng Hoàn, Qui Thược Lục Quân Tử Hoàn. Một Số Bài Thuốc Đơn Giản (Trích trong Hiện Đại Nội Khoa Học) a. Qua lâu 50g, Ty qua lạc 30g, Quất lạc 15g, Tiểu thanh bì 10g, Xa tiền tử 20g, Kê nội kim 20g, có kết quả đối với bệnh nhân bụng đầy ăn kém, mất ngủ, tiêu lỏng, rêu lưỡi vàng dày (Chương Thứ Công). b. Phục Can Tán (Chu Dương Xuân): Địa miết trùng nướng, Thái tử sâm đều 30g, Tử hà xa 24g, Khương hoàng, Uất kim, Tam thất, Kê nội kim đều 18g, tán bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống trước bữa ăn 3g, ngày 2 lần, liên tục uống trên 1 tháng, có tác dụng làm giảm đau, gan lách nhỏ lại, chức năng gan được phục hồi, tăng prôtit huyết thanh, cải thiện tỷ lệ A/G. c Sâm Kỳ Hoàng Tinh Thang: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Thanh bì, Trần bì đều 10g, Hoàng tinh, Sinh địa đều 30g, Dạ giao đằng 30g, Đương qui, Thương truật, Sài hồ,
  9. Bạch truật đều 12g Bạc hà, Cam thảo đều 6g, Khương hoàng, Uất kim đều 10g, dùng có kết quả đối với thể can thận âm hư, tỳ vị hư nhược. Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm: + Độc Vị Đại Hoàng Phương (Ngô Tài Hiền, Giang Tô, TQ): Sinh Đại hoàng 50g, sắc còn 200ml uống hết 1 lần. Uống 6 ngày (1 liệu trình) mỗi ngày 1 thang, nghỉ 1 ngày uống liêu trình 2. Trị 30 ca, trong 1-2 tuần chức năng gan hồi phục bình thường 6 ca, 3-4 tuần hồi phục bình thường 20 ca. 4 ca chức năng gan không hồi phục (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Tần Thị Phương (Sơn Đông, TQ): Hạ khô thảo 60g, đường trắng 30g, Đại táo 30g, Sắc trước Hạ khô thảo và Đại táo bỏ xác cho đường, cho nước 500-600ml, nhỏ lửa cô còn 250-300ml, chia 2 lần, uống sáng và tối lúc bụng đói. Đã trị 28 ca, khỏi hết triệu chứng lâm sàng, chức năng gan bình thường 20 ca, có kết quả (các mặt tiến bộ) 6 ca, không khỏi 2 ca. Thuốc uống từ 5-16 thang (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Thanh Can Hòa Vị Phương (Tôn Nguyên Cần, Bệnh viện Trung y, huyện Nghi thành, tỉnh Hồ Bắc: Long đởm thảo, Liên kiều, Sài hồ, Uất kim đều 9g, Kim tiền thảo, Phục linh, Nhân trần đều 30g, tiêu Tra khúc 5g, La bạc tử 6g, Bạc hà 3g, sắc uống. Dùng trị 50 ca, khỏi 42 ca (84%), theo dõi 10 tháng không tái phát, tiến bộ 8 ca (16%). Các trường hợp HBSAG (+) gia Bạch hoa xà thiệt tháo, Đại hoàng, Mã tiên thảo. + Hoàng kỳ phục can thang (Vương Tâm Tường, Bệnh viện trung y Hoài Bắc tỉnh An Huy): Sinh Hoàng kỳ 40g, Nhân trần 30g, Phục linh, Bại tương thảo đều 15g, Sinh Mạch nha 20g, Đương quy 12g, Ngũ vị tử, Bồ công anh, Chi tử đều 10g, Trần bì 16g. Vùng gan đau gia Uất kim, Kim linh tử tán. Nôn gia Trúc như, Hoắc hương, Bội lan. Sốt gia Sài hồ. táo bón gia Đại hoàng. Tiêu chảy gia Xa tiền tử, Ý dĩ nhân, sắc uống (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Cốm Mộc Qua (Trịnh Trí Mẫn, học viện Trung y Phúc Châu, Phúc Kiến): Mộc qua 5g, cho đường mía làm thành dạng cốm uống. Đã dùng trị 70 ca khỏi 42 ca, khỏi cơ bản, triệu chứng lâm sàng cải thiện, SGPT gần bình thường) 19 ca. Tỷ lệ có kết quả 87% (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Ôn Thận Thang (Vương Linh Đài, bệnh viện Thử Quang, trực thuộc học viện Trung y Thượng Hải): Ba kích thiên 15g, Tiên linh tỳ 15-30g, Thỏ ti tử, Tang ký sinh, Đơn sâm đều 30g, Trần bì 6g, Hổ trượng 15-30g, Hoàng cầm 10-15g sắc uống.
  10. Biện chứng gia giảm: mệt mỏi, mặt chân phù, lưỡi bệu nhợt gia Hoàng kỳ, Đảng sâm. Sốt nhẹ, miệng đắng, buồn nôn, tiểu vàng, lưỡi đo,û rêu dày bẩn giảm các loại thuốc ôn thận gia Bạch hoa xà thiệt thảo, Xuyên liên, Thương truật, Tiểu kế thảo, Mao căn... Sườn đau nặng gia Huyền hồ, Uất kim. Bụng đầy chán ăn gia Phục linh, Bán hạ, Kê nội kim, Mạch nha.Có xu hướng xuất huyết rõ gia Sinh địa, Tiên hạc thảo. Đã trị 60 ca, HBSAG chuyển âm tính 26 ca (43,3%), vẫn dương tính 34 ca (56,7%), triệu chứng lâm sàng đều được cải thiện (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Kháng Nguyên Thang (Trung Lỗi, bệnh viện Trung y Kinh Môn, Hồ Bắc): Đương qui, Bạch truật, Sài hồ đều 10g, Bạch linh, Hổ trượng đều 15g, Nhân trần 20g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Cam thảo 6g, sắc uống. Một liệu trình là 1 tháng. Biện chứng gia giảm: Tthấp nhiệt nặng, vàng da thêm Bồ công anh, Bại tương thảo. Tỳ khí hư thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược. Tỳ thận dương hư bỏ Nhân trần thêm Ba kích thiên, Tiên linh tỳ, Thỏ ty tử. Khí trệ vùng gan đau tức thêm Xuyên luyện tử, Uất kim. Huyết ứ, vùng gan đau như dao đâm thêm Đan sâm, Huyền hồ. Can thận âm hư bỏ Sài hồ thêm Thục địa, Thủ ô. Gan lách to thêm Tam lăng, Nga truật, Miết giáp. Nôn, buồn nôn, ăn kém thêm Hoắc hương, Sa nhân, Tiêu tam tiên (Mạch nha, Sơn tra, Thần khúc). Bụng đầy bỏ Cam thảo, thêm sao La bạc tử. Nướu răng chảy máu thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo. Đã trị 123 ca viêm gan siêu vi mạn tinh, liệu trình bình quân 4-6 tháng, tỉ lệ có kết quả 90% (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Sơ Can Kiện Tỳ Thang (Vương Dục Quần, bệnh viện Long Hoa, trực thuộc Học viện Trung y Thượng Hải): Sài hồ, Chỉ xác, Xuyên khung, Hương Phụ, Trần bì, Bán hạ đều 12g, Uất kim, Thái tử sâm, Phục linh, Bạch truật, Hoàng cầm đều 15g, sắc uống. Biện chứng gia giảm: Thận khí hư thêm Hoàng kỳ 30g, Tang ký sinh, Thỏ ty tử, Tiên linh tỳ đều 15g. Kèm huyết hư thêm Đương qui, Câu kỷ tử, Bạch thược đều 15g, Đan sâm 30g. Kèm âm hư thêm Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, chích Miết giáp, Xuyên luyện tử, Câu kỷ tử đều 15g. Kèm ứ huyết thêm Xuyên sơn giáp 30g, Tam lăng, Nga truật đều 15g, Xích thược, Đan sâm đều 30g. Kèm thấp nhiệt thêm Chế đại hoàng 15g, Cam Lộ Tiêu Độc Đơn 30g (chế phẩm). Đã trị 102 ca viêm gan B mạn tính, kết quả khỏi (triệu chứng lâm sàng hết, chức năng gan bình thường, HBSAG (-) 23 ca (22,55%), kết quả rõ rệt (gan nhỏ lại,
  11. triệu chứng cải thiện rõ, chức năng gan gần bình thường) 44 ca (43,14%), tiến bộ 15 ca (14,71%), không kết quả 20 ca (19,6%). Tỷ lệ kết quả 80,40% (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Phục Can Thang (Trần Tăng Đàm và cộng sự, bệnh viện Trung y Bắc Kinh): Kim tiền thảo, Xa tiền tử, Trạch tả, Ý dĩ nhân, Sơn tra, Thảo hà xa, Hà thủ ô, Đương quy đều 12g, Thảo quyết minh, Đan sâm, Bạnh hoa xà thiệt thảo, Sinh hoàng kỳ, Sinh địa, Hoàng tinh đều 15g, Đơn bì, Đại hoàng than, Đào nhân đều 10g sắc uống. Biện chứng gia giảm: Kinh nguyệt nhiều bỏ Đào nhân. Tiêu lỏng bỏ Sinh địa hoặc dùng Sinh địa than. Vàng da thêm Nhân trần. Đã điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính 78 ca, kết quả tốt 41 ca (52,6%), có kết quả 27 ca (34,6%), không kết quả 10 ca (12,8%). Tỷ lệ có kết quả 87,2% (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Thanh Nhiệt Giải Độc Ẩm (Chu Sơn Quyền, Trạm phòng dịch Châu Hải tỉnh Quảng Đông): Sài hồ, Hổ trượng, Cương tàm đều 10g, Chỉ xác, Uất kim, Áp cước mộc, Bán chi liên, Đan sâm đều 15g, Xích thược 20g, Cam thảo 3g, sắc uống. Một liệu trình là 1 tháng. Biện chứng gia giảm: Huyết hư thêm Đương quy, Thủ ô. Khí hư thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm. Can thận âm hư thêm Sa sâm, Thục địa, Nữ trinh tử. Ăn kém thêm Thần khúc, Sơn tra, Mạch nha. Đã dùng trị 35 ca viêm gan siêu vi B mạn tính, sau 1 tháng số bệnh nhân hết triệu chứng lâm sàng hoặc giảm rõ, SGPT bình thường, HBSAG giảm nhẹ. Đạt tỷ lệ 91,43% (Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Dịch Chích Hoàng Kỳ (Ngô Khái Chí): Dịch Hoàng kỳ 4ml (1ml có 1g thuốc sống), chích bắp ngày 1 lần (thêm một số vitamin). Trị 29 ca viêm gan mạn, liệu trình 1 -3 tháng. Có kết quả cải thiện triệu chứng và gan nhỏ (Tạp Chí Trung Y Triết Giang 1983, 3: l03). + Dịch Chích Sâm Kỳ: mỗi lần chích bắp 4ml (1ml có 2g thuốc sống Hoàng kỳ và lg Đơn sâm), ngày 1 lần, một tuần chích 6 lần, một liệu trình 3 thámg. Đã dùng trị 58 ca viêm gan kéo dài, tỉ lệ kết quả 89,5. Triệu chứng cải thiện và chức năng hồi phục tốt (Trung Thảo Dược 1980. 12: 551).
  12. + Dịch Chích Hoàng Kỳ 100: Thủy châm huyệt Túc tam lý (2 bên) và Thận du (2 bên) mỗi 3 ngày, luân phiên chích, mỗi lần 1 ml. Hai tháng là một liệu trình, một số bệnh nhân được chích thêm 1ml Đảng sâm và cho thuốc bảo vệ gan. Đã trị 174 ca viêm gan vi rút B, HBSAG (+), số bệnh nhân chuyển (-) và tiến bộ 131 ca, tỷ lệ 75,80% (Mạch Tiễn, Tạp Chí Trung Y Dược Cát Lâm 1985, 5: 24). + Cam Thảo Phiến: Dùng trị 330 ca viêm gan B mạn tính có kết quả 77%, tỷ lệ kháng E chuyển (-) 44,8%. Thực nghiệm chứng minh thuốc làm thoái hóa mỡ và hoại tử tế bào gan giảm, giảm phản ứng viêm của tổ chức gian bào, tăng tế bào gan tái sinh, hạn chế sự tăng sinh của tổ chức liên kết, nhờ vậy giảm được xơ gan (Thông Báo Trung Dược 1987, 9: 60). + Linh Chi Phấn: Tác giả dùng trị các bệnh viêm gan mạn hoạt động, viêm gan mạn kéo dài, xơ gan 367 ca, có nhận xét phần lớn triệu chứng chủ quan được cải thiện, men SGPT, SGOT giảm với tỷ lệ 67,7% (Tạp Chí Bệnh Gan Mật 1985, 4: 242). + Phức Phương Đương Qui (Đương qui, Đan sâm, lượng bằng nhau) mỗi viên 0,3g, uống 3 viên mỗi lần, ngày uống 3 lần, 3 tháng là một liệu trình. Trị 15 ca viêm gan mạn có TTT (+) kết quả hồi phục bình thường 49 ca (65,33%), có tác dụng làm giảm gamma-globulin (Uông Thừa Bách, Tạp Chí Trung Tây Y Kết Hợp 1984, 2: 127). + Dịch Chích Đương Qui, Đương Qui Hoàn: mỗi lần chích bắp 4ml (hàm lượng 4g/ml), ngày 1 lần hoặc uống Đương Qui Hoàn 15 viên, 2-3 lần/ngày, 2 tháng là một liệu trình. Tác giả trị viêm gan mạn 10 ca, viêm gan mạn hoạt động 7 ca, xơ gan 10 ca đều có tác dụng, cải thiện triệu chứng và hồi phục chức năng gan (Quan Mậu Hội và cs, Tin Tức Trung Y Dược 1985, 3:18). + Dịch Chích Glucoza Hoàng Cầm: Chích bắp 60- 120ml hoặc truyền tĩnh mạch. Nếu dùng thuốc uống 0,5g/1ần x 3 lần/ngày, liệu trình 1 tháng. Đã trị viêm gan mạn và kéo dài 268 ca, tỉ lệ có kết quả 63,6-73,3% (Tạp Chí Nội Khoa Trung Hoa 1978. + Bồ công anh: uống hoặc chích bắp trị 77 ca viêm gan cấp có tác dụng hạ men transaminasa (Tạp Chí Trung Y 1979,12: 55).
  13. + Tam Thảo Thang: Bạch hoa xà thiệt thảo, Hạ khô thảo đều 31,25g, Cam thảo 15,65 chế dạng sirô. Đã dùng trị viêm gan cấp, kết quả 100%, thời gian điều trị trung bình 25,3 ngày (Khoa Lây Bệnh Viện Trực Thuộc Viện Y học Hồ Nam, Tờ Thông Tin Trung Thảo Dược 1978, 7: 28). + Đại Hoàng dùng sống: Người lớn 50g sắc uống, trẻ em 25-30g, ngày 1 lần, trị 80 ca viêm gan vàng da cấp, bình quân dùng thuốc 16 ngày, triệu chứng cải thiện, chức năng gan hồi phục tỷ lệ khỏi 95%, tốt 81,25% (Ngô Tài Hiền, Trung Tây Y Kết Hợp 1984, 2: 86). + Dịch Chiết Đơn Sâm: chích bắp 4ml/ngày. Trị viêm gan mạn hoạt động theo dõi 3 tháng (có lô đối chứng điều trị Tây y). Kết quả, Tổ dùng Đơn sâm sau 2 tháng có 11 ca chức năng gan hồi phục bình thường, lô chứng sau 3 tháng mới có 6 ca chức năng gan hồi phục bình thường (Tạp Chí Trung Tây Y kết hợp 1984, 2:86). + Hổ Trượng Trà: dùng viên Hổ trượng, Sơn tra tán bột trộn đều chế dạng pha trà uống. Trị 32 ca viêm gan siêu vi B mạn tính hoạt động, HBSAG (+). Kết quả 18 ca chuyển âm tính, 11 ca nhẹ hơn, 3 ca không thay đổi, tỷ lệ có kết quả 90,63%, triệu chứng lâm sàng cải thiện, chức năng gan hồi phục (Tạp Chí Trung Y Sơn Đông 1982, 2: 84). + Thuốc Chích Ngải Diệp: chích bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần, liệu trình 1 - 2 không (có kết hợp thuốc bảo vệ gan và trị triệu chứng đã trị cho 100 ca, bệnh gan gồm viêm gan kéo dài, viêm gan mạn và xơ gan, kết quả 100% đối với viêm gan kéo dài và viêm gan mạn 46,5% đối với xơ gan (Bệnh Viện Nhân Dân Cát Lâm số 2 Trung Quốc, Báo Tân Y Học 1974, 2: 83). + Kháng Chuyển Âm Phương: (Giang Tây Trung Y Dược 1984: 6): Bạchhoa xà thiệt thảo, Hoàng mao nhung, Bán biên liên, Tiên hạc thảo đều 30g, Ý dĩ nhân 20g, Bạch đầu ông 15g, Kê nội kim 10g, Đại hoàng 3g. Sắc uống. TD: Giải độc hóa ứ, phù bản chuyển âm. Trị viêm gan siêu vi B. Đã trị 508 ca, uống hơn một tháng có 32% chuyển thành âm tính, uống hơn 3 tháng 86% chuyển thành âm tính. Uống đến nửa năm (6 tháng) toàn bộ chuyển thành âm tính. Đạt tỉ lệ 100%.
  14. + Hoàng Bạch Quy Hổ Thang ( Tứ Xuyên Trung Y 1986: 8): Hoàng kỳ 30g, Hoàng tinh, Bạch thược đều 10 – 20g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Đương quy 10g, Hổ trượng 30g. Sắc uống. TD: Thanh nhiệt giải độc, ích khí hoạt huyết. Trị viêm gan siêu vi B mạn tính. + Ất Can Tiễn (Tứ Xuyên Trung Y 1987: 3): Hoàng kỳ, Đan sâm, Hổ trượng, Thổ phục linh, Bạch hoa xà thiệt thảo, Tạo giác thích đều 25g, Lộ phòng phong, Cam thảo đều 8g, Khuẩn linh chi (nghiền nát, uống với nước thuốc sắc) 5g. TD: Thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, ích khí hoạt huyết, lợi đởm. Trị gan viêm siêu vi B. Đã trị 25 ca, đạt kết quả 100%. Uống thuốc 3-4 thang. Có 15 người khỏi, 10 người có chuyển biến tốt trong thời gian ngắn. + Giải Độc Thang I (Hà Bắc trung y 1988: 1): Bản lam căn, Đan sâm đều 30g, Kim ngân hoa, Hổ trượng, Kim tiền thảo đều 15g, Uất kim, Xuyên luyện tử, Miết giáp, Mẫu lệ, Mẫu đơn bì, Phục linh, Bạch thược đều 20g, Đảng sâm, Mộc hương, Đương quy đều 15g, Bạch truật, Tiêu Sơn tra, Tiêu Mạch nha, Tiêu Thần khúc đều 10g, Cam thảo 3g. Sắc uống. TD: Sơ Can, kiện Tỳ, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, lợi thấp. Trị viêm gan siêu vi B. Đã trị 32 ca (bao gồm cả 3 giai đoạn: Nhẹ, Nặng và rất năng), kết quả: khỏi hẳn 11, cơ bản khỏi: 10, chuyển biến tốt 9, không kết quả 2. Đạt tỉ lệ 93,6%. + Ích Khí Hoạt Huyết Thang I ((Sơn Đông Trung Y Tạp Chí 1988: 5): Đảng sâm 20-30g, Đương quy 10-15g, Hoàng kỳ, Đan sâm, Ngũ vị tử, Câu kỷ tử, Phục linh đều 15g, Xuyên khung 10g, Cam thảo 6g. Sắc uống. Uống liên tục 5 ngày, nghỉ 2 ngày, 8 ngày là một liệu trình. TD: Ích khí hoạt huyết, Dưỡng âm liễm Can. Trị viêm gan siêu vi B mạn tính. Đã trị 61 ca. kết quả: cơ bản khỏi 31, có hiệu quả 14, có chuyển biến 10, không kết quả 6. Đạt tỉ lệ 90,16%. + Ất Cảm Thang (Hải Nam Y Học 1990: 2): Sinh địa 30g, Trạch tả 12g, Phục linh, Sơn dược đều 15g, Mẫu đơn bì, Sơn thù nhục đều 10g, Trư linh 15g. Sắc uống.
  15. TD: Lương huyết giải độc, tư âm lợi thấp. Trị gan viêm siêu vi truyền nhiễm. Đã trị 47 ca (ABsAg dương tính 33 ca, HbsAg và HBcAg đều dương tính 9 ca, HbsAg và HBcAg cũng như HbcAb dương tính 5 ca). Điều trị trên 2 tháng, chuyển thành âm tính 45 ca. Tỉ lệ chuyển thành âm tính là 95,47%. + Lam Xà Nhị Sâm Thang (Tứ Xuyên Trung Y 1989: 10): Hoàng kỳ 20g, Bản lam căn, Bạch hoa xà thiệt thảo, Đan sâm đều 15g, Xích thược, Bạch thược đều 12g, Đảng sâm, Bạch truật (sao), Hậu phác, Tiêu tam tiên đều 10g, Sài hố, Cam thảo đều 6g. Sắc uống. TD: Ích khí, kiện Tỳ, hoạt huyết, giải độc. Trị viêm gan siêu vi B truyền nhiễm. Đã trị 60 ca. Khỏi hoàn toàn 40 ca, có hiệu quả ít 15, không kết quả 5. Tỉ lệ đạt 91,67%. + Thanh Can Giải Độc Phương (Trung Y Nội Khoa Tân Luận – Vân Hà Nghiệm Phương): Sài hồ, Bán hạ, Cương tằm đều 9g, Xích thược, Đương quy, Hoàng cầm, Bản lam căn đều 15g, Bồ công anh, Mẫu lệ (sống), Thổ phục linh đều 30g. Sắc uống. TD: Thanh Can giải độc. Trị viêm gan siêu vi B. + Thanh Đởm Giải Độc Phương (Trung Y Nội Khoa Tân Luận – Vân Hà Nghiệm Phương): Thủy ngưu giác, Hoàng cầm, Đan sâm đều 15g, Quảng uất kim, Chi tử, Cương tằm đều 9g, Bồ công anh, Thổ phục linh, Bạch mao căn đều 30g, Hoàng liên miến 3g (uống với nước thuốc sắc). Sắc, uống chung với Ngưu Hoàng Giải Độc Hoàn 2 viên. TD: Thanh Đởm, giải độc. Trị viêm gan siêu vi B. Một Số Bài Thuốc Đơn Giản Trị Viêm Gan Siêu Vi A (Hav). . Rạ lúa nếp khô 40-80g sắc uống (viêm gan mạn cũng có kết quả). . Rau Diếp cá 10-20g, Rễ tranh 15-30g, Hy thiêm thảo 8-12g, Xa tiền thảo 8-12g sắc uống. . Liên tiền thảo 40g hoặc Kim tiền thảo 40g sắc uống. . Rễ cây Bo Bo, Thổ Nhân trần mỗi thứ 40g sắc uống.
  16. CHÂM CỨU + Hậu khê xuyên Lao cung. Ngày châm một lần, mỗi lần châm huyệt một bên, luân phiên thay đổi hai bên phải trái. Hai tuần là một liệu trình. Châm trước tả sau bổ, kích thích mạnh (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu). + Hợp cốc xuyên Lao cung. Mỗi lần lấy một bên huyết. Sau khi đắc khí, lưu kim 20~30 phút (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu). + Dùng Ban miêu 20g (sao với cám, bỏ đầu, chân, cánh, nghiền nát), Hùng hoàng 20 (tán nhuyễn), Mật heo 60g, Mật ong 100g, Xạ hương 2g. Trước tiên lấy Mật heo và Mật ong cho vào chưng sôi, bỏ bã, cho các vị thuốc bột kia vào, trộn đều thành cao. Dán vào các huyệt: 1- Túc tam lý (2 bên), Phúc suy (bên phải), Dương lăng tuyền (2 bên), Nhật nguyệt (bên phải), Âm lăng tuyền (bên phải), Tỳ du (hai bên). 2- Dán vào vùng đau (trên, dưới và giữa chỗ đau). Hai nhóm trên, thay phiên mỗi ngày dán một nhóm. 7~10 ngày là một liệu trình. Đã trị 56 ca trẻ nhỏ bị viêm gan độc tính, trong đó, gan viêm cấp 48, mạn tính 8. Kết quả, trừ một ca đắp vào thời kỳ giữa, còn lại tất cả đều dán thuốc trị 2 tháng đều khỏi (Tứ Xuyên Trung Y Tạp Chí 1985, 6: 35). + Chích dịch Hoàng kỳ vào các huyệt Túc tam lý (2 bên), Thận du (2 bên). Cứ 3 ngày chích một lần, mỗi lần chích mỗi huyệt 1ml. Hai tháng là một liệu trình. Thời gian điều trị 15~30 ngày bệnh giảm. Đã trị 174 ca HBsAg dương tính. Kết quả: chuyển sang âm tính 79, Men gan giảm 52 ca (Cát Lâm trung Y Dược 1985, 5: 24). Y ÁN VIÊM GAN (Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương’ q Thượng của Lý Văn Lượng). Ngô X, nữ 50 tuổi, ngực nặng tức, đầu mỏi, bụng đầy, đầu váng mắt hoa, tay chân yếu, lúc đói thì tay run, tim hồi hộp, ăn vào thì tim đập nhanh thêm, ợ ra mùi dầu, đi ngoài mỗi ngày nhiều lần. Kiểm tra: gan to 2 ngón, phản ứng Maclagan 9 đơn vị, phản ứng Hanger (+++), Transaminase 400 đơn vị. Bệnh nhân tỳ vị vốn bị hư yếu, thường bị mờ mắt, bụng chướng, phân lỏng. Viêm gan tái phát, gan to sườn phải đau chướng, mạch Hư Huyền Hoãn, chất lưỡi nhạt, dày. Nguyên nhân bệnh là
  17. tỳ hư thấp khốn, can mộc không phát huy được uất, ‘can có tà, khí của nó chạy ở 2 bên sườn’, ‘gan to, ắt nghịch vị bức yết, bức yết ắt khô cách trung, làm cho sườn đau’. Tà chính tương bác, can tỳ thương tổn, nên dùng phép sơ can thực tỳ, vận hóa khí cơ. Cho uống ‘Gia Vị Thư Can Ẩm’ (Tử đan sâm 10g (sao rượu), Hàng bạch thược 10g (sao rượu), Phiêu bạch truật 9g (sao đất), Tây chỉ xác 6g (sao cám), Xuyên uất kim 6g, Thanh bì 5g (sao dấm), Bắc sài hồ 5g, Chích cam thảo 6g, Mạch nha (sao) 9g, Sinh bắc tra 6g, Kê nội kim 5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang). Uống hơn 50 thang, các chứng đều hết. Kiểm tra lại chức năng gan đều bình thường. Bàn luận: ‘Gia Vị Thư Can Ẩm’ là bài thuốc bổ mà không cần kíp, sơ mà không kích, đã dùng nhiều đều có công hiệu. Sau khi dùng thuốc ‘Gia Vị Thư Can Ẩm’ mấy ngày, nếu như đau ở vùng sườn phải vẫn lan ra phía lưng, tay chân mỏi, đêm ngủ nóng hầm hập ra mồ hôi, đó là can âm bất túc, can khí tán mà không kề lại, hư dương tản ra mà không thu lại, có thể dùng tiếp Dưỡng Can Ẩm (Tử đan sâm 10g (sao rượu), Hàng bạch thược 10g, Sơn thù du 6g (bỏ hột), Thanh bì 5g (sao dấm), Xuyên uất kim 5g, Mẫu lệ 12g (sắc trước), Mạch nha (sao), Chích cam thảo 5g). Bài này làm thu tán, tăng sự nuôi dưỡng, tức là theo ý ‘cấp thì phải hoãn, tán thì phải thu, tổn thì phải ích’. Đối với bệnh nhân can uất tì hư, tinh thần ngưng uất mà có các triệu chứng kiểu viêm gan không vàng da như trên thì phải nghĩ đến Sài hồ ‘đạt uất cánh việt hư dương’, lại nghĩ đến Bạch truật ‘vận tì hữu thương can âm, cam toan liễm âm’, bài này như thế là được. Y ÁN VIÊM GAN M ẠN (Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương’ q Thượng của Lý Văn Lượng). Trịnh XX, nam, 45 tuổi, Viêm gan mạn tính đã quá 7 năm. 3 năm trước kiểm tra đã từng phát hiện thấy HAA dương tính, 1 năm nay chuyển âm tính. Người bệnh chóng mặt, vùng gan có lúc đau, mỏi mệt, người béo phì, miệng khô đắng, bứt rứt không ngủ, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng hơi bẩn, mạch Huyền Tế Sác. Gan dưới bờ s- ườn 1cm, độ cứng I-II, không sờ thấy lách, Transaminase trên 500 đơn vị, phản ứng Hanger (+++), HAA (-), AFP (-), chẩn đoán là viêm gan mạn tính tồn tại. Đây là thuộc bệnh can thận âm hư cộng thêm thấp, nên trị bằng phép dưỡng âm, bổ can thận, lợi thấp. Dùng ‘Tam Oâ Nhân Trần Thang Gia Vị’(Thủ ô 15g, Ô đầu y 9g, Miên nhân trần 15g, Đơn bì 9g, Thuyền y 4g, Sinh địa 12g, Đương quy 4g, Cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang), uống được 1 tháng thì Transaminase còn 210 đơn vị, các chứng nói trên đều chuyển biến tốt. Lại dùng bài trên gia giảm thêm 1 tháng nữa, toàn bộ chức năng gan trở lại bình thường.
  18. Y ÁN VIÊM GAN M ẠN TẤN CÔNG (Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương’ q Thượng của Lý Văn Lượng). Lý XX, nữ, 38 tuổi, chẩn bệnh ngày 18-5-1974. Từ tháng 1-1975 mắc bệnh viêm gan cấp thể vàng da, nằm viện điều trị 3 tháng, khỏi về cơ bản, xuất viện. Năm 1974 tái phát, lại nằm viện 5 tháng, lúc đó Transaminase không giảm, có lúc lên tới 600 đơn vị, bệnh nhân đã xin lên nằm bệnh viện tỉnh. Kiểm tra gan to, gan dưới bờ sờn 2cm, sờ chưa thấy lách. Transaminase 560 đơn vị, phản ứng Maclagan 20 đơn vị, phản ứng Hanger (+++), chỉ số hoàng đản bình thường. Chẩn đoán chính xác là viêm gan mạn tấn công. Bệnh nhân còn thấy hai bên sườn đau chướng, ăn uống không ngon, buồn nôn, tinh thần mệt mỏi, đại tiện lúc loãng lúc khô, tiểu tiện vàng đỏ, miệng đắng, họng khô, có máu mủ, lòng bàn tay nóng, lưỡi đỏ, rêu trắng bẩn, mạch Huyền hơi Sác. Đó là can đởm uất nhiệt, vị không còn chức năng hòa giáng, chữa bằng phép sơ can, giải uất, thanh nhiệt, hòa vị. Cho dùng ‘Gia Vị Tứ Nghịch Tán (Thang)’ (Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Chỉ thực 10g, Uất kim 10g, Đan sâm 10-15g, Thần khúc 10g, Mạch nha 15g, Liên kiều 10-15g, Bản lam căn 15-20g, Hoắc hương 10g, Cam thảo 5g, Mao căn 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang), bệnh nhân uống 30 thang, kiểm tra lại chức năng gan Transaminase 125 đơn vị, phản ứng Maclagan 7 đơn vị, phản ứng Hanger (+), các chứng khác đều hết. Lại uống lại trên 20 thang, kiểm tra lại chức năng gan thì toàn bộ hồi phục như thường. Theo dõi 5 tháng cha thấy có biến đổi gì khác thường. Bàn luận: Dùng ‘Gia Vị Tứ Nghịch Tán (Thang)’ tùy bệnh nhân mà gia giảm, đối với viêm gan thể không vàng da, thể vàng da (sau khi về cơ bản đã hết vàng da), viêm gan mạn tính và men Transaminase không giảm, đều có tác dụng tốt. Đã dùng bài này cho hơn 50 người bị các bệnh kể trên kết quả rất tốt. Y ÁN VIÊM GAN M ẠN (Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương’ q Thượng của Lý Văn Lượng). Trần XX, nam 23 tuổi đến khám tháng 5 năm 1971. Năm 1964, bệnh nhân bị bệnh viêm gan do virus cấp tính, đã điều trị nửa năm tại một bệnh viện, các triệu chứng và các chức năng gan đều đã có chuyển biến tốt và ra viện. Nhưng xuất viện mấy năm rồi vẫn thường đau ở vùng gan, khi mệt nhọc lại càng đau thêm. Tháng 10- 1970 bắt đầu thấy đau ở vùng lách, đến tháng 5-1971 hai bên sườn đau nặng thê m, tay chân bải hoải, không muốn ăn uống, đại tiện lỏng, lòng bàn chân tay nóng. Khám thấy tình trạng nói chung còn khá, bờ gan trên ở giữa sườn số 5, bờ dưới ở 2 cm dưới mép sườn trên đường vạch giữa đòn, chất gan mềm sờ đau, có thể sờ được lách tới 1cm, sờ hơi đau, mu bàn tay phải có thể thấy bờ răng cưa. Xét nghiệm:
  19. chức năng gan trong phạm vi bình thường, tiểu cầu 120.000/mm3. Rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Hoạt. Cho dùng ‘Ích Can Thang’ (Đảng sâm 12g, Bạch truật (sao) 10g, Thương truật (sao) 10g, Hoắc hương 10g, Nhân trần 15g, Đương quy 12g, Hương phụ 10g, Phật thủ 10g, Sơn tra 15g, Trạch lan 15g, Sinh mẫu lệ 15g, Vơng bất lưu hành 12g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang). Trong quá trình điều trị, đã gia giảm sử dụng Bội lan 10g, Sinh dĩ mễ 15g, Hồng hoa 12g, Miết giáp 12g. Đồng thời dùng cả các thuốc tây trợ gan. Sau hơn 2 tháng dùng thuốc thấy các triệu chứng đã chuyển biến tốt, ăn ngủ và đại tiểu tiện bình thường, chân tay đỡ bải hỏai, lòng bàn tay chân không còn nóng, giảm hẳn đau ở vùng gan tì, gan ở dưới sườn 1cm, sờ không thấy đau rõ, chưa sờ thấy lách. Xét nghiệm lại chức năng gan cũng chưa thấy gì khác thường, tiểu cầu tăng lên tới 168.000/mm3. Sau đó dùng bài trên làm thành hoàn mà uống để củng cố tác dụng về sau. Bàn luận: Bệnh nhân này sưng gan và lách, xét nghiệm chức năng gan bình thường mà chân tay lại bải hỏai, không thích ăn uống, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Hoạt. Đó là các chứng thuộc can uất tỳ hư, khí trệ huyết ứ, hai bên sườn đau chướng, mạch Hoạt, chứng tỏ là thấp nhiệt chưa thanh. Bởi vậy trong sự phù chính thì nặng về kiện tỳ thư can. Trong bài có Đảng sâm, Thương truật, Bạch truật (sao) để kiện tỳ, táo thấp; Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu can, lại phối hợp các thuốc sơ can lý khí và hoạt huyết hóa ứ. Khí hành ắt là huyết dễ hoạt, huyết hoạt ắt ứ dễ trừ, như vậy có thể có hiệu lực điều trị mong muốn.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản