
Cao Thắng
Cao Thắng (1864-1893) là một trợ thủ đắc lực của Phan Đình Phùng, và là một
chỉ huy xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) trong lịch sử Việt
Nam ở cuối thế kỷ 19.
Thân thế và sự nghiệp
Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh[1].
Năm Giáp Tuất (1874), khi mới 10 tuổi, Cao Thắng đi theo Đội Lựu (Trần
Quang Cán) [2] làm liên lạc cho nghĩa quân mà triều đình Huế gọi là giặc Cờ
Vàng[3]. Sau khi Đội Lựu chết, Cao Thắng lẩn trốn, được giáo thụ Phan Đình Thuật
(anh ruột Phan Đình Phùng) đưa về nuôi.
Năm 1881, khi ông Thuật mất Cao Thắng trở về Sơn Lễ làm ruộng. Năm Giáp
Thân (1884), Cao Thắng bị vu cáo là thủ phạm giết vợ Quản Loan nên bị bắt và giam
tại nhà lao Hà Tĩnh.

Ngày 2 tháng 10 năm Ất Dậu (5 tháng 11 năm 1885), thủ lĩnh trong phong trào
Cần vương là Lê Ninh đã đưa quân đến tập kích tòa thành trên, giết chết Bố chánh Lê
Đại, bắt sống Án sát Trịnh Vân Bưu, và giải phóng tù nhân, trong đó có Cao Thắng.
Gia nhập lực lượng Hương Khê
Trở lại quê nhà, Cao Thắng cùng Cao Nữu (em ruột) và Nguyễn Kiểu (bạn
thân) chiêu mộ được khoảng 60 người đồng chí hướng, rồi tất cả cùng tự nguyện đến
tham gia cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Tiến sĩ Phan Đình Phùng (người được vua
Hàm Nghi giao trọng trách tổ chức phong trào kháng Pháp ở Hà Tĩnh) làm thủ lĩnh.
Ban đầu, Cao Thắng được phong làm Quản cơ. Đến đầu năm 1887, khi phong
trào bị suy yếu, Phan Đình Phùng giao quyền tổng chỉ huy lại cho Cao Thắng để ra
Bắc đến các tỉnh Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh,...tìm sự hỗ trợ và liên kết lực lượng.
Ở lại Hà Tĩnh, Cao Thắng cùng các chỉ huy khác như Cao Nữu, Cao Đạt,
Nguyễn Niên,...đem quân đến làng Lê Động (Hương Sơn) để tổ chức lại lực lượng,
luyện quân, xây dựng hệ thống đồn lũy, rèn đúc vũ khí,...
Theo thông tin trên báo Hà Tĩnh (bản điện tử đăng tải ngày 21 tháng 8 năm
2009) thì Cao Thắng đã cho xây dựng một hệ thống đồn lũy tựa lưng vào dãy Thiên
Nhẫn và Giăng Màn, vây kín ba mặt Bắc, Tây, Nam, sẵn sàng ứng cứu cho nhau một
cách nhanh chóng. Ngoài ra, ở đây còn có đường rút sang Lào, có đường sang Nghệ
An, vào Quảng Bình, xuống các vùng thuộc Hà Tĩnh. Quân Pháp tiến vào đây chỉ có
một con đường độc đạo là Quốc lộ 8. Chính vì thế mà những căn cứ này đã đứng vững
cho đến ngày cuối cùng của cuộc khởi nghĩa (1896)[4].
Đề cập đến việc Cao Thắng rèn đúc vũ khí, nhà sử học Phạm Văn Sơn kể:

Một sự khó khăn nhất bấy giờ đối với nghĩa quân là vấn đề vũ khí. Kinh
nghiệm cho thấy gươm giáo, gậy guộc không chống nổi súng đồng...Cho nên Cao
Thắng liền nghĩ cách chế tạo súng đạn...Trong một trận giáp chiến trên đường Nghệ
An-Hương Sơn, Cao Thắng đoạt được 17 khẩu súng bắn mau của quân Pháp...Ông
liền cho thợ rèn ở hai làng là Vân Chàng và Trung Lương (Hà Tĩnh) lấy súng làm
mẫu...Sau mấy tháng ròng đúc được 350 khẩu như hệt kiểu súng năm 1874 của
Pháp...[5]
Cuối tháng 9 năm 1889, Phan Đình Phùng từ Bắc Kỳ trở về Hà Tĩnh. Nhờ Cao
Thắng và các chỉ huy khác, mà lực lượng lúc này đã có khoảng ngàn lính và 500 khẩu
súng kiểu Pháp và rất nhiều súng hỏa mai[6]. Nhận thấy trong công tác chuẩn bị, mọi
mặt đều đã khá, Phan Đình Phùng và Cao Thắng bèn cho mở rộng địa bàn hoạt động
ra khắp bốn tỉnh là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình; làm cản trở con
đường đi lại Bắc-Nam và công cuộc thôn tính nước Việt của quân Pháp.
Kể từ đó trở đi, Cao Thắng trở thành một trợ thủ đắc lực của thủ lĩnh Phan
Đình Phùng, và là một chỉ huy dũng cảm và xuất sắc của lực lượng Hương Khê. Mặc
dù bận rộn công việc điều hành chung và rèn đúc vũ khí, nhưng Cao Thắng cũng đã
tham dự một số trận đánh, đáng kể là trận:
Chống cuộc càn quét của quân Pháp tại khu Hói Trùng và Ngàn Sâu vào đầu
tháng 8 năm 1892.
Dùng mưu bắt sống được Tuần phủ Đinh Nho Quang vào tháng 3 năm 1892,
làm chấn động dư luận Hà Tĩnh[7].

