intTypePromotion=1
ADSENSE

Cập nhật chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày sớm 2015

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

144
lượt xem
16
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiên lượng của ung thư dạ dày tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, do đó chẩn đoán sớm, khi còn có thể điều trị tiệt căn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm, cần có những hiểu biết căn bản về hình ảnh nội soi ánh sáng trắng, ánh sáng phổ màu tăng cường, nội soi nhuộm màu, nội soi phóng đại, siêu âm nội soi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cập nhật chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày sớm 2015

tổng quan:<br /> <br /> CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ<br /> UNG THƯ DẠ DÀY SỚM 2015<br /> Tổng hợp và dịch: Trần Văn Huy, Trần Quang Trung<br /> Trường Đại học Y Dược Huế<br /> Tóm tắt<br /> Tiên lượng của ung thư dạ dày tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, do đó chẩn đoán sớm, khi còn có thể<br /> điều trị tiệt căn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm, cần có<br /> những hiểu biết căn bản về hình ảnh nội soi ánh sáng trắng, ánh sáng phổ màu tăng cường, nội soi nhuộm<br /> màu, nội soi phóng đại, siêu âm nội soi. Và quan trọng là bệnh nhân phải được nội soi sớm, một thống<br /> kê về kết quả nội soi sàng lọc trên 40.000 bệnh nhân công bố đầu 2015 cho thấy nội soi sàng lọc giúp<br /> phát hiện nhiều trường hợp có tổn thương tiền ung thư và ung thư dạ dày sớm. Điều trị ung thư dạ dày<br /> sớm bằng các thủ thuật nội soi xâm nhập tối thiểu đã trở thành phương pháp có rất nhiều ưu việt. Bên cạnh kỹ<br /> thuật cắt hớt niêm mạc qua nội soi (EMR) thì kỹ thuật mới là phẫu tích dưới niêm mạc qua nội soi (ESD)<br /> gần đây đã được triển khai, nhân rộng ở nhiều trung tâm trên thế giới. Thời gian qua, thực sự chiến lược<br /> triển khai ESD đã được đẩy mạnh, nhiều phương tiện, dụng cụ đã được phát triển, chỉ định cũng được<br /> mở rộng hơn và ngày càng có nhiều báo cáo về tính an toàn và kết quả theo dõi lâu dài. Ngoài ra, người<br /> ta cũng đã triển khai các phương pháp điều trị phối hợp giữa nội soi và ngoại tiêu hóa. Rõ ràng rằng, số<br /> bệnh nhân được làm ESD sẽ ngày một tăng và với sự phát triển không ngừng của các kỹ thuật nội soi,<br /> không những tiên lượng của bệnh nhân ung thư dạ dày sẽ cải thiện đáng kể mà chất lượng sống sau điều<br /> trị của họ cũng được đảm bảo gần như bình thường.<br /> Từ khóa: Ung thư dạ dày, ung thư dạ dày sớm, nội soi, chẩn đoán<br /> Summary<br /> UPDATE ON THE DIAGNOSIS AND MANAGEMENT OF EARLY GASTRIC CANCER<br /> Tran Van Huy, Tran Quang Trung<br /> Hue University of Medicine and Pharmacy<br /> The prognosis of gastric cancer depends principally upon an early diagnosis. An early and accurate<br /> diagnosis of gastric cancer needs some basic knowledges about the endoscopic characteristics of white light<br /> endoscopy, chromoendoscopy, magnified endoscopy, FICE and NBI…A strategy of screening is also a key<br /> factor for early diagnosis. The treatment of early gastric cancer by endoscopy techniques have showed more<br /> and more advantages. Beside of EMR, the technique of ESD is now applied more widely and lead to a very<br /> good prognosis and nearly a curative treatment for the patients with early gastric cancer.<br /> Key words: Gastric cancer, early gastric cancer, endoscopy, diagnosis<br /> 1. GIỚI THIỆU<br /> Mặc dù cả tỉ lệ mắc và tử vong của ung thư dạ<br /> dày đang có xu hướng giảm, bệnh lí này vẫn còn<br /> là một trong những nguyên nhân gây tử vong do<br /> ung thư hàng đầu trên toàn cầu [1, 2]. Tỉ lệ ung thư<br /> dạ dày khác nhau giữa các khu vực, vùng Đông<br /> <br /> Á, gồm Nhật Bản và Hàn Quốc có tỉ lệ cao hơn<br /> hẳn các nước Tây phương. Ở Nhật Bản, kể từ sau<br /> khi chương trình sàng lọc ung thư dạ dày bằng<br /> chụp đối quang kép dùng barit, rồi sau đó là sự<br /> phát triển của nội soi, ung thư dạ dày đã được chẩn<br /> đoán sớm, từ khi chưa có triệu chứng lâm sàng với<br /> <br /> - Địa chỉ liên hệ: Trần Văn Huy, email: bstranvanhuy@gmail.com<br /> - Ngày nhận bài: 28/12/2014 * Ngày đồng ý đăng: 5/1/2015 * Ngày xuất bản: 10/1/2015<br /> Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 24<br /> <br /> 5<br /> <br /> tỉ lệ ngày càng cao [3]. Hiện nay, có tới khoảng<br /> một nửa số ca ung thư dạ dày ở quốc gia này được<br /> điều trị ở giai đoạn sớm [4].<br /> Ngược lại, ở phương Tây, ung thư dạ dày vẫn<br /> còn thường được chẩn đoán muộn, dẫn đến tiên<br /> lượng xấu. Tiên lượng phụ thuộc vào giai đoạn<br /> bệnh được chẩn đoán và chỉ có loại bỏ khối u hoàn<br /> toàn mới điều trị được.<br /> Kết quả sống 5 năm với tỉ lệ trên 90% sau điều<br /> trị ở cả phương Tây và Nhật Bản sau điều trị ung thư<br /> dạ dày sớm cho thấy vai trò quan trọng của việc phát<br /> hiện tổn thương càng sớm càng tốt [5,6]. Hơn nữa,<br /> cùng với việc nâng cao tỉ lệ chẩn đoán ung thư dạ<br /> dày sớm ở Nhật Bản là sự mở rộng của các phương<br /> pháp điều trị xâm nhập tối thiểu qua nội soi đường<br /> miệng như cắt hớt niêm mạc (EMR), sau đó là phẫu<br /> tích dưới niêm mạc (ESD). Phương pháp này được<br /> <br /> sự đồng thuận của đông đảo các nhà nội soi tiêu hóa,<br /> kể cả ở phương Tây và nâng số ca ung thư dạ dày<br /> được điều trị qua nội soi đường miệng tăng lên rất<br /> nhanh [7, 8]. Bài tổng quan này nhằm nhìn nhận lại,<br /> cập nhật thêm các vấn đề hiện tại trong chẩn đoán,<br /> điều trị của ung thư dạ dày sớm và đề cập một số<br /> hướng phát triển trong tương lai.<br /> 2. PHÂN LOẠI UNG THƯ DẠ DÀY SỚM<br /> Ung thư dạ dày sớm được định nghĩa là tổn<br /> thương ác tính còn khu trú ở lớp niêm mạc hoặc dưới<br /> niêm mạc của dạ dày, không tính đến tình trạng di<br /> căn hạch bạch huyết [9]. Phân loại ung thư dạ dày<br /> về mặt đại thể của Nhật Bản được sử dụng rộng rãi,<br /> chia ung thư dạ dày sớm làm 3 típ chính (0-I, 0-II, và<br /> 0-III), trong đó 0-II được chia nhỏ thành 3 dưới típ<br /> (0-IIa, 0-IIb và 0-IIc) (Hình 1 và 2)<br /> <br /> Típ 0-I<br /> <br /> Típ 0-IIa<br /> Típ 0-IIb<br /> Típ 0-IIc<br /> <br /> Típ 0-III<br /> <br /> Hình 1. Phân loại đại thể ung thư dạ dày sớm<br /> <br /> Hình 2. Minh họa phân loại ung thư sớm: (a) típ 0-I (dạng polyp); (b) típ 0-IIa (dạng lồi nhẹ);<br /> (c) típ 0-IIb (dạng dẹt); (d) típ 0-IIc (dạng trợt lõm); (e) type-III (dạng loét nông).<br /> <br /> 6<br /> <br /> Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 24<br /> <br /> Típ ung thư dạ dày sớm thường gặp nhất là:<br /> 0-IIc [10]. Nếu có hai dạng tổn thương phối hợp<br /> thì dạng nào chiếm chủ yếu sẽ được ghi trước. Tại<br /> hội thảo Quốc tế tổ chức ở Pari năm 2002, các<br /> chuyên gia đã đưa ra phân loại Pari, dựa trên phân<br /> loại của Nhật Bản, thống nhất về phân loại ung thư<br /> bề mặt ống tiêu hóa [11].<br /> Mặc dù ung thư là chẩn đoán mô học, nhưng<br /> chưa có sự chuẩn hóa và thống nhất giữa các nhà<br /> giải phẫu bệnh Nhật Bản và phương Tây [12]. Ở<br /> các nước Âu, Mỹ, ung thư được xác định khi khối<br /> u đã xâm nhập ít nhất là sâu quá lớp màng đáy,<br /> đến lớp cơ niêm hoặc dưới niêm mạc. Trong khi<br /> đó, ở Nhật Bản, chẩn đoán ung thư dựa vào sự bất<br /> thường tế bào và cấu trúc mô học, không kể độ<br /> xâm lấn. Mặc dù sự chưa nhất quán này đã giảm<br /> đi sau khi có phân loại Vienna nhưng tổn thương<br /> được chẩn đoán là ung thư trong niêm mạc ở Nhật<br /> thì vẫn chỉ được xem là loạn sản nặng ở châu Âu<br /> (phân loại Vienna 4.1) [13]. Tuy nhiên, trên 40%<br /> tổn thương mức 3 hoặc 4.1 theo phân loại Vienna<br /> theo chẩn đoán từ mẫu sinh thiết trước mổ đã được<br /> xác định là ung thư ở bệnh phẩm sau phẫu tích nội<br /> soi, đồng thời cũng có một tỉ lệ nhỏ đã xâm lấn qua<br /> lớp dưới niêm mạc [14, 15]. Do đó, để đánh giá<br /> khả năng điều trị tiệt căn ung thư dạ dày sớm, cần<br /> phân tích kỹ về mặt giải phẫu bệnh của khối u sau<br /> khi đã được tách bỏ qua đường nội soi.<br /> Khác với ung thư tiến triển, ung thư dạ dày<br /> sớm thường khó phát hiện qua nội soi vì mới chỉ<br /> có những thay đổi rất nhỏ trên bề mặt niêm mạc.<br /> Để tránh bỏ sót ung thư dạ dày sớm, nhà nội soi<br /> cần hiểu rõ các đặc điểm của bệnh lí này và thực<br /> hiện qui trình nội soi một cách kỹ lưỡng, qui chuẩn<br /> [16]. Bên cạnh nội soi thường qui bằng ánh sáng<br /> trắng thì các phương tiện, phương pháp hiện đại<br /> hơn như nội soi nhuộm màu, dùng ánh sáng màu<br /> tăng cường, nội soi phóng đại và siêu âm nội soi<br /> đã làm tăng khả năng và độ chính xác trong chẩn<br /> đoán ung thư dạ dày sớm.<br /> 2.1. Nội soi bằng ánh sáng trắng<br /> Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm,<br /> nhà nội soi cần thực hiện việc soi dạ dày kỹ lưỡng<br /> và quan sát hiệu quả, nắm chắc các đặc trưng của<br /> thương tổn gợi ý bệnh lí này. Trên ánh sáng trắng,<br /> cần chú ý những điểm rất nhỏ như thay đổi nhẹ<br /> màu sắc, mất mạng mạch máu dưới niêm, nếp niêm<br /> <br /> mạc mất liên tục, chảy máu tự nhiên… Những<br /> thay đổi này thường không dễ thấy, do đó, cần rửa<br /> thật sạch niêm mạc, bơm đủ hơi và quan sát hết<br /> các vùng trong dạ dày. Khi phát hiện thương tổn,<br /> cần điều chỉnh lượng hơi, quan sát ở nhiều góc độ<br /> khác nhau để đánh giá độ nhiễm cứng, nhận định<br /> độ xâm lấn. Độ chính xác của nội soi thường qui<br /> trong phân biệt tổn thương đang ở niêm mạc hay<br /> dưới niêm mạc có thể lên tới 72% - 84% [17-19].<br /> Ngoài ra, sự phát triển của các phương tiện nội<br /> soi tăng cường đã nâng cao khả năng phát hiện<br /> và giúp chẩn đoán ung thư dạ dày sớm chính xác<br /> hơn [20].<br /> 2.2. Nội soi nhuộm màu<br /> Khi nhận thấy niêm mạc có những thay đổi kín<br /> đáo như đã mô tả trên đây, phương pháp nhuộm<br /> màu sẽ giúp quan sát chi tiết hơn và chẩn đoán<br /> chính xác hơn. Thông thường, chúng ta dùng<br /> indigo carmine 0,1% để xịt trực tiếp lên bề mặt<br /> niêm mạc. Ung thư dạ dày sớm được phát hiện<br /> khi so sánh với vùng niêm mạc xung quanh, do<br /> đó, khi nhuộm, cần xịt thuốc lên một vùng rộng<br /> bao gồm tổn thương. Phương pháp này làm nổi bật<br /> tổn thương, nâng cao chất lượng chẩn đoán và xác<br /> định chính xác hơn độ lan rộng và độ ăn sâu của<br /> thương tổn [21, 22]. Lưu ý là niêm nhầy dính vào<br /> bề mặt niêm mạc sẽ làm cho hình ảnh sau nhuộm<br /> không rõ ràng, do dó, cần rửa sạch bề mặt niêm<br /> mạc trước khi xịt thuốc nhuộm [23].<br /> 2.3. Nội soi dùng hình ảnh băng tần dải hẹp<br /> (NBI)<br /> Đây là phương tiện nội soi phối hợp dải ánh<br /> sáng hẹp màu xanh dương và xanh lục để làm nổi<br /> bật cấu trúc bề mặt và mạng mạch máu của lớp<br /> niêm mạc.<br /> Nội soi phóng đại tích hợp NBI giúp quan sát<br /> được chi tiết vi cấu trúc bề mặt và mạch máu của<br /> niêm mạc dạ dày. Yao và cộng sự (cs) kết hợp<br /> những sự thay đổi trong hình ảnh phóng đại và<br /> việc có hay không ranh giới của tổn thương để<br /> đưa ra nhận định về bệnh lí ác tính dạ dày, gọi là<br /> phân loại VS (Hình 3) [24]. Phương pháp này đã<br /> được minh chứng trong thực hành lâm sàng trên 2<br /> phương diện:<br /> - Thứ nhất, giúp phân biệt được tổn thương<br /> ung thư dạ dày nhỏ và viêm dạ dày đơn thuần mà<br /> thường khó nếu chỉ dùng nội soi thường qui. Một<br /> <br /> Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 24<br /> <br /> 7<br /> <br /> nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tiến cứu cho thấy<br /> khả năng phân biệt các tổn thương trợt lõm < 1cm<br /> là ác hay lành tính của nội soi phóng đại có tích<br /> hợp NBI vượt xa nội soi thường qui với ánh sáng<br /> trắng đơn thuần [25]. Trong nghiên cứu này, sau<br /> khi đã nội soi thông thường, bệnh nhân được soi<br /> thêm bằng máy nội soi phóng đại tích hợp NBI,<br /> khả năng chẩn đoán hơn hẳn với độ chính xác,<br /> độ nhạy và độ đặc hiệu đều trên 95%. Do đó, kỹ<br /> thuật này giúp tránh được những sinh thiết không<br /> cần thiết.<br /> - Thứ hai, nội soi phóng đại có tích hợp NBI<br /> giúp xác định chính xác rìa thương tổn trước khi<br /> can thiệp nội soi. Trong khi nội soi thường hoặc<br /> nhuộm màu có thể khó khăn để xác định được viền<br /> an toàn khi phẫu tích trong khoảng 20% trường<br /> hợp [26, 27]. Nhất là đối với loại tổn thương<br /> phẳng như 0-IIb thì nội soi phóng đại kết hợp NBI<br /> làm tăng rõ rệt khả năng xác định viền thương tổn<br /> [26,28].<br /> <br /> Để phát huy được ưu điểm của NBI, đòi hỏi có<br /> kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan. Các nhà<br /> nội soi cần ý thức rằng NBI không phải là phương<br /> pháp toàn diện. Ví dụ, vì lòng dày thì rộng, mà<br /> NBI không có phóng đại lại làm tối màn hình, do<br /> đó sẽ hạn chế khả năng bao quát và các ứng dụng<br /> của máy phóng đại. Điều này có nghĩa là, NBI<br /> không phù hợp để phát hiện tổn thương trong dạ<br /> dày. Hơn nữa, trong khi NBI rất hữu ích để xác<br /> định viền của ung thư biệt hóa tốt thì lại hạn chế<br /> đối với ung thư kém biệt hóa. Ung thư biệt hóa<br /> kém thường nằm ở cổ tuyến trong màng đáy của<br /> niêm mạc, và bề mặt khối u vẫn còn được bao phủ<br /> bởi biểu mô bình thường. Trong những trường hợp<br /> này, nội soi phóng đại kết hợp NBI cũng sẽ không<br /> thu được các hình ảnh bất thường trong vi cấu trúc<br /> bề mặt và mao mạch ở niêm mạc. Do đó, để xác<br /> định độ lan rộng của ung thư biệt hóa kém, cần ít<br /> nhất 4 mảnh sinh thiết âm tính xung quanh thương<br /> tổn [24, 26].<br /> <br /> Hình 3. (a) Ung thư dạ dày sớm, biệt hóa tốt, típ 0-IIa. Hình ảnh nội soi phóng đại với NBI cho thấy<br /> (b) ranh giới rõ giữa vùng bình thường bên trái và vùng ung thư bên phải và (c) đặc điểm mạng vi mạch<br /> bất thường cùng với sự biến mất các pit bề mặt<br /> 2.4. Siêu âm nội soi<br /> Điều quan trọng trước khi quyết định can thiệp<br /> nội soi để điều trị ung thư dạ dày sớm là phải xác<br /> định độ xâm lấn theo chiều sâu của thương tổn<br /> [29]. Như đã đề cập ở trên, mặc dù nội soi thông<br /> thường có thể chẩn đoán độ sâu chính xác tới 80%,<br /> việc xác định bề sâu thương tổn có thể khó khăn<br /> trong nhiều trường hợp. Hơn nữa, chẩn đoán độ<br /> sâu dựa vào các đặc điểm trên nội soi thông thường<br /> mang tính chủ quan, còn hình ảnh siêu âm nội soi<br /> (SANS) lại khách quan. Thông thường, mục đích<br /> chính của (SANS) trong chẩn đoán ung thư dạ dày<br /> sớm là để xác định xem liệu bệnh nhân có thể điều<br /> <br /> 8<br /> <br /> trị được bằng nội soi qua đường miệng hay không.<br /> Để xác định độ xâm lấn theo từng lớp của thành<br /> dạ dày, thông thường cần dùng đầu dò cao tần 20<br /> MHz, riêng với tổn thương típ 0-I thì dùng đầu<br /> dò 12 MHz. Độ chính xác của chẩn đoán độ sâu<br /> là 65% – 86% trong nội soi thường và có thể đạt<br /> 92% khi làm SANS [30–33]. Tuy nhiên, khả năng<br /> này hạn chế với tổn thương loét trợt, ung thư kém<br /> biệt hóa, tổn thương có vi xâm lấn xuống dưới<br /> niêm mạc, típ 0-I và thương tổn ở 1/3 trên của dạ<br /> dày. Theo đó, trong trường hợp khó chẩn đoán độ<br /> sâu ngay cả khi đã làm SANS, chúng ta vẫn có<br /> thể tiến hành phẫu tích qua nội soi nếu không có<br /> <br /> Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 24<br /> <br /> dấu hiệu nào gợi ý xâm lấn dưới niêm mạc; nhưng<br /> phải luôn luôn lưu ý phân tích kỹ kết quả giải phẫu<br /> bệnh để xác định xem tổn thương đã được cắt bỏ<br /> hoàn toàn hay chưa. Bên cạnh khả năng xác định<br /> độ sâu, người ta còn ứng dụng SANS để đánh giá<br /> mạng mạch máu dưới niêm mạc nhằm tiên lượng<br /> và dự phòng biến chứng xuất huyết trong quá trình<br /> can thiệp nội soi [34].<br /> 3. ĐIỀU TRỊ NỘI SOI VÀ CÁC CHỈ ĐỊNH<br /> Ở Nhật Bản, tỉ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật<br /> điều trị ung thư dạ dày sớm sau khi đã loại trừ<br /> các nguyên nhân gây tử vong khác là 99% đối với<br /> ung thư trong niêm mạc và 96% đối với ung thư<br /> dưới niêm mạc [35]. Tỉ lệ di căn hạch bạch huyết<br /> ở những bệnh nhân này là 3% đối với ung thư trong<br /> niêm mạc và 20% đối với ung thư dưới niêm mạc<br /> [36]. Do đó, khi nguy cơ di căn hạch bạch huyết cao<br /> thì cần chỉ định mổ cắt dạ dày kết hợp nạo vét hạch.<br /> Chỉ định điều trị nội soi cần phải được xác định chặt<br /> chẽ vì phương pháp này chỉ can thiệp bóc tách khối u<br /> tại chỗ. Do đó, tổn thương chưa có di căn hạch là chỉ<br /> định tốt nhất cho can thiệp nội soi tại chỗ. Phương<br /> pháp này có ưu điểm vượt trội so với phẫu thuật<br /> vì chỉ xâm nhập tối thiểu và bảo tồn được dạ dày.<br /> Kể từ 1984, phương pháp cắt hớt niêm mạc<br /> (EMR) đầu tiên sử dụng ống soi hai kênh ra đời<br /> [37], đã có nhiều phương pháp EMR được phát<br /> triển và áp dụng, bao gồm cả phương pháp dùng<br /> mũ chụp đầu ống soi (EMRC). Những cách điều<br /> trị này được dùng rộng rãi ở các nước phương Tây<br /> cũng như Nhật Bản [7]. Dựa trên các kết quả xét<br /> nghiệm theo dõi, đánh giá về lâm sàng bệnh học<br /> của các ca mà nguy cơ di căn hạch rất thấp, Hội<br /> ung thư dạ dày Nhật Bản đã đưa ra chỉ định điều<br /> trị nội soi cho ung thư dạ dày sớm [38, 39]. Về<br /> <br /> mặt nguyên tắc, các tổn thương được chỉ định điều<br /> trị nội soi cần có kích thước, vị trí có thể bóc tách<br /> toàn bộ nguyên khối và hầu như không có nguy cơ<br /> di căn hạch. Đặc biệt, tổn thương phải là:<br /> - (1) Ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc, nhỏ<br /> hơn 2cm<br /> - (2) Ung thư biệt hóa tốt trong niêm mạc có trợt<br /> lõm nhỏ hơn 1cm và không có loét. Tuy nhiên, do kỹ<br /> thuật EMR dùng thòng lọng nên mỗi lần chỉ có thể<br /> cắt được một tổn thương nhỏ, tổn thương càng lớn<br /> thì nguy cơ phải cắt vụn từng phần và khả năng tái<br /> phát càng cao [5, 40]. Do đó, kỹ thuật phẫu tích dưới<br /> niêm mạc (ESD) được phát triển để bóc tách nguyên<br /> khối thương tổn chính xác hơn. Thực sự ESD đã giúp<br /> bóc tách toàn bộ các tổn thương lớn hơn, tổn thương<br /> có loét, và tổn thương tái phát sau EMR nhờ vào việc<br /> phẫu tích trực tiếp lớp dưới niêm mạc sử dụng các<br /> dao chuyên dụng cao tần [5, 41 – 44].<br /> Sau khi triển khai kỹ thuật này, các chỉ định mở<br /> rộng cho ESD cũng đã được đề cập. Năm 2000,<br /> Gotoda và cs đã phân tích 5265 ca ung thư dạ dày<br /> sớm, điều trị bằng phẫu thuật và thấy rằng: nguy<br /> cơ di căn hạch sẽ gần như không có trong các<br /> trường hợp:<br /> (1) ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc, không<br /> có loét, không kể kích thước<br /> (2) ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc,<br /> 30<br /> <br /> ≤ 30<br /> <br /> bất kì<br /> <br /> Biệt hóa tốt<br /> <br /> EMR/<br /> ESD<br /> <br /> ESD<br /> <br /> ESD<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> ESD<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Biệt hóa kém<br /> <br /> ESD<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Mổ<br /> <br /> Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 24<br /> <br /> 9<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=144

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2