intTypePromotion=1

Chuyên đề: Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine

Chia sẻ: Trần Hà | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:25

0
142
lượt xem
43
download

Chuyên đề: Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giới thiệu chung về vaccine, khái niệm và sơ lược về lịch sử hình thành vaccine, thành phần của vaccine, đặc tính cơ bản và cơ chế hoạt động của vaccine,... là những nội dung chính trong chuyên đề "Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine". Mời các bạn cùng tham khảo để có thêm tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề: Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine

  1. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 1
  2. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 MỤC LỤC 2
  3. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 I. Đặt vấn đề Thủy sản là một ngành có nhiều thế  mạnh  ở  nước ta, là một trong ba   ngành có đóng góp lớn nhất cho kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Với sự  phát  triển của các hình thức nuôi mới như nuôi với mật độ  cao và nuôi thâm canh thì  vấn đề dịch bệnh đã trở thành một trong những trở ngại chính cho sự phát triển  bền vững của Nuôi trồng Thủy sản (NTTS) tại Việt Nam. Hiện nay việc phòng trị bệnh trên động vật thủy sản ở nước ta vẫn chủ yếu   dựa vào việc sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất. Hiện tại chưa có một loại   vaccine nào phòng bệnh cho cá được đưa vào sử  dụng tại Việt Nam, trong khi   đó trên thế  giới hiện nay đã có 36 loại vaccine phòng bệnh cho vi khuẩn và hai  loại vaccine phòng bệnh cho virut được sử dụng rộng rãi trên 12 đối tượng nuôi  khác nhau thuộc 41 quốc gia trên thế giới. Vì vậy việc nghiên cứu, phát triển các phương pháp phòng trị  bệnh có hiệu  quả  như  sử  dụng các loại thảo dược, chất tách chiết từ  thảo dược và vaccine  cho cá là rất cần thiết nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của NTTS. Việc phòng trị bệnh chủ yếu phụ thuộc vào các loại thuốc kháng sinh và hóa  chất gần đây đã khiến cho việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam gặp rất   nhiều khó khăn do danh mục các loại thuốc và hóa chất cấm sử dụng trong nuôi  trồng   thủy   sản   ngày   càng   tăng.   Ví   dụ   cụ   thể   đó   là   việc   cấm   sử   dụng   Chloramphenicol, Flomequine và Xanh malachite đã  ảnh hưởng lớn cho nghề  xuất khuẩu. 1. Tổng quan về sử dụng vaccine trong NTTS trên thế giới:  Vaccine phòng bệnh trong nuôi thủy sản được bắt đầu nghiên cứu và phát  triển từ  năm 1973 nhưng mãi đến cuối những năm 1987 mới được đưa vào sử  dụng  (Newman,  S, 1993).  Cho  đến  tháng  7  năm 2005,  đã có  35  loại  vaccine   phòng bệnh vi khuẩn và 2 loại vaccine phòng bệnh virut  được đăng ký bản  quyền và sử  dụng cho 6 đối tượng nuôi phổ biến trên 41 quốc gia trên thế  giới  bao gồm cá hồi, cá chẽm châu âu, cá chẽm châu á, cá rô phi, cá Turbot, và cá bơn  đuôi vàng. 3
  4. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2     Bảng 1. Một số loại vaccine phòng bệnh vi khuẩn đang sử dụng trên thế  giới STT Loại vaccine Loại bệnh Loài cá  1 Aeromonas sp bacterin Lở   loét,   xuất  Cá hồi  huyết Aeromonas salmonicida bacterin Lở   loét,   xuất  Cá hồi  huyết Aeromonas salmonicida immersion vaccine  Lở   loét,   xuất  Cá hồi  huyết Aeromonas salmonicida Vibrio anguillarum  Lở   loét,   xuất  Cá hồi  bacterin (Biojec 1900J)  huyết Penaeid multivalent bacterin Đỏ thân Tôm sú  Streptococcus sp bacterin Xuất   huyết,   mù  Cá   Chẽm  mắt  và  cá Rô phi  Aeromonas salmonicida subsp. Salmonicida Khối u, lở loét Cá hồi  Autogenous bacterin Lở   loét,   xuất  Cá hồi  huyết Autogenous bacterin J Lở   loét,   xuất  Cá hồi  huyết Photobacterium damsela subsp. Damsela Lở loét Cá chẽm  Edwardsiella ictaluri bacterin (Escogen J) Hoại tử gan tụy Cá   nheo  Mỹ  Streptococcus iniae  Xuất   huyết,   hoại  Cá rô phi  tử Lactococcus garviae  Bệnh lở loét Cá chẽm  2. Tình hình sử dụng vaccine trong NTTS ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế: Để  đạt được mục tiêu đã đề  ra cho ngành NTTS thì việc phát triển cần có   qui họach cụ  thể, trong đó quản lý dịch bệnh cho các đối tượng nuôi thủy sản  được đặt lên hàng đầu. Nhiều giải pháp để quản lý dịch bệnh đã và đang được   áp dụng như cải tạo ao kỹ, chọn giống tốt sạch bệnh, quản lý tốt môi trường,   quan tâm đến dinh dưỡng, thuốc và hóa chất nhưng hiệu quả vẫn chưa cao. Vì  vậy, việc sản xuất và sử dụng vaccine trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam để  quản lý dịch bệnh có ý nghĩa rất lớn. Hiện tại đã có một số  công trình nghiên  cứu, phát triển và  ứng dụng vaccine vào nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam, đề  tài sản xuất vaccine cuả Bộ  Thủy Sản, đề  tài sản xuất vaccine vô hoạt phòng   4
  5. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 bệnh xuất huyết trên cá trắm cỏ, đề tài nghiên cứu tạo vaccine phòng bệnh đốm  trắng trên cá tra của Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II, đề  tài sản xuất  vaccine phòng bệnh hoại tử thần kinh (VNN) cho cá mú nuôi,… kết quả nghiên   cứu bước đầu ở phòng thí nghiệm rất khả quan, đặc biệt là vaccine phòng bệnh   do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri trên cá tra (Pangasianodon hypothalmus) cho  thấy khả  năng đáp  ứng miễn dịch của cá tra đối với vi khuẩn E. ictaluri qua  kháng thể có trong máu cá đạt cao nhất. Nồng độ kháng nguyên kết hợp sử dụng  chất bổ  trợ  Aluminum cũng được xác định (3.109 tế  bào/cá) với phương pháp  tiêm vaccine 2 lần vào ngày 1 và ngày 14. Thời gian bảo hộ tốt cho đàn cá có thể  kéo dài đến 2 tháng. Ngoài ra, một số  công ty nước ngoài đang nghiên cứu sản  xuất và thử nghiệm vaccine phòng bệnh cho cá tra, cá điêu hồng và cá giò… Với   những  kết  quả   đạt   được  như  trên,  hy  vọng  trong  tương  lai  việc   ứng  dụng   vaccine phòng hộ đàn cá nuôi sẽ được triển khai rộng rãi và đây là một công cụ  quản lý sức khỏe hữu hiệu cho các đối tượng nuôi thủy sản (theo UV Việt  Nam). Bên cạnh đó, việc phát triển vaccine cho các bệnh có ảnh hưởng lớn trên   các đối tượng nuôi chính tại Việt Nam như  bệnh xuất huyết đốm đỏ  trên cá  trắm cỏ, bệnh xuất huyết, mù mắt trên cá rô phi, bệnh hoại tử gan tụy trên cá   tra và cá Ba Sa, bệnh vi rút trên cá chép, và một số loài thủy đặc sản nước ngọt  như cá lăng, chiên, salmon, và một số đối tượng quan trọng khác là rất cần thiết. Tại Thừa Thiên Huế, có 1 số  nghiên cứu và sử  dụng vaccine trong NTTS   điển hình như nghiên cứu thử nghiệm vaccine phòng bệnh hoại tử thần kinh  ở  cá được các tác giả: TS. Phạm Thị  Tâm, PGS.TS. Phạm Công Hoạt, PGS.TS.  Nguyễn Quang Linh, ThS. Trần Thế  Mưu thuộc Viện Đại học mở  Hà Nội và   Trung tâm  Ươm tạo và Chuyển giao công nghệ  ­ Đại Học Huế  phối hợp thực   hiện với mục tiêu vô hoạt keo phèn phòng bệnh hoại tử thần  kinh ở cá mú có tỷ  lệ bảo hộ cá ở điều kiện thí nghiệm đạt 75%. Bảng 2. Một số vaccine cần phát triển và ứng dụng trong NTTS tại Việt  Nam STT Loại vaccine Phòng bệnh Đối tượng nuôi 1 Streptococcus iniae Xuất huyết, mù mắt Rô phi 2 Streptococcus sp Xuất huyết, tuột vẩy Cá chẽm 3 Aeromonas hydrophyla Lở loét Trắm cỏ 5
  6. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 4 Edwarsiella ictalury Bệnh hoại tử gan tụy Cá Tra, cá Ba Sa 5 Edwardsiella tarda  Bệnh hoại tử gan tụy Cá Tra, cá Ba Sa 6 Vibrio sp  Lở loét, hoại tử Cá Hồi nước ngọt Hình 1: Vaccine phòng bệnh hoại tử thần kinh ở cá II. Nội dung chính 1. Giới thiệu chung về vaccine 1.1. Khái niệm và sơ lược về lịch sử hình thành vaccine. *Khái niệm:  6
  7. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Vaccine là một sản phẩm được tạo nên từ  chính tác nhân gây bệnh, hay  các độc tố do chính tác nhân gây bệnh tiết ra, nhằm tác động vào hệ thống miễn  dịch đặc hiệu của động vật có xương sống, trong đó có cá để  tạo ra các phản   ứng miễn dịch.  Vaccine được điều chế từ chủng vi sinh vật nào thì chỉ phòng được bệnh   do chủng vi sinh vật đó gây nên chứ không phòng được bệnh khác.  Vaccine là một chế  phẩm sinh học chứa vật chất của mầm bệnh được   gọi là "kháng nguyên". Khi đưa vào cơ thể người hoặc động vật sẽ kích thích cơ  thể tạo ra một trạng thái miễn dịch, giúp cơ thể chống lại mầm gây bệnh. Tiêu chuẩn cơ bản: ­         Không gây phản  ứng toàn thân.Có thể  có phản  ứng cục bộ, nhưng  những biểu hiện lâm sàng phải biến mất 24 giờ sau khi tiêm phòng. ­    Hiệu lực phòng bệnh cao và kéo dài. ­    Tiêm nhẹ tay, liều tiêm thấp và bảo quản dễ dàng. ­     Giá thành hạ. *Lịch sử hình thành: Vaccine đầu tiên gắn với tên tuổi của Edward Jenner, một bác sĩ người  Anh. Năm 1796, châu Âu đang xảy ra dịch đậu mùa, Jenner đã thực hiện thành   công thử  nghiệm vaccine ngừa căn bệnh này. Kinh nghiệm dân gian cho thấy   những nông dân vắt sữa bò có thể bị lây bệnh đậu bò, nhưng sau khi khỏi bệnh,  họ  trở nên miễn nhiễm đối với bệnh đậu mùa. Thuật ngữ  vaccine xuất phát từ  vaccineia, loại virus gây bệnh đậu bò nhưng khi đem tiêm chủng cho người lại   giúp ngừa được bệnh đậu mùa (tiếng Latinh vacca nghĩa là "con bò cái"). 7
  8. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Hình 2: Edward Jenner Vào thời của Jenner, các virus vẫn chưa được khám phá, còn vi khuẩn tuy  đã được tìm ra nhưng vai trò gây bệnh của chúng chưa được biết. Thời điểm   1798, khi Jenner công bố kết quả thí nghiệm của mình, người ta chỉ hình dung là  có các "mầm bệnh" gây nên sự truyền nhiễm. Tám mươi năm sau, Louis Pasteur nghiên cứu bệnh tả khi dịch tả đang tàn  sát đàn gà. Qua đó, Pasteur đã xác nhận các giả  thuyết của Jenner. Điều đó đã   mở đường cho ngành miễn dịch học hiện đại.  8
  9. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Hình 3: Louis Pasteur 1.2. Thành phần của vaccine. Có hai thành phần chủ yếu trong vaccine đó là: Kháng nguyên và chất bổ  trợ vaccine.      ­ Kháng nguyên: Kháng nguyên được hiểu là một chất khi đưa vào cơ  thể sẽ  kích thích cơ  thể vật chủ sản sinh kháng thể  và tạo ra một lớp tế  bào mẫn cảm đặc hiệu chống lại sự  xâm nhập và gây bệnh của mầm  bệnh.     ­ Chất bổ trợ vaccine: Là những chất được bổ sung vào vaccine, có khả  năng kích thích sinh miễn dịch không đặc hiệu nhằm nâng cao hiệu lực và  độ dài miễn dịch của vaccine. 9
  10. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2     Bổ trợ kết hợp với kháng nguyên làm tăng tính lạ của kháng nguyên khi  vào cơ thể, nên đáp ứng miễn dịch mạnh hơn, quá trình tổng hợp protein   cao hơn.Vaccine có bổ  sung chất bổ  trợ  sẽ  tạo được miển dịch mạnh  hơn, thời gian miễn dịch kéo dài hơn. 1.3. Đặc tính cơ bản và cơ chế hoạt động của vaccine. *Đặc tính:  AN TOÀN: Một vaccine lý tưởng khi sử dụng sẽ  không gây bệnh, không gây độc và  không gây phản ứng. Sau khi sản xuất vaccine phải được cơ quan kiểm định nhà   nước kiểm tra chặt chẽ về mặt vô trùng, thuần khiết và không độc.  ­Vô trùng: Vaccine không được nhiễm các vi sinh vật khác, nhất là các vi sinh  vật gây bệnh.  ­Thuần khiết: Ngoài kháng nguyên đưa vào để  kích thích cơ  thể  đáp ứng miễn   dịch chống vi sinh vật gây bệnh, không được lẫn các thành phần kháng nguyên  khác có thể gây ra các phản ứng phụ bất lợi. ­Không độc: Liều sử  dụng phải thấp hơn rất nhiều so với liều gây độc. Tuy   nhiên, không có vaccine nào đạt được độ  an toàn tuyệt đối. Về  nguyên tắc,   vaccine phải đảm bảo đủ độ an toàn. Song trên thực tế không thể đạt được mức  độ an toàn tuyệt đối. Tất cả các vaccine đều có thể gây ra phản ứng phụ ở một   số người.  ­Phản ứng tại chỗ: Những phản ứng nhẹ thường gặp sau tiêm chủng là nơi tiêm  có thể  hơi đau, mẩn đỏ, hơi sưng hoặc nổi cục nhỏ. Những phản  ứng này sẽ  mất đi nhanh chóng sau một vài ngày, không cần phải can thiệp gì. Nếu tiêm  chủng không đảm bảo vô trùng, thì nơi tiêm chủng có thể  bị  viêm nhiễm, làm  mủ.  ­Phản ứng toàn thân: Trong các phản ứng toàn thân, sốt hay gặp hơn cả, khoảng   từ  10 đến 20 %. Sốt thường hết nhanh sau một vài ngày. Co giật có thể  gặp   nhưng với tỷ  lệ  rất thấp, khoảng 1 phần vạn, hầu hết kh ỏi không để  lại di  10
  11. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 chứng gì. Một số  vaccine có thể  gây ra phản  ứng nguy hiểm hơn, trong đó có   sốc phản vệ, tuy nhiên rất hiếm gặp. Khi bàn về  những phản  ứng do vaccine,   rất cần phải nhấn mạnh rằng mức độ nguy hiểm do vaccine nhỏ hơn rất nhiều   so với mức độ nguy hiểm do bệnh nhiễm trùng tương ứng gây ra. Thí dụ, tỷ lệ  biến chứng nguy hiểm do bệnh ho gà gấp hàng trăm đến hàng nghìn lần phản  ứng nguy hiểm do vaccine bạch hầu ­ ho gà ­ uốn ván gây ra. Khi cân nhắc để  quyết định xem một vaccine nào đó có được đưa vào sử  dụng hay không, cần  phải so sánh giữa mức độ  phản  ứng do vaccine và tính nguy hiểm của bệnh   nhiễm trùng tương ứng.  HIỆU LỰC: Vaccine có hiệu lực lớn là vaccine gây được miễn dịch ở mức độ cao và tồn   tại trong một thời gian dài. Hiệu lực gây miễn dịch của vaccine trước hết được  đánh giá trên động vật thí nghiệm, sau đó trên thực địa.  ­Trên động vật thí nghiệm: Cách thứ nhất, đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch   thông qua việc xác định hiệu giá kháng thể  hoặc xác định mức độ  dương tính  của phản ứng da. Cách đánh giá này chưa cho biết hiệu lực bảo vệ, mới chỉ cho   biết mức độ  đáp  ứng miễn dịch của cơ  thể  động vật đối với loại vaccine thử  nghiệm. Cách thứ hai, xác định tỷ lệ động vật đã được tiêm chủng sống sót sau  khi thử thách bằng vi sinh vật gây bệnh. ­Trên thực địa: Dù đã được cơ  quan kiểm định nhà nước kiểm tra và đã được  đánh giá trên động vật, trước khi đưa ra tiêm chủng rộng rãi, vaccine đều phải   được thử  nghiệm trên thực địa (field test): Vaccine được tiêm chủng cho một  cộng đồng, theo dõi thống kê tất cả các phản ứng phụ và đánh giá khả năng bảo  vệ  khi mùa dịch tới. Ngoài 2 tiêu chuẩn trên, để  chọn một vaccine tiêm chủng,   người ta còn quan tâm đến giá thành và tính thuận lợi trong việc tiến hành tiêm   chủng.  TÍNH KHÁNG NGUYÊN:  Người ta gọi khả  năng kích thích cơ  thể  tạo thành kháng thể  là tính kháng  nguyên. Tính kháng nguyên có thể mạnh hay yếu. Kháng nguyên mạnh là kháng   nguyên   khi   đưa   vào  cơ   thể   một  lần   đã  sinh   ra  nhiều  kháng   thể,  còn   kháng  11
  12. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 nguyên yếu là những chất phải đưa vào nhiều hoặc phải kèm theo một tá dược  mới sinh được một ít kháng thể.  TÍNH MIỄN DỊCH:  Vaccine gây miễn dịch bằng một vi khuẩn hoặc virus giảm độc lực, hoặc với   một protein đặc hiệu có tính kháng nguyên để gây ra một đáp ứng miễn dịch, rồi   tạo một trí nhớ miễn dịch đặc hiệu, tạo ra hiệu quả đề kháng cho cơ thể về sau  khi tác nhân gây bệnh xâm nhập với đầy đủ độc tính *Cơ chế hoạt động: Hệ  miễn dịch nhận diện vaccine là vật lạ  nên hủy diệt chúng và "ghi   nhớ" chúng. Về sau, khi tác nhân gây bệnh thực thụ xâm nhập cơ thể, hệ miễn  dịch đã  ở  tư  thế  sẵn sàng để  tấn công tác nhân gây bệnh nhanh chóng hơn và  hữu hiệu hơn (bằng cách huy động nhiều thành phần của hệ  miễn dịch, đặc   biệt là đánh thức các tế bào lympho nhớ). Đây chính là các ưu điểm của đáp ứng   miễn dịch đặc hiệu. 1.4. Nguyên lý sử dụng và bảo quản vaccine trong NTTS. *Nguyên lý sử dụng vaccine: Sử dụng vaccine là đưa vào cơ thể kháng nguyên có nguồn gốc từ vi sinh   vật gây bệnh hoặc vi sinh vật có cấu trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây   bệnh, đã được bào chế đảm bảo độ an toàn cần thiết, làm cho cơ thể tự tạo ra  tình trạng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh. Khi dùng vaccine cần phải thực hiện theo đúng những nguyên tắc sau:  ­ Đối tượng cần phòng bệnh  + Thực hiện phòng bệnh hàng năm đối với những vùng có  ổ  dịch cũ, vùng có  nhiều bệnh truyền nhiễm phát sinh theo mùa. + Những nơi chưa có dịch chỉ nên dùng vaccine chết. 12
  13. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2  + Nên phòng bệnh cho vật nuôi 15 – 20 ngày trước khi vận chuyển đi xa và sau  20 – 30 ngày trong trường hợp nhập vật nuôi từ nơi khác về.  + Vaccine phòng bệnh nào thì chỉ phòng được loại bệnh đó, không phòng được  bệnh khác.   ­ Hiệu lực của vaccine : Tình trạng sức khỏe của vật nuôi, điều kiện ngoại  cảnh sẽ   ảnh hưởng tới hiệu lực của vaccine. Chỉ sử dụng vaccine khi vật nuôi  khỏe mạnh.  ­ Thời gian có tác dụng của vaccine : Tùy loại vaccine, thời gian cơ thể sẽ tạo   được miễn dịch sau khi dùng vaccine là khác nhau. Trong thời gian đầu, vật nuôi   chưa có miễn dịch đầy đủ nên vẫn có thể mắc bệnh và phát bệnh.  ­ Liều sử  dụng : Cần sử dụng liều lượng vaccine đúng theo chỉ  định của nhà  sản xuất.  ­ Số lần dung : Tuỳ loại vaccine, động vật cảm nhiễm và tình hình dịch tễ  mà   số  lần sử dụng khác nhau, có loại chỉ  dùng 1 lần đã đủ  miễn dịch cho con vật,   một   số   vaccine   cần  dùng  nhắc   lại  hai  hoặc  nhiều  lần  (theo  hướng  dẫn  sử  dụng).  ­ Kiểm tra lọ vaccine trước khi sử dụng : + Thông tin trên nhãn: tên vaccine, số  lô, số  liều sử  dụng, ngày sản xuất, số  kiểm nghiệm xuất xưởng, thời hạn sử dụng, quy cách bảo quản. + Những hư  hỏng trong lọ  vaccine: nút chặt hay lỏng, nguyên vẹn hay bị  rách,  tình trạng lớp sáp phủ bên ngoài, lọ thủy tinh có bị rạn nứt không. + Tình trạng vaccine trong lọ: màu sắc, kết cấu, có bị  vón không, có vật lạ  không, độ  đồng nhất (nếu khi lắc lọ  vaccine vẫn chia thành 2 lớp là đã bị  hư  hỏng). ­ Thao tác khi sử dụng vaccine 13
  14. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 + Khử  trùng các dụng cụ  dùng để  đựng, pha chế  vaccine bằng cách hấp hoặc   luộc, sau đó rửa bằng nước sạch (nước sôi để  nguội). Không được rửa bằng   thuốc sát trùng. + Sát trùng bằng cồn 70o: tay người thực hiện, vùng da được tiêm, nút cao su của  lọ chứa vaccine. + Trong lúc tiêm phòng cần tránh ánh nắng mặt trời. Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng vaccine:  a. Đường đưa vaccine  ­ Tiêm dưới da: vaccine Newcatle, vaccine dịch tả vịt, vaccine tụ huyết trùng keo  phèn...  ­ Tiêm bắp thịt: vaccine được tiêm vào trong cơ thường được hấp thu vào trong  máu nhanh hơn so với tiêm dưới da. Để  tránh trào thuốc ra ngoài từ  vị  trí tiêm,  nên kéo da qua một bên trước khi đâm kim. Gia súc thường tiêm bắp thịt ở đùi,   gia cầm là sau gáy, vị trí 1/3 giáp thân; cơ cánh, cơ ức.  ­ Phun sương, nhỏ mắt, mũi, miệng: vaccine Laxota, Gumboro, IB,…  ­ Chủng màng da: vaccine đậu.  b. Phản ứng sau khi dùng vaccine  ­ Sau khi dùng vaccine, vật nuôi có thể bị phản ứng do: các chất phụ  trợ  trong   vaccine, cơ  thể  đang  ủ  bệnh... Phản  ứng cục bộ  tại chỗ  tiêm là sưng, nóng,   đau… nhưng sau một thời gian phản  ứng này sẽ  mất. Khi có phản ứng cục bộ  cần xử  lý bằng cách chườm nước nóng tại vị  trí tiêm. Trường hợp nơi tiêm bị  nhiễm trùng gây apxe mủ thì phải điều trị bằng kháng sinh.  ­ Tiêm vaccine còn có thể gây phản ứng dị ứng, vật nuôi có biểu hiện: sốt, run   rẩy, nôn mửa, thở gấp, nổi mẩn trên mặt da (thường gặp ở lợn). Nếu phản ứng  nhẹ thì sau một thời gian sẽ hết, nếu phản  ứng  ở mức độ  nặng thì vật nuôi có   thể   bị   chết.   Khi   có   hiện   tượng   dị   ứng   nên   sử   dụng   các   loại   thuốc   chống  Histamin như: Dimadron, Epharin, Phenergan, Adrenalin. 14
  15. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2  c. Xử lý vaccine thừa  Sau khi dùng vaccine nhược độc cho vật nuôi, tất cả  vaccine thừa cần tập  trung lại và tiêu hủy (dùng nhiệt hoặc hóa chất), các dụng cụ  tiêm hoặc nhỏ  vaccine phải rửa sạch và sát trùng ngay.  d. Sổ ghi chép  Phải có sổ theo dõi: ghi chép đầy đủ ngày dùng, tên, số lô, trạng thái và hạn  sử dụng của vaccine; tình trạng sức khoẻ của vật nuôi trước và sau khi sử dụng  vaccine. Phương pháp sử dụng vaccine: Tùy theo  từng  loại  vaccine  và  nhu cầu  áp  dụng  cho  từng  đối  tượng  mà  phương pháp sử  dụng cũng khác nhau. Hiện nay, phổ  biến nhất là 3 phương   pháp: Tiêm vaccine, ngâm vaccine và cho ăn vaccine. Việc sử dụng vaccine trong NTTS cũng có nhiều phương pháp khác nhau.  Tùy từng loại vaccine khác nhau mà phương pháp sử dụng cũng khác nhau. Vì  vậy tùy từng loại vaccine và khả năng áp dụng mà chúng ta có thể sử dụng bằng  các phương pháp dưới đây.  • Phương pháp ngâm vaccine  Sử  dụng vaccine theo phương pháp này bằng cách ngâm cá trực tiếp trong  vaccine. Nồng độ và thời gian xử lý phụ thuộc vào loại vaccine và dùng theo chỉ  dẫn của nhà sản xuất.  Tuy nhiên để tăng hiệu quả sử dụng của vaccine thì tùy từng đối tượng nuôi   và kích thước cá mà ta có thể  thay đổi áp suất nhằm gia tăng hiệu quả  của  vaccine. Đây là phương pháp đễ áp dụng nhất và có chi phí thấp nhất  • Sử dụng vaccine bằng phương pháp tiêm  Tiêm vaccine có thể tiêm xoang bụng hoặc tiêm cơ. Kích thước cá và liều sử  dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất. Đây là phương pháp sử dụng cho hiệu quả  vaccine cao nhất. Tuy nhiên chi chí sử  dụng và thời gian sử  dụng là tốn kém  nhất.  15
  16. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Hình 4: Tiêm vaccine cho cá 16
  17. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Hình 5: Tiêm vaccine cho cá tại trung tâm CNSH­ TP. Hồ Chí Minh • Bơm cao áp  Đây là phương pháp sử dụng vaccine giống với phương pháp tiêm, tuy nhiên  chúng ta không sử  dụng mũi kim thông thường mà sử  dụng xy lanh có áp suất   cao để đưa vaccine vào vật chủ mà không gây ra vết thương bên ngoài. Chi phí  sử  dụng vaccine theo phương pháp này cũng rất cao và đòi hỏi có trang thiết bị  chuyên dụng.  • Nhúng  Đây là phương pháp sử dụng vaccine với nồng độ  cao và ngâm trực tiếp cá   vào trong vaccine. Đây là phương pháp sử dụng đơn giản và thời gian sử lý ngắn   nhưng hiệu quả hạn chế và tốn nhiều vaccine.  • Cho ăn  Đây là phương pháp sử  dụng vaccine đơn giản nhất và có chi phí sử  dụng   thấp nhất. Tuy nhiên chỉ có vaccine tiểu phần có thể áp dụng theo phương pháp  này vì các loại vaccine khác khi sử dụng theo phương pháp này có hiệu quả  rất  thấp.  • Bơm vào đường ruột  Tương tự  với việc sử  dụng vaccine bằng phương pháp tiêm nhưng thay vi   tiêm cơ  hoặc tiêm xoang bụng, phương pháp này sử  dụng bằng cách tiêm vào  đường ruột thông qua lỗ  hậu môn. Mặc dù việc sử  dụng vaccine theo phương   pháp này có hiệu quả  tốt và không gây tổn thương cho cá tuy nhiên chi phí sử  dụng cao vì tốn nhiều công lao động. *Bảo quản vaccine Vaccine phải được bảo quản tốt ngay từ  lúc sản xuất cho tới khi được  tiêm chủng vào cơ  thể. Thường quy bảo quản các vaccine không giống nhau,  nhưng nói chung đều cần được bảo quản trong điều kiện khô, tối và lạnh. Nhiệt và ánh sáng phá huỷ tất cả các loại vaccine, nhất là những vaccine   sống. Ngược lại, đông lạnh phá huỷ  nhanh các vaccine giải độc tố. Trong quá   17
  18. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 trình sử dụng ở cộng đồng, vaccine phải được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp: <   0 độ C (đối với vaccine sống), từ 2 ­ 8 độ C (đối với vaccine chết); nên sử dụng  riêng tủ bảo quản vaccine, vệ sinh sát trùng định kỳ tủ nhằm đảm bảo vô trùng. Các hóa chất sát trùng đều có thể phá huỷ vaccine. Nếu dụng cụ tiêm chủng   được khử  trùng bằng hóa chất thì chỉ  cần một lượng rất nhỏ  dính lại cũng có   thể làm hỏng vaccine. 2. Quy trình sản xuất ra vaccine phòng bệnh vi khuẩn trong NTTS từ  VSV. 2.1. Xác định tác nhân gây bệnh  Đây là khâu quan trọng nhất chuẩn bị cho việc xác định đối tượng có nên và   có thể  sản xuất vaccine hay không. Một số  điều cần quan tâm khi lựa chọn   chủng vi sinh vật gây bệnh để sản xuất vaccine đó là chủng vi khuẩn đó phải có   độc lực cao, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả năng xuất và sản lượng nuôi.  Chủng vi khuẩn đó phải nuôi cấy được trong điều kiện nhân tạo và giữ  nguyên độc lực của chúng trong quá trình nuôi cấy. Xác định độc lực vi khuẩn  gây bệnh trên vật chủ ở các liều gây chết khác nhau từ LC 50, 70, 100.  2.2. Quy trình sản xuất vaccine nhược độc  Sau khi xác định được chủng vi khuẩn gây bệnh có độc lực cao, chúng ta   tiến hành sản xuất vaccine theo các bước như  lựa chọn môi trường, điều kiện  nuôi cấy thích hợp. Tiến hành nuôi sinh khối vi khuẩn và sản xuất vaccine.  2.3. Đánh giá hiệu quả của vaccine trong phòng thí nghiệm  Cá trước khi đưa vào thí nghiệm cần được thuần hóa với điều kiện thí  nghiệm để  chứng minh cá đó không bị   ảnh hưởng của các yếu tố  môi trường  đến thí nghiệm. Thí nghiệm xác định hiệu quả của vaccine được tiến hành bằng  phương pháp tiêm vaccine sau đó tiêm vi khuẩn gây bệnh với liều gây chết  LC70. Tùy theo khả  năng đáp  ứng miễn dịch của loài mà từ  thời gian sử  dụng   vaccine đến thời gian tiêm công cường độc khác nhau. Trung bình thời gian này  có thể dao động từ 2­5 tuần.  18
  19. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 Đánh giá hiệu quả  vaccine dựa vào tỷ  lệ  sống tương quan được tích theo công   thức dưới đây theo thiết kế của Amend 1970s.  Đánh giá hiệu quả của vaccine với quy mô phòng thí nghiệm dựa theo tiêu   chuẩn của FDA hay của EURO. Lô thí nghiệm đối chứng có tỷ lệ chết cao hơn   hoặc bằng 70% trong khi đó lô thí nghiệm sử  dụng vaccine có tỷ  lệ  chết thấp  hơn 30% trong thời gian theo dõi thí nghiệm là 14 ngày hoặc sau khi cá ngừng   chết hoàn toàn. Nếu vaccine có tỷ  lệ  bảo hộ  thấp hơn 70% thì vaccine đó nên  được cải thiện trước khi tiến hành thí nghiệm tiếp theo. Cách chẩn hóa vaccine  có thể sử dụng bằng các phương pháp như thay đổi phương pháp sử dụng, thêm   chất lâng đỡ, thay đổi tỷ lệ.  2.4. Đánh giá hiệu quả vaccine ngoài thực địa  Sau khi tiến hành thử nghiệm vaccine trong phòng thí nghiệm cho kết quả tốt  như độ  an toàn của vaccine cao, khả năng bảo hộ  lớn hơn 70% và tính ổn định  của vaccine chúng ta có thể  tiến hành thử  nghiệm vaccine ngoài thực địa. Tùy   khả năng ứng dụng của vaccine, vùng địa lý khác nhau mà quy mô khảo nghiệm   vaccine ngoài thực địa cũng khác nhau nhằm đưa ra quy trình sử  dụng vaccine  phù hợp và đánh giá hiệu quả  kinh tế  của việc sử  dụng vaccine cũng như  tiêu  chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. 3. Các loại vaccine dùng trong NTTS. • Vaccine vô hoạt (inactivated):  Là vaccine được sản xuất trực tiếp từ chủng vi khuẩn gây bệnh, sau khi nuôi  cấy   tăng   sinh   và   diệt   vi   khuẩn   bằng   nhiệt   hoặc   hóa   chất   (formalin,  19
  20. Ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất vaccine Nhóm 2 glutaraldehyde). Loại vaccine này rẻ, công nghệ  sản xuất đơn giản và có thể  sản xuất với quy mô lớn, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên trong một  số trường hợp hiệu quả của vaccine vô hoạt thấp nên các loại vaccine khác cần  được phát triển và ứng dụng vào sản xuất.  • Vaccine hỗn hợp:  Là loại vaccine có chứa nhiều hơn một chủng vi khuẩn gây bệnh đã được bất   hoạt nhằm gia tăng khả năng phòng cho một hoặc nhiều loại bệnh khác nhau.  • Vaccine sống (live attenuated):  Là loại vaccine được sản xuất dựa vào biến đổi gene của chủng vi khuẩn gây  bênh. Công việc quan trọng nhất của việc sản xuất được vaccine loại này đó là  xác định được gene độc lực và loại bỏ gene độc lực trước khi sử dụng vi khuẩn  vẫn còn sống. Một loại vaccine sống khác đó là lực chọn chủng vi khuẩn không  gây độc nhưng có cấu trúc tế  bào gần giống với chủng vi khuẩn gây bệnh và   điều quan trọng hơn đó là chủng vi khuẩn đó phải kích thích được hệ miễn dịch   chống lại tác nhân gây bệnh. Đây là loại vaccine đòi hỏi công nghệ  cao để  sản   xuất và nguy cơ  vi khuẩn không độc lực trở  thành chủng gây bệnh ngoài môi  trường do biến đổi gene hoặc thu nhập gene độc lực từ các chủng vi khuẩn gây   bệnh.  • Vaccine tiểu phần (recombinant):  Là loại vaccine được sản xuất từ  tiểu phẩn kháng nguyên của tác nhân gây   bệnh. Thông thường tiểu phần kháng nguyên của vi khuẩn chiếm tỷ lệ rất nhỏ  trong cấu trúc tế  bào như  thành tế  bào  ở  vi khuẩn hoặc một phần vỏ, protein,   nội hoặc ngoại bào của vi khuẩn cũng như của virus. Vaccine tiểu phần có thể  sản xuất được theo ba phương pháp khác nhau dưới đây.  ­ Sản xuất vaccine tiểu phần bằng cách tách triết trực tiếp tiểu phẩn kháng  nguyên từ  vi khuẩn sau khi nuôi cấy tăng sinh như  làm vỡ  tế  bào, tách lọc   protein nội hoặc ngoại bào tùy vào thành phần của kháng nguyên.  ­ Vaccine tiểu phần có thể sản xuất được bằng cách xác định gene độc lực của  vi khuẩn sau đó đưa gene độc lực vào plasmid hoặc bacteriophase, trước khi đưa  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản