
Cội nguồn văn hoá dân
tộc trong truyện ngắn
Cao Duy Sơn

Sinh năm 1956, Cao Duy Sơn lớn lên khi đất nước đã được đổi đời nhờ cách mạng.
Trong truyện của anh không còn nhiều hủ tục mê tín nặng nề thắt buộc con người vào bể khổ
trần ai như trong tác phẩm của Vi Hồng, Triều Ân, Tô Hoài, Ma Văn Kháng... Đời sống
người vùng cao giờ đây đã có nhiều thay đổi. Nhưng đứng từ điểm nhìn hiện tại, nhà văn vẫn
xót xa bởi bao nỗi đau xưa còn hiện hữu đến tận bây giờ. Đó là những cuộc tình lỡ dở của
bao đôi lứa bởi những quan niệm lạc hậu, khiến số phận con người rơi vào những bi kịch
buồn đau. Bao đôi lứa yêu thương nhau tha thiết mà chẳng thể nên duyên chồng vợ, để cả
cuộc đời dài phải sống trong nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi. Ông Thim - bà Phón (Người
săn gấu), lão Sinh - bà Ếm (Chợ tình) đánh mất tình yêu chỉ vì những cản ngăn bởi quan
niệm giàu - nghèo không "môn đăng hộ đối". Những quan niệm cổ hủ, lạc hậu còn giam hãm
bao cuộc đời không cho họ được hưởng hạnh phúc ân ái lứa đôi. Bà mẹ chồng của Líu trong
truyện ngắnGóc trời Tây có cơn mưa đá đã từng quằn quại trong sự khát thèm hạnh phúc ái
ân. Chồng mất khi bà mới đôi mươi, tuổi xuân phơi phới. Dập tắt lửa lòng để giữ tiếng thơm
cho gia đình, dòng họ, bà đã phải trải qua bao đau đớn, vật vã. Bây giờ, đến lượt nàng dâu
cũng một phận như bà. Tìm mọi cách ngăn cản chuyện bướm ong, buộc đôi trẻ chia lìa, bà đã
trở thành kẻ có tội. Ngòi bút giàu tinh thần nhân đạo của Cao Duy Sơn đã thể hiện thái độ
cảm thông, đồng tình với khát vọng hạnh phúc chân chính của con người. "Nàng đi đây.
Nàng sẽ đến với tình yêu của nàng. Thứ men lạ lùng nhất trần đời cám dỗ nàng như bùa
bả" - Lời văn như reo vui với bước chân của Líu. Nhưng còn biết bao rào cản khiến người
phụ nữ trẻ bế tắc, chẳng biết lựa chọn bề nào. Lời văn bỗng trĩu nặng xót thương: "Dường
như không thể quay lại mà cũng không thể bước qua chiếc cổng đá kia". Thân phận người
phụ nữ vùng cao đến bây giờ cũng đâu đã hết được cái khổ. Tục lệ vợ chồng lấy nhau phải
đợi đến ngày có con mới được về sống chung dưới một mái nhà đã tạo cho cái xấu có cơ hội
hoành hành, gây đau khổ cho đôi lứa yêu đương. Nếu chẳng phải ái ân ở rừng, đâu đến nỗi có
chuyện nhầm lẫn để Du, Lu và cả Sìu phải đau khổ, người bỏ đi biệt xứ, kẻ trở thành phế
nhân (Song sinh). Hủ tục lạc hậu, định kiến xã hội và sự thiếu hiểu biết cũng đã dồn đẩy bao
phận người lương thiện đến bước đường cùng. Những người mắc căn bệnh hủi trong truyện
ngắn Tượng trắng bị xua đuổi ra khỏi xã hội loài người, sống vất vả thiếu thốn, cô đơn nơi
rừng thiêng nước độc. Mẹ con Ò Lình phải trốn vào hang hủi - "Nơi đây không một bóng
người" chỉ vì sợ phải trở thành nạn nhân của tục Phly Piaì: "Đứa con sẽ bị quệt chàm lên mặt,

đặt trong một cái rọ tre cùng với một ít tã lót và một quả trứng luộc, tất cả những thứ trong
đó được rắc lên một nắm gạo trộn muối, rồi bị treo tít lên một ngọn cây, phơi nắng phơi
sương cho chết thối, chết mục. Gió sẽ đưa mùi hôi thối của xương thịt đến mời lũ quạ về rỉa
róc"(10). Dồ - người kéo nhị tài hoa (Hòn bi đá màu trắng) cũng chỉ vì sự nhẹ dạ, vô tâm,
thiếu hiểu biết của người dân phố huyện mà chịu oan uổng phải đi "cải tạo hoàn lương".
Ngày trở về, hạnh phúc gia đình đã tan thành mây khói. Những câu chuyện, những cảnh ngộ,
hình tượng nhân vật đáng thương trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn đã gieo vào lòng người
bao nỗi xót xa cho số kiếp con người. Xã hội miền núi dẫu đã có những biến đổi theo hướng
đi lên, nhưng trong con mắt của một người con xa xứ khi trở về, dường như vẫn còn đang
ngưng đọng: "Háng Vài giờ vẫn nguyên sơ như hồi người Pháp sang áp đáo thế kỷ mười
chín. Vẫn những tường nhà không trát áo lộ đá hộc, mái ngói âm dương nối nhau như những
toa tàu bị bỏ quên giữa lũng hoang. Cái cũ kỹ của Háng Vài không do ý thức bảo tồn của
dân bản mà do nền kinh tế yếu kém mọi bề, khiến người ta không có cơ hội làm thay đổi
nó"(11). Người dân Cô Sầu bao nhiêu năm sống trong "tiểu hoang mạc khô cằn" thì nay vẫn
khốn khổ vì thiếu nước. "Sức vóc khỏe mạnh, kiếm được gánh nước cũng mất nửa ngày
đường. Mùa khô đến còn khổ hơn, dân xe ngựa chở những thùng gỗ lênh khênh ra tận sông
Quy đưa nước về bán..."(12). Bao giờ thì quê hương được thay đổi? Bao giờ thì miền núi tiến
kịp miền xuôi? Bao giờ...?... Đó là câu hỏi day đứt, xót xa, đau đáu trong nhiều truyện ngắn
của Cao Duy Sơn.
Trong những xung đột thế sự của con người miền núi, cuộc đấu tranh giữa cái thiện
với cái ác trong đời sống hôm nay là vấn đề được Cao Duy Sơn đặc biệt quan tâm và dành
nhiều trang viết để phân tích, khảo nghiệm. Các truyện ngắn Góc trời Tây có cơn mưa đá,
Hòn bi đá màu trắng, Hấp hối, Song sinh... mang nhiều sức ám ảnh, buộc người đọc không
thể không suy nghĩ về số phận của cái đẹp, cái thiện, cái lành, cái nhân bản trong cuộc sinh
tồn. Ở những truyện ngắn này, Cao Duy Sơn sử dụng nhiều ẩn dụ, biểu tượng đa nghĩa, tạo
nên "lời ngầm" cho truyện. Những ẩn dụ, biểu tượng này tuy không tham gia vào thành
phần cốt truyện nhưng nó biểu hiện những suy ngẫm sâu sắc của tác giả, đồng thời đem đến
ý nghĩa triết học và tạo nên chiều sâu, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền cho tác phẩm của Cao
Duy Sơn.

Cơn mưa đá phía trời Tây sầm sập đổ về kia như dự báo điềm chẳng lành cho số
phận của Líu - người góa phụ trẻ tuổi, xinh đẹp (Góc trời Tây có cơn mưa đá). Cuộc kiếm
tìm hạnh phúc lứa đôi của nàng liệu có bị dập vùi như ngô non mới mọc, tan nát trong gió
giông và mưa đá? Nàng đã quyết liệt chọn lựa cuộc sống riêng cho mình, không chấp nhận
cam chịu mọi bề chỉ để giữ tiếng thơm. Nàng đã sẵn sàng quay lưng trước cái "tinh thần
quá khứ" khắc nghiệt như đá "được hun đúc rắn như thép trong cái cơ thể già nua" của bà
mẹ chồng. Nhưng trước mặt là chiếc cổng đá nặng nề và u ám, phía xa kia "những đám mây
xám pha vàng đang đùn lên ở góc trời Tây" và thấp thoáng đôi mắt trân trân như hai đốm
lửa trên bộ mặt vô cảm của đứa con trai mới chín tuổi đầu...Tất cả đó liệu nàng có đủ can
đảm để vượt qua. Vẫn biết "Đói thì tìm ăn, khát thì tìm uống" nhưng còn bao nhiêu ràng
buộc của bổn phận, lúc níu kéo, lúc vây bủa, khi phòng thủ, khi tấn công... Một cánh chim
yếu ớt và mong manh về đâu trong trời chiều giông bão? Khắc khoải dội lên trong lòng
người đọc nỗi niềm trăn trở, xót thương cho khát khao hạnh phúc nhân bản của con người.
Truyện Hòn bi đá màu trắng là một bài học về nhận thức. Trong cuộc sống hôm nay,
ranh giới phân chia giữa thật - giả, hay - dở, trắng - đen, thiện - ác thật mong manh và nhiều
khi không dễ gì phân định. Âm thanh da diết, tình tứ của cây nhị kì tài trong tay Dồ mới
ngày nào đã làm cho dân Cô Sầu như mê đi, "giúp người ta sống tốt với nhau hơn", nay
bỗng chốc bị lãng quên bởi tiếng "sáo ma" của kẻ thô lậu, bất lương, "mù âm" tên Soóng.
Bằng cách nào mà dân Cô Sầu lại đổi ý ra như thế? Bởi Soóng trơ trẽn? Bởi người Cô Sầu
nhẹ lòng, không phân biệt được dở - hay , thiện - ác? Hay bởi Dồ đã để cho những ghen
tuông, tị hiềm cá nhân cuốn vào vòng tục lụy để tiếng đàn trở nên "đùng đục, nghèn nghẹn
như bị bóp mũi"? Hành trình trở về của Dồ là một hành trình nhận thức. Cái ác vẫn quyết
liệt đeo bám, theo đuổi qua hình ảnh con chim ưng - thiên thần tự do, kẻ chuyên ăn bám.
Cái thiện hiền lành, lặng lẽ đã có lúc bị chối bỏ, bị hắt hủi như đứa con trai hồn nhiên và
ngây thơ ngày nào. Nhưng trong cuộc quyết đấu này, cái thiện - với sự chân thành và tình
yêu trong sáng đã giữ lại được con người trên bờ vực của sự tha hóa. Hòn bi đá màu trắng
đơn sơ, được gọt rũa bởi bàn tay con trẻ, gửi gắm trong đó bao ước nguyện trong lành về
một cuộc sống yên bình, hạnh phúc đã gọi trở về lòng nhân ái, sự bao dung và đem đến một
niềm tin ấm áp vào con người trên hành trình hướng thiện.

Truyện ngắn Hấp hối sử dụng thủ pháp giấc mơ để khám phá đời sống tâm linh của
con người cá nhân. Ông Kình rơi vào một giấc mơ khủng khiếp và ở đó ông ta đã phải đối
diện với quá khứ của mình, bị vạch mặt chỉ tên trước một tòa án đặc biệt mà vị chánh án
của phiên tòa pháp đình này - trớ trêu thay lại chính là giọt máu ông ta đã vô tình đánh rơi
trong cái đêm tội lỗi, cưỡng hiếp một người đàn bà để thỏa mãn những thèm khát bản năng.
Soi mình dưới nước, ông Kình bỗng hoảng sợ khi nhận ra gương mặt thật của mình. Không
phải là khuôn mặt người mà là một hình hài quỷ quái. Sự biến dạng của ngoại hình hay là
sự biến dạng của nhân cách con người? Câu chuyện là lời cảnh báo về sự tha hóa của một
bộ phận quan chức trong cuộc sống hôm nay. Họ gây ra tội ác, chà đạp lên cuộc sống của
dân lành mà vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Tội lỗi vẫn được che dấu bên trong khuôn
mặt đạo mạo của kẻ đang giữ chức quyền. Thế nhưng, quá khứ không chịu ngủ yên cứ đêm
ngày ám ảnh, vây bủa, đòi trả nợ, đòi được chất vấn, đối thoại. "Khi còn sống có lúc nào đó
ta đã phạm phải những sai lầm, gây điều bất hạnh cho người khác thì trước khi hấp hối
cũng nên làm một điều gì tốt đẹp cho đời. Làm được như vậy chẳng lẽ không tốt hơn
sao?"(13). Lời khuyên của người kể chuyện lồng trong lời nhân vật đứa con trai của kẻ tội
nhân chỉ tác động đến suy nghĩ của Kình trong giấc mơ khủng khiếp. Trở về với cái vỏ bọc
danh giá của mình, hắn lại thản nhiên cất bước rồng mây. Hiểm họa vẫn tiếp tục treo trên
đầu những người dân lành vô tội. Cái ác đang hấp hối nhưng bao giờ thì nó bị tiêu diệt?
Làm thế nào chế ngự con người bản năng để nó không gây ra hậu họa khôn lường? Những
câu hỏi day dứt ấy dường như vẫn chưa tìm được câu trả lời.
"Thiện ác đáo đầu" cũng là vấn đề đặt ra gay gắt trong truyện ngắn Song sinh. Đây là
một ám tượng đầy ý nghĩa thể hiện những tìm tòi, khám phá của Cao Duy Sơn. Nhà văn đã
tiến hành một cuộc khảo nghiệm vào cái hang ổ tối mò của bản thể người để kiểm chứng
hai mặt song sinh cùng tồn tại, đối lập mà luôn luôn chuyển hóa, vận động không ngừng.
Du là phần thiện lương hiền lành, thật thà, bị phản bội đã dần lớn khôn, đủ mạnh để đối đầu
với cái xấu, cái ác. Sìu là phần bản năng thấp hèn đã tìm cách lợi dụng để hãm hại cái đẹp,
cuối cùng buộc phải nhận về số phận bất hạnh và buộc phải quy phục cái thiện. Đó là lẽ
thường của luật quả báo. Nhưng cuộc đấu tranh sinh tồn của hai anh em sinh đôi thiện - ác
không hề đơn giản mà đầy khắc nghiệt. Để chiến thắng, cái thiện cần một sự tỉnh táo, một
bản lĩnh và cả một lòng nhân. Gần gũi với mô típ song sinh là mô típ vừa sóng đôi vừa

