intTypePromotion=1
ADSENSE

Đặc điểm giải phẫu học động mạch thận cực dưới ở người Việt Nam

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

27
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu với hy vọng cung cấp đầy đủ hơn những thông tin về mặt hình thái giải phẫu động mạch thận cực dưới cho các nhà phẫu thuật niệu khoa lâm sàng nói riêng và đóng góp thêm về thông số sinh học ở người Việt Nam nói chung. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm giải phẫu học động mạch thận cực dưới ở người Việt Nam

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Số 2 * 2011<br /> <br /> ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU HỌC ĐỘNG MẠCH THẬN CỰC DƯỚI<br /> Ở NGƯỜI VIỆT NAM<br /> Võ Văn Hải*; Nguyễn Gia Ninh*; Nguyễn Văn Nhựt*; Dương Văn Hải*; Vũ Lê Chuyên**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Trong phẫu thuật hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, một trong những nguyên nhân ngoại lai<br /> phổ biến là sự hiện diện động mạch thận cực dưới. Tuy nhiên việc mô tả về phương diện giải phẫu các dạng động<br /> mạch cực dưới (ĐMCD) đến nay trong y văn trên thế giới và ở Việt Nam vẫn còn khá sơ nét. Vì thế, chúng tôi<br /> tiến hành nghiên cứu này với hy vọng cung cấp đầy đủ hơn những thông tin về mặt hình thái giải phẫu động<br /> mạch thận cực dưới cho các nhà phẫu thuật niệu khoa lâm sàng nói riêng và đóng góp thêm về thông số sinh học<br /> ở người Việt Nam nói chung.<br /> Mục tiêu: Mô tả nguyên ủy, kích thước, đường đi và liên quan của ĐMCD ở người Việt Nam nhằm ứng<br /> dụng trong các phẫu thuật hẹp khúc nối bể thận – niệu quản do nguyên nhân bên ngoài và trong các phẫu thuật<br /> mạch máu đoạn ngoài thận.<br /> Phương pháp: Mô tả nghiên cứu cắt ngang với 81 thi hài người Việt Nam trưởng thành đã ướp formol tại<br /> bộ môn Giải phẫu học - ĐH Y Dược thành phố Hồ Chí Minh được chúng tôi phẫu tích từ năm 2003 đến năm<br /> 2011.<br /> Kết quả: Trong 81 thi hài với 162 quả thận, chúng tôi nhận thấy có 9 quả thận có một ĐMCD (5,55%): 4<br /> quả thận bên phải và 5 quả thận bên trái. Trong 9 ĐMCD đó, chúng tôi thấy có 6 ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM<br /> chủ (66,67%), 3 ĐMCD có nguyên ủy từ thân ĐM rốn thận (33,33%). Trong mẫu khảo sát này không có<br /> trường hợp nào có 2 ĐMCD trên cùng một thi hài và cũng không có trường hợp nào ĐM rốn phải có nguyên ủy<br /> xuất phát thấp hơn ĐM rốn trái. Tỉ lệ ĐMCD nguyên ủy từ ĐM chủ cao gấp 2 lần ĐMCD nguyên ủy từ thân<br /> ĐM rốn. Tỉ lệ ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM chủ của thận bên trái cũng cao gấp 2 lần so với thận bên phải. Tất<br /> cả ĐMCD trong mẫu này đều đi trước bể thận hay phía trước khúc nối bể thận – niệu quản. Trong trường hợp<br /> đa ĐM cung cấp máu cho thận (có sự hiện diện ĐM cực trên, hoặc đa ĐM rốn, hoặc cả hai) thì sự hiện diện ĐM<br /> cực dưới là phổ biến (77,78%), nhưng đa ĐM rốn thận có kèm theo ĐMCD của cùng một thận lại chiếm tỉ lệ<br /> thấp (11,11%).<br /> Kết luận: Qua khảo sát 162 quả thận, sự hiện diện động mạch cực dưới tuy rất thấp (5,55%), nhưng<br /> nguyên ủy của động mạch cực dưới từ động mạch chủ là phổ biến (66,67%), phần lớn xảy ra ở thận bên trái. Đa<br /> số các thi hài có hiện diện động mạch cực dưới đều có các dạng động mạch khác đi kèm như động mạch cực trên,<br /> đa động mạch rốn đối bên…Và ngược lại, các động mạch cực dưới thường hiện diện ở thận có một động mạch<br /> rốn. Không có đồng thời hai động mạch cực dưới trên cùng một thi hài.<br /> Từ khóa: Động mạch thận, động mạch rốn thận (ĐMRT), động mạch thận cực trên (ĐMCT), động mạch<br /> thận cực dưới (ĐMCD), cuống thận.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> ANATOMY OF THE LOWER POLAR ARTERIES OF THE VIETNAMESE KIDNEYS<br /> Vo Van Hai*; Nguyen Gia Ninh; Nguyen Van Nhut; Duong Van Hai; Vu Le Chuyen<br /> * Y hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 – No. 2 – 2011: 76 - 81<br /> Bộ môn Giải Phẫu học, Bệnh viện ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh<br /> ** Bệnh viện Bình Dân TP. Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: ThS.BS. Võ Văn Hải<br /> ĐT: 0903323420<br /> Email: drvovanhai@gmail.com<br /> 1<br /> <br /> 76<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Số 2 * 2011<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Background: In the surgical treatment of ureteropelvic junction obstruction, one of the most common<br /> extrinsic causes is the existence of the lower polar artery of the kidneys. However, there is little description of<br /> anatomical categories of the lower polar artery in medical researches in the world in general and in Vietnam in<br /> particular. Therefore, we carried out this study to provide surgeons with further information about anatomical<br /> morphology of the lower polar artery of the Vietnamese kidney. Aim: Describe anatomical lower polar arteries of<br /> the Vietnamese kidneys to apply for renal surgery.<br /> Material and Method: We conducted a cross sectional descriptive study in 81 cadavers of Vietnamese<br /> adults in the Anatomy Department Laboratory of the University of Medicine and Pharmacy at HCMC from 2003<br /> to 2011.<br /> Result: In 162 kidneys of 81 cadavers, there are 9 kidneys with one lower polar artery (5.55%): four right<br /> kidneys and five left kidneys. Among the 9 lower polar arteries (LPA), six originate from the aorta (66.67%) and<br /> three from renal hilar artery (HA) (33.33%). In this observation, there is no case of two LPAs in one cadaver, and<br /> no case of hilar artery of the right kidney arising from lower position than that of the left kindey. The rate of LPAs<br /> arising from the aorta is twice as high as the ones arising from HA. The rate of LPAs arising from aorta in the left<br /> kidneys is also twice as high as the ones in the right kidneys. All of the 9 LPAs cross either in front of the pelvis or<br /> ureteropelvic junction. In the multiple renal arteries (kidney with upper polar artery (UPA), or/and multiple hilar<br /> arteries), the presence of LPA is common (77.78%), but the presence of multiple hilar arteries together with LPA<br /> on one kidney is low (11.11%).<br /> Conclusion: In this observation, the appearance rate of LPAs is low (5.55%), but the LPAs originating from<br /> the aorta is common (66.67%), mostly in the left kidneys. The majority of cadavers with the presence of LPA has<br /> UPA or/and multiple renal arteries on the opposite kidney. By contrast, the LPAs are often present in one hilar<br /> renal artery. There is no case of two LPAs in one cadaver.<br /> Key words: renal artery, hilar artery (HA), upper polar artery (UPA), lower polar artery (LPA), pedical of<br /> kidney.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Trong phẫu thuật bệnh lý hẹp khúc nối bể<br /> thận – niệu quản, nguyên nhân bên ngoài hay<br /> gặp nhất là sự hiện diện của động mạch cực<br /> dưới (ĐMCD) “bất thường” đi ngang qua khúc<br /> <br /> cung cấp thêm thông tin về số liệu hình thái của<br /> ĐMCD cho các nhà niệu học nói riêng, và đồng<br /> thời bổ sung cho ngành hình thái học và sách<br /> giáo khoa về số liệu sinh học của thận ở người<br /> Việt Nam nói chung.<br /> <br /> nối gây chít hẹp mà theo các tác giả có tỉ lệ khá<br /> <br /> Mục tiêu nghiên cứu<br /> <br /> cao từ 30 – 49% các trường hợp(1,3,4,8). Điều trị bảo<br /> <br /> Mục tiêu tổng quát<br /> <br /> tồn thận và bể thận trong bệnh lý hẹp khúc nối<br /> <br /> Mô tả các dạng động mạch thận cực dưới<br /> <br /> là cần thiết(2), vì thế việc nắm vững các cấu trúc<br /> <br /> trong cuống thận ở người Việt Nam trưởng<br /> <br /> và các dạng mạch máu cũng như đặc điểm giải<br /> <br /> thành nhằm ứng dụng trong các phẫu thuật hẹp<br /> <br /> phẫu học về nguyên ủy, đường đi và liên quan<br /> <br /> khúc nối bể thận – niệu quản và trong phẫu<br /> <br /> của ĐMCD ở người bình thường có ý nghĩa<br /> <br /> thuật mạch máu thận đoạn ngoài thận.<br /> <br /> quan trọng trong phẫu thuật bệnh lý này. Hơn<br /> <br /> Mục tiêu chuyên biệt<br /> Mô tả nguyên ủy, kích thước, đường đi và<br /> liên quan của ĐMCD trong cuống thận. Phân<br /> loại và nêu ra tần suất các dạng hiện diện của<br /> ĐMCD cung cấp máu cho thận.<br /> <br /> nữa, việc nghiên cứu các ĐMCD hiện nay còn<br /> khá ít(5,6,10,11,12) nên chúng tôi tiến hành nghiên<br /> cứu này với hy vọng đưa ra kết quả góp phần<br /> <br /> 77<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Mô tả cắt ngang.<br /> Cỡ mẫu<br /> Lấy mẫu theo cách thuận tiện và ngẫu<br /> nhiên 81 thi hài của người Việt Nam trưởng<br /> thành đã được ướp formol tại bộ môn Giải<br /> Phẫu học - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí<br /> Minh từ năm 2003 đến năm 2011. Tiêu chuẩn<br /> loại trừ: những xác có sẹo mổ vùng bụng thắt<br /> lưng có can thiệp trực tiếp trên mạch máu<br /> thận làm thay đổi cấu trúc giải phẫu học ban<br /> đầu (điều này thường chỉ thấy được khi phẫu<br /> tích vào vùng bụng và hố thận).<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Số 2 * 2011<br /> khảo sát thì tỉ lệ ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM<br /> chủ là 3,7% (6/162) và nguyên ủy từ ĐM rốn là<br /> 1,85% (3/162). So sánh với báo cáo của Merklin<br /> và Michele(6), tỉ lệ ĐMCD xuất phát từ ĐM chủ<br /> theo quan sát của chúng tôi (3,7%) thấp hơn của<br /> tác giả Merklin và Michele (6,9%) và tỉ lệ ĐMCD<br /> xuất phát từ nhánh ĐM rốn thận của hai tác giả<br /> này (3,1%) cũng cao hơn mẫu khảo sát của<br /> chúng tôi (1,85%). Tuy nhiên hai tác giả này<br /> trong báo cáo đã không phân biệt hay so sánh tỉ<br /> lệ nguyên ủy ĐMCD bên trái và bên phải.<br /> Bảng 1: Tóm tắt các tỉ lệ về nguyên ủy của ĐM cực<br /> dưới<br /> ĐM cực dưới<br /> Nguyên ủy<br /> <br /> Phẫu tích và ghi nhận kết quả<br /> - Đường mổ: chọn đường trắng giữa trên và<br /> dưới rốn, bờ dưới cung sườn hai bên và đường<br /> ngang rốn hai bên đến đường nách giữa qua các<br /> lớp của thành bụng.<br /> - Cắt và bóc tách mạc nối lớn, bộc lộ dạ dày<br /> – ruột. Sau đó lật vùng dạ dày và khối tá tụy<br /> sang bên để bộc lộ vùng thận, rốn thận, niệu<br /> quản, động mạch (ĐM) thận và tĩnh mạch (TM)<br /> thận, đồng thời quan sát vị trí nguyên uỷ của<br /> ĐM thận xuất phát từ ĐM chủ bụng.<br /> - Bóc tách thận, cuống thận, TM chủ dưới,<br /> ĐM thận, niệu quản thành một khối, đem ra<br /> ngoài phẫu tích và làm bộc lộ rõ các mạch máu<br /> vùng rốn và cuống thận để quan sát.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Qua khảo sát 162 quả thận được phẫu tích từ<br /> năm 2003 đến năm 2011 tại bộ môn Giải Phẫu<br /> học - Đại học Y Dược Tp.HCM, chúng tôi nhận<br /> thấy có 9 quả thận có một ĐM cực dưới, chiếm tỉ<br /> lệ 5,55%, trong đó có 4 quả thận bên phải và 5<br /> quả thận bên trái.<br /> Nguyên ủy của ĐMCD<br /> Đặc điểm chung: Với 9 quả thận có một<br /> ĐMCD (5,55%). Trong 9 ĐMCD này có 6<br /> ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM chủ (66,67%), 3<br /> ĐM cực dưới có nguyên ủy từ thân ĐM rốn<br /> thận (33,33%). Và trong số 162 quả thận được<br /> <br /> 78<br /> <br /> ĐM chủ<br /> <br /> Tỉ lệ<br /> <br /> ĐM rốn Chủ / Đm chủ / ĐM Rốn /<br /> thận Rốn*<br /> N*<br /> N*<br /> <br /> Thận 2<br /> bên<br /> <br /> 66,67% 33,33%<br /> (n=6/9) (n=3/9)<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3,7%<br /> 1,85%<br /> (n=6/162) (n=3/162)<br /> <br /> Thận phải<br /> <br /> 22,22% 22,22%<br /> (n=2/9) (n=2/9)<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,23%<br /> 1,23%<br /> (n=2/162) (n=2/162)<br /> <br /> Thận trái<br /> <br /> 44,44% 11,12%<br /> (n=4/9) (n=1/9)<br /> <br /> 4<br /> <br /> 2,46%<br /> 0,62%<br /> (n=4/162) (n=1/162)<br /> <br /> Thận phải<br /> / thận trái<br /> <br /> 1/2<br /> <br /> 2<br /> <br /> *Chủ / Rốn (lần): tỉ lệ so sánh ĐMCD có nguyên ủy ĐM chủ<br /> và ĐM rốn. Với N=162 quả thận<br /> <br /> Trong 9 ĐMCD đó có 4 ĐMCD bên phải (2<br /> ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM chủ, 2 ĐMCD xuất<br /> phát từ thân ĐM rốn) và 5 ĐMCD bên trái (4<br /> ĐMCD có nguyên ủy từ ĐM chủ và 1 ĐMCD<br /> xuất phát từ thân ĐM rốn). Tỉ lệ xuất hiện<br /> ĐMCD bên phải và bên trái là 5/4. Tuy nhiên, sự<br /> khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Do đó<br /> trong mẫu khảo sát 162 quả thận này tỉ lệ xuất<br /> hiện ĐMCD 2 bên thận là bằng nhau. Điều này<br /> khác biệt với báo cáo của các nhà giải phẫu(5,10,11)<br /> là ĐMCD bên phải gặp nhiều hơn bên trái. Từ<br /> kết quả khảo sát này, chúng tôi cũng nhận thấy:<br /> tỉ lệ ĐMCD nguyên ủy từ ĐM chủ cao gấp 2 lần<br /> (6/3) ĐMCD nguyên ủy từ thân ĐM rốn. Ngoài<br /> ra, thận trái có tỉ lệ ĐMCD nguyên ủy từ ĐM<br /> chủ cũng cao gấp 2 lần (4/2)) so với thận phải<br /> (xem Bảng 1) Điều này có phải chăng phù hợp<br /> với hình ảnh lâm sàng mà các nhà niệu khoa<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Số 2 * 2011<br /> thường gặp trong các bệnh nhi có bệnh lý hẹp<br /> khúc nối do ĐMCD bên trái gặp nhiều hơn bên<br /> phải(4,7). Đây là điều cần được làm sáng tỏ hơn<br /> nữa vì mẫu khảo sát của chúng tôi còn khá<br /> khiêm tốn.<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> Bảng 2: Các số đo của ĐM cực dưới<br /> <br /> Thận 2 bên<br /> phải và trái<br /> <br /> Kích thước của ĐMCD<br /> Các số đo ĐM cực dưới được tóm tắt trong<br /> <br /> Nguyên ủy<br /> từ ĐM Chủ<br /> <br /> Bảng 2.<br /> <br /> Nguyên ủy<br /> từ ĐM Rốn<br /> <br /> Các số đo (milimet)<br /> <br /> Số<br /> quả<br /> thận<br /> <br /> Nhỏ<br /> nhất<br /> <br /> Lớn<br /> nhất<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> CD<br /> <br /> 9<br /> <br /> 28,40<br /> <br /> 92,40<br /> <br /> 56,0556 <br /> 18,75547<br /> <br /> ĐK<br /> <br /> 9<br /> <br /> 0,90<br /> <br /> 4,40<br /> <br /> 2,5022  1,04223<br /> <br /> CD<br /> <br /> 6<br /> <br /> 39,60<br /> <br /> 68,20<br /> <br /> 56,8667 <br /> 10,39897<br /> <br /> ĐK<br /> <br /> 6<br /> <br /> 0,90<br /> <br /> 4,40<br /> <br /> 2,5633  1,18309<br /> <br /> CD<br /> <br /> 3<br /> <br /> 28,40<br /> <br /> 92,40<br /> <br /> 54,4333 <br /> 33,62742<br /> <br /> ĐK<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1,34<br /> <br /> 2,93<br /> <br /> 2,3800  0,90117<br /> <br /> ĐM cực dưới<br /> <br /> CD: chiều dài; ĐK: đường kính<br /> <br /> Đường đi và liên quan của ĐMCD (xem bảng 3)<br /> Bảng 3: Tóm tắt liên quan của ĐM cực dưới<br /> STT<br /> <br /> Mã số thận Nguyên Ủy<br /> khảo sát<br /> của 2 ĐMR*<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> <br /> Phải - 1.2/02<br /> Phải - 1.7/68<br /> Phải - 2.4/59<br /> Phải - 4.6/26<br /> Trái - 3.3/16<br /> Trái - 4.4/24<br /> Trái - 2.3/58<br /> Trái - 2.1/69<br /> Trái - 3.4/78<br /> <br /> N<br /> <br /> 4P+5T<br /> <br /> 0<br /> 0<br /> + 4,5mm<br /> 0<br /> + 8,1mm<br /> + 9,6mm<br /> 0<br /> + 5,7mm<br /> 0<br /> <br /> ĐM cực dưới<br /> Nguyên Ủy<br /> ĐM Chủ ĐM Rốn<br /> 1<br /> 1<br /> 1**<br /> 1***<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1****<br /> 1<br /> 6<br /> <br /> Liên quan Cùng Bên<br /> Số ĐM Rốn Số ĐM Cực Trên<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 3<br /> <br /> ( )<br /> <br /> (a)<br /> <br /> Liên quan Đối Bên<br /> Số ĐM Rốn Số ĐM Cực Trên<br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 3<br /> 1<br /> 2<br /> 0<br /> <br /> (b)<br /> <br /> (c)<br /> (<br /> <br /> (d)<br /> <br /> )<br /> <br /> * Nguyên ủy của ĐM rốn 2 bên: (n = 0): xuất phát bằng nhau, (+): ĐMR phải xuất phát cao hơn ** nhánh bên gần gốc chủ,<br /> )<br /> (<br /> )<br /> *** nhánh tận tại rốn, **** nhánh tận chia sớm của ĐMR 2 (a): N (1 ĐMR) = 8 ca (88,89%); N (2 ĐMR) = 1 ca (11,11%). (b):<br /> N = 6 ca (66,66%) kèm ĐMCT cùng bên (c): N = 4 ca (44,44%) đa ĐMR đối bên, N = 5 ca (55,56%) 1 ĐMR đối bên . (d): N =<br /> 6 ca (66,66%) ĐMCT đối bên<br /> (<br /> <br /> Liên quan bể thận<br /> Tất cả các ĐM cực dưới đều đi trước bể<br /> thận hay khúc nối bể thận – niệu quản duy có<br /> 2 trường hợp ĐM cực dưới đơn thuần chỉ có 1<br /> ĐM rốn thận mỗi bên và không có đi kèm ĐM<br /> cực trên trong cùng một người. Và 7 trường hợp<br /> ĐM cực dưới còn lại (chiếm tỉ lệ 7/9 = 77,78%)<br /> đều có đi kèm 1 hoặc 2 ĐM cực trên của thận<br /> cùng bên (6/9 = 66,66%) hoặc của thận đối bên<br /> (6/9 = 66,66%).<br /> Liên quan đa ĐM cung cấp máu cho thận<br /> Khi khảo sát thận cùng bên, chúng tôi nhận<br /> <br /> thấy duy nhất một trường hợp có 1 ĐM cực<br /> dưới đi kèm 2 ĐM rốn thận cùng bên (1/9 =<br /> 11,11%), 8 trường hợp còn lại (8/9 = 88,89%) là 1<br /> ĐM cực dưới đi kèm 1 ĐM rốn thận cùng bên.<br /> Như vậy đa ĐM rốn thận có ĐMCD kèm theo<br /> cùng bên chiếm tỉ lệ thấp (11,11%).<br /> Với khảo sát thận đối bên, chúng tôi nhận<br /> thấy xuất hiện 4 trường hợp (4/9 = 44,44%)<br /> ĐM cực dưới đi kèm thận đối bên có đa ĐM<br /> rốn thận (3 trường hợp 2 ĐM rốn thận và 1<br /> trường hợp 3 ĐM rốn thận). Năm trường hợp<br /> còn lại (5/9 = 55,56%) ĐM cực dưới có thận<br /> <br /> 79<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Số 2 * 2011<br /> <br /> đối bên có một ĐM rốn thận. Như vậy ĐMCD<br /> hiện diện với sự xuất hiện không phổ biến đa<br /> ĐM rốn thận đối bên.<br /> Như vậy nếu chúng ta xét đến số lượng<br /> động mạch cung cấp cho mỗi thận trên cùng<br /> một người thì có 7 trường hợp có hiện diện<br /> ĐMCD có kèm dạng đa ĐM cung cấp máu<br /> cho thận khá cao (77,78%). Điều này có nghĩa<br /> là trong trường hợp đa ĐM cung cấp máu cho<br /> thận (hoặc kèm hiện diện ĐM cực trên, hoặc<br /> đa ĐM rốn, hoặc cả hai) thì sự hiện diện ĐM<br /> cực dưới là phổ biến (77,78%).<br /> <br /> Liên quan về vị trí xuất phát của các ĐM thận<br /> trong thận có ĐMCD:<br /> Một điều thú vị rằng có 7 ĐMCD xuất phát<br /> từ ĐM chủ và chỉ có 3 ĐMCD xuất phát từ thân<br /> ĐM rốn thận. Nhưng trong 3 trường hợp xuất<br /> phát từ ĐM rốn thận này, có một trường hợp<br /> xuất phát rất gần ĐM chủ (gần gốc xuất phát<br /> của ĐM rốn) (hình 1).<br /> <br /> Hình 2 ĐMCD nguyên ủy từ ĐM rốn thứ 2 trong<br /> mẫu đa ĐM rốn 2 bên<br /> Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy rằng trong<br /> 9 trường hợp thận xuất hiện ĐMCD thì có 5<br /> trường hợp vị trí nguyên ủy của ĐM rốn bên<br /> phải từ ĐM chủ ngang bằng với ĐM rốn trái, 4<br /> trường hợp còn lại ĐM rốn bên phải cao hơn<br /> ĐM rốn bên trái từ 4,5 - 9,6 mm. Không có<br /> trường hợp nào ĐM rốn phải xuất phát thấp<br /> hơn ĐM rốn trái. Câu hỏi đặt ra là có phải chăng<br /> ĐM rốn thận trái do xuất phát bằng hoặc thấp<br /> <br /> 80<br /> <br /> Hình 1: ĐMCD nguyên ủy từ ĐM rốn nhưng rất<br /> gần ĐM chủ<br /> Trường hợp thứ hai là nhánh tận chia khá<br /> sớm của thân ĐM rốn thận thứ hai, khi ĐM rốn<br /> thận thứ hai này cách ĐM chủ chỉ có 22,7mm<br /> (trường hợp này có 3 ĐM rốn phải, 2 ĐM rốn<br /> trái và 2 ĐM cực trên mỗi bên - hình.2). Trường<br /> hợp còn lại ĐMCD là nhánh tận của ĐM rốn khi<br /> ĐM rốn này cho các nhánh tận vào rốn thận<br /> (hình.3). Cả 3 dạng ĐMCD này đều đi ngay<br /> trước khúc nối bể thận – niệu quản.<br /> <br /> Hình 3 ĐMCD là nhánh tận của ĐM rốn tại rốn thận<br /> hơn thận phải trong sự xuất hiện ĐMCD hay<br /> không, hay do chính sự xuất hiện ĐMCD này<br /> đã làm cho thận trái không lên cao hơn được so<br /> với thận phải và làm thận bên trái đã ngừng<br /> xoay sớm (gọi là thận xoay bất toàn như các tác<br /> giả Vũ Lê Chuyên, Stephens đã đề cập(9,13)) và<br /> làm ĐM rốn thận trái có nguyên ủy như vậy.<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2