intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Đề cương Khóa luận tốt nghiệp: Kiến thức, thái độ về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên tại Đại học Y Dược Hải Phòng

Chia sẻ: Hoàng Dũng | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:61

0
39
lượt xem
13
download

Đề cương Khóa luận tốt nghiệp: Kiến thức, thái độ về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên tại Đại học Y Dược Hải Phòng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của khóa luận là mô tả kiến thức, thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên trường Đại học Y Hải Phòng. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương Khóa luận tốt nghiệp: Kiến thức, thái độ về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên tại Đại học Y Dược Hải Phòng

  1.   BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                        B Ộ Y T Ế TRƯỜ NG ĐẠI HỌC Y DƯỢ C HẢI PHÒNG ­­­­­­­­­­­***­­­­­­­­­­­ KIẾN THỨC THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG NGỪA NHIỄM  KHUẨN BỆNH VIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG  ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM 2015 ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  HẢI PHÒNG – 2018
  2.    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                        BỘ Y TẾ   TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG ­­­­­­­­­­­***­­­­­­­­­­­ KIẾN THỨC THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG NGỪA NHIỄM  KHUẨN BỆNH VIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG  ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM 2015 ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên nghành: Bác sĩ Y học Dự Phòng Mã số đào tạo: Thầy hướng dẫn khoa học: HẢI PHÒNG –  2018
  3. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BSĐK         : Bác sỹ đa khoa CDC  : Centers for Disease Control and Prevention      Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh tật Hoa Kì. CNĐD : Cử nhân điều dưỡng KSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩn KT : Kiến thức NB : Người bệnh NKBV : Nhiễm khuẩn bệnh viện NVYT : Nhân viên y tế PHCN         : Phòng hộ cá nhân PNC : Phòng ngừa chuẩn TĐ : Thái độ WHO          : Tổ chức y tế thế giới.
  4. MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG
  5. DANH MỤC BIỂU ĐỒ DANH MỤC HÌNH
  6. 6 ĐẶT VẤN ĐỀ  Nhiễm khuẩn bệnh viện là hậu quả  không mong muốn trong thực   hành khám bệnh, chữa bệnh. Nhi ễm khuẩn b ệnh vi ện góp phần làm gia  tăng tỷ  lệ  mắc bệnh, tăng sử  dụng thuốc kháng sinh, kéo dài ngày nằm  viện cho người bệnh, gia tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ tử vong.  Kiến  thức về  phòng ngừa chuẩn là một phần cơ  bản trong kiến thức về  kiểm   soát nhiễm khuẩn. Thực hiện các biện pháp của phòng ngừa chuẩn đóng  góp quan trọng vào việc giảm tỷ lệ mắc nhiễm khu ẩn bệnh viện. T ừ đó   hạn chế  sự  lây truyền bệnh cho nhân viên y tế  và ngườ i bệnh cũng như  từ  người bệnh sang môi trường, đảm bảo an toàn ngườ i bệnh, góp phần  làm tăng chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của bệnh vi ện [1], [2].  Những cơ sở  khám chữa bệnh không tuân thủ  đầy đủ  quy trình đảm  bảo vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị, những nơi chưa có kiến thức và  thái độ đúng về phòng ngừa chuẩn có nguy cơ mắc nhiễm trùng bệnh viện   cao hơn các cơ sở khác. Do vậy kiến thức và thái độ về phòng ngừa chuẩn  có vai trò quan trọng đối với thực hành phòng ngừa chuẩn cho nhân viên y  tế. Tại mỗi thời điểm, mỗi quốc gia khác nhau có các giải pháp thực hiện  phòng ngừa chuẩn khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm các bệnh nhiễm trùng  nhưng đều dựa trên hướng dẫn của trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát bệnh   tật Hoa Kì về phòng ngừa chuẩn công bố năm 2007.  Sinh viên y khoa là những nhân viên y tế  tương lai, chịu trách nhiệm  trong chăm sóc và điều trị  cho người bệnh. Trong ch ương trình học, bên  cạnh học lý thuyết tại  trường sinh viên còn học lâm sàng và trực tại  bệnh viện với tính chất công việc tương tự như các ngành học. Sinh viên  cũng là người trực tiếp thực hiện các thủ thuật chăm sóc, thăm khám trên 
  7. 7 người bệnh do đó cũng đóng góp một phần lớn vào việc giảm thiểu các   rủi ro liên quan đến các hậu quả do nhiễm khu ẩn bệnh vi ện [ 3  ].    Sinh viên có nguy cơ  cao tiếp xúc với máu và dịch tiết do thời gian   tiếp xúc lâm sàng của sinh viên chưa nhiều so với nhân viên y tế, các kỹ  năng thăm khám hay kỹ  năng thực hiện các thủ  thuật chăm sóc trên người  bệnh chưa thuần thục như  những nhân viên y tế  [ 4]. Ngoài ra, sinh viên  trước khi học tại viện cần phải được cung cấp đầy đủ  các kiến thức về  phòng ngừa chuẩn là một điều kiện cần thiết cho sự tuân thủ các thủ thuật   đảm bảo vô khuẩn. Tuy nhiên phần lớn sinh viên thực tập tại lâm sàng  đều chưa hoàn thiện đầy đủ  các kĩ năng lâm sàng, chưa hiểu rõ về  hệ  thống   quản   lí   bệnh   viện   và   liên   tục   phải   thay   đổi   môi   trườ ng   thực  tập[5]. Do vậy nghiên cứu “Kiến thức, thái độ về các biện pháp phòng ngừa  nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên tại Đại học Y Dược Hải Phòng”  được tiến hành với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả  kiến thức, thái độ  về  phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện   của sinh viên trường Đại học Y Hải Phòng 2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng ngừa   nhiễm khuẩn bệnh viện
  8. 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. THỰC TRẠNG NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN Nhiễm khuẩn bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới   chăm sóc y tế  (Healthcare Associated Infection ­ HAI) là các nhiễm khuẩn  xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ  sở  khám  bệnh, chữa bệnh mà không hiện diện hoặc  ủ  bệnh khi nhập viện. Nhìn  chung, các nhiễm khuẩn xảy ra sau nhập viện 48 giờ (2 ngày) thường được  coi là NKBV. Tỷ  lệ  nhiễm khuẩn bệnh viện  ở  các nước phát triển khác nhau dao  động trong khoảng 3,5% – 12%. Trung tâm phòng ngừa và Kiểm soát bệnh  dịch châu Âu (ECDC) báo cáo tỷ lệ  hiện nhiễm  ở các nước châu Âu trung   bình là 7,1%. Số liệu về nhiễm khuẩn bệnh viện tại các quốc gia chậm và  đang phát triển thường không đầy đủ và không có sẵn. Tuy nhiên, phân tích  gần đây của Tổ  chức Y tế  thế  giới (WHO) cho thấy các ca nhiễm khuẩn  bệnh viện  ở các nước đang phát triển thường xảy ra với tần suất cao hơn   do hạn chế  nguồn lực so với các nước phát triển. Tổn thất tài chính hằng  năm do nhiễm khuẩn bệnh viện cũng rất lớn, ước tính khoảng 7 tỷ Euro ở  châu Âu, khoảng 6,5 tỷ USD ở Mỹ.  Hiện nay, tại Việt Nam tỷ lệ NKBV chung  ở NB nhập viện từ 5%­ 10% tùy theo đặc điểm và quy mô bệnh viện. Những bệnh viện tiếp nhận   càng nhiều NB nặng, thực hiện càng nhiều thủ  thuật xâm lấn (TTXL) thì 
  9. 9 nguy cơ  mắc NKBV càng cao. Tỷ  lệ  NKBV có thể  lên tới 20%­30%  ở  những khu vực có nguy cơ cao như Hồi sức tích cực, sơ sinh, ngoại khoa…   Các loại NKBV thường gặp là viêm phổi bệnh viện (bao gồm viêm phổi  thở   máy),   nhiễm   khuẩn   huyết,   nhiễm   khuẩn   vết   mổ   (NKVM),   nhiễm   khuẩn tiết niệu (NKTN). NKBV thường biểu hiện chủ yếu dưới dạng dịch  lưu hành (endemic rate), là tỷ lệ thường xuyên xuất hiện NKBV trong một   quần thể xác định. Có khoảng 5%­10% NKBV biểu hiện ở dạng dịch hoặc   bùng phát dịch (epidemic)[7]. Nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng thời gian viện, tăng chi phí điều trị,   tăng tỷ lệ mắc bệnh và đặc biệt làm tăng tỷ lệ tử vong. Nhiễm khuẩn bệnh  viện sẽ  tăng  ở  các cơ  sở  khám bệnh, chữa bệnh không tuân thủ  nghiêm  ngặt các quy tình vô khuẩn trong chăm sóc người bệnh và ở những nơi kiến  thức và thái độ về KSNK còn hạn chế [6]. 1.2. KHÁI NIỆM VỀ PHÒNG NGỪA CHUẨN 1.2.1. Phòng ngừa chuẩn và vai trò của phòng ngừa chuẩn tới kiểm soát   nhiễm khuẩn. Năm   1970,   trung   tâm   kiểm   soát   và   phòng   ngừa   bệnh   tật   Hoa   Kì  (CDC) đưa ra khái niệm về cách ly phòng ngừa lần đầu tiên với 7 phương   pháp cách ly theo mã màu khác nhau bao gồm: phòng ngừa tuyệt đối, phòng  ngừa bảo vệ, phòng ngừa lây truyền qua hô hấp, đường ruột, vết thương,   chất thải và máu. Năm 1985 CDC ban hành hướng dẫn phòng ngừa mới gọi   là phòng ngừa phổ  cập (Universal Precautions) nhằm đối phó với đại dịch  HIV/AIDS. Trong đó, máu được xem như  là nguồn lây truyền quan trọng  nhất và dự  phòng những phơi nhiễm qua đường máu là cần thiết. Năm  1995,   khái   niệm   phòng   ngừa   phổ   cập   được   chuyển   thành   phòng   ngừa 
  10. 10 chuẩn (Standard Precautions) là tổng hợp của hai biện pháp phòng ngừa  phổ cập và cách ly với chất tiết của cơ thể [7].   Theo hướng dẫn về  PNC của Bộ  Y tế, PNC là tập hợp các biện   pháp phòng ngừa cơ  bản áp dụng cho tất cả  NB trong các cơ  sở  khám  bệnh, chữa bệnh, dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất bài tiết (trừ mồ  hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh [1]. Nhằm hướng dẫn thực hành PNC cho NVYT, các tổ chức y tế uy tín  như WHO và CDC đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất các biện pháp rất cụ  thể. Tuy nhiên khi xem xét các khuyến cáo này có thể   thấy, bên cạnh các  giải pháp tương đối thống nhất, thì cũng có những giải pháp thể hiện quan  điểm của từng tổ chức. Với các bằng chứng rõ ràng và có độ tin cậy cao về tác dụng của vệ  sinh bàn tay, cả WHO và CDC đều cho rằng, NVYT cần phải tuân thủ tốt  các thời điểm vệ sinh bàn tay và vệ sinh ho và hô hấp. Bên cạnh đó, mỗi cơ  sở y tế và nhân viên cũng cần phải chuẩn bị, cung cấp và thực hiện các yêu  cầu trong cung cấp dụng cụ  và đồ  vải đạt tiêu chuẩn. Nhận thấy vai trò   quan trọng của môi trường chăm sóc, khuyến cáo về vệ sinh và khử khuẩn   môi trường cũng được hai tổ chức này coi là một biện pháp quan trọng [8],   [9]. Với các bằng chứng về  việc lây lan nhiễm khuẩn do chưa tuân thủ  việc tự  bảo vệ  hoặc không có đủ  trang thiết bị  tự  bảo vệ, WHO khuyến  cáo rằng các NVYT cần phải sử dụng khẩu trang, kính bảo hộ, găng tay và   áo choàng thích hợp. Tương tự, CDC đã tóm gọn các giải pháp trên trong   một khuyến cáo chung là cần phải có các phương tiện phòng hộ  cá nhân  yêu cầu của mỗi lần tiếp xúc với các nguy cơ lây nhiễm. Nhận thấy vai trò  quan trọng trong việc bảo vệ NVYT khỏi các tác nhân phơi nhiễm, khuyễn  
  11. 11 cáo về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn cũng được  hai tổ chức này khuyến khích thực hiện [8], [9]. Về  các biện pháp bổ  sung, WHO cho rằng việc quản lý chất thải y   tế cũng là một biện pháp PNC, mức độ lây nhiễm sẽ giảm đi nhiều khi các  cơ sở y tế và nhân viên chủ động phân loại, thu gom, lưu trữ và xử lý chất   thải y tế đúng. Trong khi đó, CDC lại nhận thấy rằng việc sắp xếp người   bệnh hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm và khuyến cáo rằng sắp   xếp người bệnh cần phải được coi là một biện pháp PNC. Bên cạnh đó, tổ  chức này cũng cho rằng việc thực hành theo đúng các quy định về  KSNK  đối với các thủ  thuật, đặc biệt là thủ  thuật xâm lấn không chỉ  làm giảm   nguy cơ NKBV mà còn giúp phòng ngừa các lây nhiễm cho NVYT [8], [9]. Việc áp dụng các khuyến cáo về  PNC của WHO và CDC tại mỗi  quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm y tế của quốc gia đó. Năm 2013, trung tâm   kiểm soát nhiễm trùng tại Saudi, Ả rập đã ban hành các giải pháp thực hiện  PNC dựa trên các khuyến cáo của WHO và CDC. Tổ chức này cũng đồng  thuận với WHO, CDC về  tầm quan trọng của các biện pháp vệ  sinh bàn   tay, vệ  sinh khi ho và hô hấp trong việc bảo vệ  NVYT, NB khỏi các tác   nhân lây nhiễm. Các biện pháp về  xử  lí dụng cụ  chăm sóc, xử  lí đồ  vải  bẩn, các biện pháp vệ  sinh môi trường chăm sóc, sắp xếp người bệnh,  quản lí và xử  lí chất thải, cũng được tổ  chức này khuyến khích thực hiện   nhằm giảm tỷ  lệ  NKBV. Bên cạnh đó, tổ  chức này đã bổ  sung thêm giải  pháp về quản lí mẫu xét nghiệm do nhận thấy hiệu quả của giải pháp này   trong hạn chế  sự  lây nhiễm các tác nhân gây bệnh và giảm tỷ  lệ  nhiễm  khuẩn [10]. Tại Việt Nam, các giải pháp thực hiện PNC được xây dựng trên sự  thống nhất với WHO, CDC về các nội dung: vệ sinh bàn tay; vệ sinh khi ho 
  12. 12 và hô hấp; làm sạch và khử khuẩn môi trường; khử khuẩn/tiệt khuẩn dụng   cụ; xử  lí đồ  vải; sử  dụng phương tiện phòng hộ  cá nhân; tiêm an toàn và  phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn. Bộ Y tế cũng đồng nhất với quan  điểm của WHO về tầm quan trọng của các biện pháp xử  lí chất thải y tế  nhằm hạn chế  tác nhân lây truyền bệnh, quan điểm của CDC về  vai trò  của biện pháp sắp xếp người bệnh hợp lí nhằm hạn chế  sự  lây truyền  chéo giữa NB, tạo điều kiện quản lí NB dễ  dàng hơn. Tháng 9/2012 Cục  quản lí khám, chữa bệnh, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn về phòng ngừa  chuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh với 9 nội dung như trên [1]. Thực hiện PNC giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu,   chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) ngay cả khi không nhìn thấy có sự phơi  nhiễm với máu và dịch tiết qua da, niêm mạc. PNC được coi là nền tảng   cho việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện được sử dụng trong chăm sóc  sức khỏe cho NB [8]. Việc tuân thủ các biện pháp của PNC đóng vai trò:  Ngăn ngừa sự  lây nhiễm trong bệnh viện từ đó giảm tỷ  lệ  tử  vong, giảm thời gian nằm viện, rút ngắn chi phí điều trị  cho   NB  Là một nội dung chủ yếu trong chương trình KSNK bệnh viện.  Thực hiện các biện pháp PNC nhằm mục đích hạn chế sự lây truyền   cho NVYT và NB cũng như từ NB sang môi trường nhằm bảo đảm an toàn  và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. 1.2.2. Thực trạng của thực hiện PNC Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên năm 2008 tại   các bệnh viện khu vực phía Bắc chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ  đúng thực hành 
  13. 13 PNC ở NVYT chưa cao, chỉ có ít hơn 20% số nhân viên y tế được quan sát  thực hành tốt các yêu cầu về PNC khi thực hành nghề nghiệp [11].  Tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà và  cộng sự năm 2012 tại bệnh viên Nhi Đồng 1 là 62% tổng số cơ hội quan sát  được, đối tượng tuân thủ  rửa tay cao nhất là kỹ  thuật viên với tỷ  lệ  trên   70%, bác sỹ  và sinh viên là đối tượng tuân thủ  vệ  sinh tay kém nhất, chỉ  chiếm 41%­43% tổng số bác sỹ và sinh viên tham gia nghiên cứu. [12].  Nghiên cứu của Lê Thị  Anh Thư  năm 2010 tại bệnh viên Chợ  Rẫy   cho thấy, từ  tháng 2/2000­ tháng 6/2009, tổng số  NVYT bị  tai nạn nghề  nghiệp do phơi nhiễm với các tác nhân đường máu trong khi thao tác là 327  trường hợp, trong  đó phơi nhiễm trên bệnh nhân HIV dương tính là 65  trường hợp. Điều dưỡng là đối tượng thường  gặp nhất các tai nạn nghề  nghiệp với 116 trường hợp chiếm 35.5%, tiếp đó là đối tượng học viên/sinh  viên với 48 trường hợp chiếm14.7% [13]. Do còn nhiều hạn chế trong việc  thực hiện các thủ thuật thăm khám và các thủ thuật chăm sóc vậy nên sinh  viên là đối tượng có nguy cơ  cao phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh  [14]. Theo nghiên cứu của Huson Amin Ghalya và Youssreya Ibrahim chỉ ra  rằng có sự  thiếu kiến thức và tuân thủ  về  thực hành PNC của NVYT và  sinh viên y [15]. Trong khi đó sự tuân thủ thực hành PNC lại có vai trò đáng   kể trong việc giảm tỷ lệ NKBV [1]. 1.3. KIẾN THỨC, THAI  ĐỘ  VỀ  PNC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ  VÀ  SINH VIÊN Y KHOA NKBV là mối quan tâm chung của ngành y tế  tại mọi quốc gia trên  thế  giới. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, công tác KSNK luôn   phải đối mặt với nhiều trở ngại như ngân sách đầu tư hạn chế, tình trạng 
  14. 14 quá tải bệnh viện, thiếu thốn cơ sở vật chất, phần lớn NVYT và các nhà   quản lý chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác này [10].   Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện có nhiều, tuy nhiên một trong  những nguyên nhân quan trọng là kiến thức, thái độ  của NVYT về  kiểm   soát NKBV chưa tốt dẫn đến việc chấp hành các quy định/quy trình KSNK  gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các nội dung về PNC [11]. NKBV xuất hiện nhiều  ở những cơ sở không tuân thủ  nghiêm ngặt  quy tắc vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị  người bệnh, ngoài ra nguồn  lực dành cho đào tạo KSNK còn thiếu. PNC là nội dung quan trọng trong   chương trình KSNK. Để  làm thay đổi hành vi của một cá nhân cần phải   cung cấp cho các đối tượng các kiến thức đúng, thay đổi thái độ  của đối  tượng, từ đó tác động tới hành vi của đối tượng. Việc cung cấp kiến thức   cho NVYT và sinh viên y khoa về PNC là cần thiết để làm giảm NKBV và  giảm thiểu các rủi ro không mong muốn cho NVYT và sinh viên.  Tại Việt Nam, theo một số nghiên cứu cho thấy kiến thức về KSNK cơ  bản còn thấp, trong 100 NVYT được phỏng vấn ở 10 bệnh viện đại diện khu  vực phía Bắc, không có NVYT nào hiểu đầy đủ về PNC [16]. Tuy nhiên chưa  có nghiên cứu nào tại Việt Nam mô tả kiến thức và thái độ của sinh viên y về  PNC. Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên năm 2008,  đánh giá kiến về vệ sinh tay thường quy của NVYT tại một số bệnh viện   khu vực phía Bắc năm 2005 cho thấy tỉ lệ nhân viên trả lời đúng tất cả các  câu hỏi liên quan đến vệ sinh tay chỉ chiếm 43.5% [11].  Theo tác giả Lê Thị Anh Thư, từ sau khi triển khai huấn luyện và các   biện pháp phòng hộ, số lượng NVYT (bao gồm cả học viên/sinh viên) bị tai  nạn nghề nghiệp đã giảm xuống một cách đáng kể [13]. 
  15. 15 Tại Trung Quốc, do thiếu các kiến thức căn bản về PNC nên 90 nhân  viên trong tổng số  149 người được phỏng vấn bày tỏ  sự  lo ngại khi chăm  sóc người bệnh nhiễm HIV/AIDS [17]. Bên cạnh việc cung cấp đầy đủ  phương tiện để  thực hiện PNC, việc cung cấp kiến thức về PNC là thực  sự  cần thiết, nghiên cứu của tác giả  Askarian cho thấy 90% sinh viên y  khoa  ở Shiraz đã không nhận được giáo dục về  PNC, 75% số người được  hỏi muốn học nhiều hơn về các biện pháp PNC [18]. Giáo dục về vấn đề KSNK không chỉ nên tập trung vào NVYT, mà nên  bao gồm cả sinh viên. Sinh viên cần phải được đào tạo về PNC trước khi đến  bệnh viện là một trong những điều kiện cần thiết cho sự thực hành các quy  trình vô khuẩn [19]. Trong các nghiên cứu về thực trạng thực hành rửa tay của  sinh viên cho kết quả kém, sinh viên hiếm khi rửa tay khi thăm khám NB [20].  Sinh viên là đối tượng dễ  có nguy cơ  bị  phơi nhiễm với các tác nhân  gây truyền bệnh qua đường máu do chưa thuần thục trong thực hiện các thủ  thuật vô khuẩn, sinh viên điều dưỡng và sinh viên đa khoa chiếm 15% tổng số  phơi nhiễm liên quan đến vật sắc nhọn [22]. Kiến thức của sinh viên còn thấp  trong các nội dung về  vệ  sinh tay, phòng hộ  cá nhân, tiêm an toàn và xử  trí  phơi nhiễm với vật sắc nhọn theo nghiên cứu của tác giả Tarek Tawfik Amin  [5].  Việc cung cấp đầy đủ  kiến thức về  PNC đóng vai trò quan trọng   trong việc thực hành PNC của sinh viên. Nghiên cứu của Elliott SK và cộng  sự nhằm so sánh kết quả trước và sau khi cung cấp các kiến thức về phòng  ngừa tai nạn do kim đâm và xử lí tai nạn cho sinh viên đã cho thấy có sự cải  thiện đáng kể  về  kiến thức của sinh viên so với các nghiên cứu trước đó  [19]. Sinh viên là đối tượng chưa được nhận đầy đủ  tất cả  các kiến thức  
  16. 16 liên quan đến chuyên môn so với NVYT, do đó sinh viên dễ gặp các rủi ro  trong chăm sóc hơn so với NVYT.   Sinh viên trước khi ra trường nên được cung cấp đầy đủ  các kiến  thức về PNC để bảo vệ  bản thân đồng thời chăm sóc, điều trị  cho NB tốt  hơn [23], nghiên cứu của  Koenig S  và  Chu J  năm 1993 chỉ  ra rằng nhiều  sinh viên trước khi tốt nghiệp vẫn chưa có đầy đủ kiến thức về PNC [24]. Nghiên cứu của Verena G. Herbert và cộng sự tiến hành giữa các sinh  viên đa khoa tại Australia cho thấy chỉ có 49% số sinh viên được phỏng vấn   tuân thủ rửa tay, 70% số người được hỏi có kiến thức đúng về rửa tay [25].  Nghiên cứu cũng chỉ  ra rằng việc nâng cao nhận thức về  rửa tay của sinh   viên trong giáo dục đại học có thể  tác động tới hành vi của sinh viên ra   trường và làm giảm NKBV.  1.4. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PNC 1.4.1. Các đặc điểm của đối tượng. 1.4.1.1. Số năm học, số năm đào tạo Thời gian học là các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ  về  PNC. Các sinh viên năm cuối thường có nhận thức tốt hơn về  PNC, bên  cạnh đó do có thời gian học lâm sàng nhiều hơn, các sinh viên có thể được   chứng kiến các trường hợp bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhiều hơn do   đó có sự  cảnh giác cao hơn. Nghiên cứu của Huson Amin Ghalya và Prof.  Youssreya Ibrahim chỉ ra rằng có sự liên quan giữa số năm được đào tạo và  kiến thức về  PNC, các sinh viên năm cuối có kiến thức tốt hơn về  PNC   [15], [26], [27]. 1.4.1.2 Ngành học Có sự  liên quan giữa ngành học tới việc tuân thủ  thực hiện PNC.   Nghành học thường xuyên tiếp xúc với máu và dịch tiết của NB, có kiến 
  17. 17 thức và thái độ  tốt hơn về  PNC so với các nghành khác. Theo nghiên cứu   của tác giả  Rajinder Kaur và cộng sự  (2007) điểm các phần kiến thức và  thái độ  của sinh viên điều dưỡng là cao hơn so với các ngành kĩ thuật y  học, bác sỹ đa khoa [28]. Nghiên cứu của Kim và cộng sự năm 2000 chỉ ra   rằng kiến thức của sinh viên điều dưỡng cao hơn sinh viên đa khoa [29].   Sinh viên điều dưỡng là đối tượng tiếp xúc với bệnh nhân nhiều hơn do   thực hiện các công việc như  các điều dưỡng thực hiện, hơn nữa trong  chương trình đào tạo sinh viên điều dưỡng được giảng dạy về  PNC trong   một môn học riêng, được cung cấp các kiến thức về bảo vệ cá nhân trước   khi học lâm sàng. Các sinh viên được đào tạo về PNC có kiến thức và thực   hành tốt hơn sinh viên không được nhận đào tạo [29]. Hệ BSĐK được đào tạo 6 năm, trong thời gian học tại bệnh viên sinh  viên học các kĩ năng thăm khám, hỏi bệnh; ngoài ra còn phụ giúp các bác sỹ  thực hiên các thủ thuật trên NB. Tại bệnh viện, sinh viên điều dưỡng học  các kĩ năng thăm khám và hỏi bệnh, ngoài ra còn thực hành các thủ  thuật  chăm sóc như: tiêm truyền, lấy máu xét nghiệm, phụ giúp NVYT trong vận  chuyển người bệnh, phân loại rác thải, vệ sinh khoa phòng. Thời gian đào tạo của sinh viên CNĐD là 4 năm, đối với hệ BSĐK là  6 năm, sinh viên BSĐK có thời gian tiếp xúc lâm sàng muộn hơn so với đối  tượng CNĐD. Thời gian tiếp xúc lâm sàng của sinh viên đa khoa là từ đầu  năm thứ 3. Đối với sinh viên CNĐD là từ kì 2 năm thứ  2. Ngoài ra có một   số  sinh viên đã đi trực và tự  học lâm sàng ngày từ  năm thứ  nhất với các   công việc như  những điều dưỡng, khi mà sinh viên chưa được cung cấp  bất kì kiến thức nào liên quan đến lâm sàng, chủ yếu là các môn cơ sở.
  18. 18 1.4.2. Nội dung KSNK trong chương trình đào tạo Nghiên cứu của Ginny Kaushal cho thấy, NVYT được đào tạo về  PNC có kiến thức, thái độ  và thực hành tốt hơn nhóm chưa được đào tạo  về  PNC. Cụ  thể, kiến thức của nhóm được đào tạo về  PNC là cao hơn   nhóm không được đào tạo về PNC với tỷ lệ lần lượt là 85% và 75%, nhóm  được đào tạo về PNC có tỷ lệ tuân thủ thực hành cao hơn so với nhóm còn   lại lần lượt là 95% và 86% [30]. Giáo dục về  PNC là một trong những yếu tố   ảnh hướng đến kiến   thức, thái  độ  và thực hành về  PNC của sinh viên, theo nghiên cứu của  Marie­Pierre Tavolacci, đánh giá kiến thức, thái độ  của sinh viên sau khi  giảng dạy về chương trình PNC tại Pháp[31] Việc đào tạo về  PNC cho sinh viên y tại trường Đại học Y Hà Nội  đã được tiến hành từ  năm 2014 do khoa Điều dưỡng phụ  trách. Chương  trình giảng dạy môn KSNK của khoa Điều dưỡng bắt đầu từ kì 2 năm thứ  2 dành cho đối tượng CNĐD trước khi học lâm sàng. Các nội dung về  KSNK bao hàm các nội dung của PNC. Trong quá trình học các sinh viên sẽ  được học kết hợp cả lí thuyết và thực hành trên phòng lab và tại bệnh viện   để sinh viên áp dụng được những kiến thức lí thuyết trên thực tế. Ngoài ra   trong quá trình giảng dạy, các giảng viên sẽ  cung cấp các câu hỏi tình  huống cho sinh viên trả  lời và thảo luận để  sinh viên ghi nhớ  và áp dụng   các kiến thức ngay trên những tình huống mô phỏng. Ngoài ra, một số kiến thức của PNC cũng được cung cấp cho tất cả  sinh viên trong các môn cơ sở như các nội dung về:  Vệ sinh bàn tay. 
  19. 19  Thực hiện tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc   nhọn, phòng ngừa cá nhân.  Về xử lí dụng cụ y tế. 
  20. 20 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn vào    Sinh viên thuộc các chương trình đào tạo của Trường Đại học Y   Hải Phòng, từ năm thứ 2 tới năm thứ 4. Trong đó, sinh viên CNĐD từ năm  thứ 2 tới năm thứ 4, sinh viên BSĐK từ năm thứ 3 tới năm thứ 5. 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ Các sinh viên đủ  các tiêu chuẩn trên nhưng không đồng ý tham gia   nghiên cứu. 2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu  tiến hành  tại trường  Đại  học Y  Hải Phòng  từ   tháng  9/2018 đến tháng 12 /2018. 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang 2.3.2. Chọn mẫu:  Theo phương pháp ngẫu nhiên: dựa trên số  lượng sinh  viên của các khối từ năm thứ 2 đến năm thứ 5 của hệ BSĐK và hệ CNĐD. 2.3.3. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản