intTypePromotion=3

Đề tài: Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp liên hệ với thực tế hoạt động định giá của công ty cổ phần chứng khoán FPT

Chia sẻ: Tăng Anh Thu | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:30

0
37
lượt xem
14
download

Đề tài: Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp liên hệ với thực tế hoạt động định giá của công ty cổ phần chứng khoán FPT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp liên hệ với thực tế hoạt động định giá của công ty cổ phần chứng khoán FPT trình bày các nội dung chính sau: Giá trị doanh nghiệp và nhu cầu xác định giá trị doanh nghiệp, thực trạng xác định giá trị tài sản tại công ty cổ phần chứng khoán FPT. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp liên hệ với thực tế hoạt động định giá của công ty cổ phần chứng khoán FPT

  1. LỜI NÓI ĐẦU            Trong những năm vừa qua nên kinh tế Việt Nam có những bước phát triển đáng  kể, tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao, nước ta cũng đã chính thức trở thành  thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Dẫn đến thị trường chứng khoán  bủng nổ, nhu cầu cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhu cầu mua bán, sát nhập,  nhu cầu định giá ngày càng tăng cao khiến nhu cầu định giá doanh nghiệp càng trở nên  cấp thiết.        Có rất nhiều phương pháp để xác định giá trị doanh nghiệp, nhưng việc lựa chon  được một phương pháp phù hợp lại là cả một vấn đề. Hiểu được điều đó nhóm 10  chúng em đã quyết định thảo luận đề tài: cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp liên  hệ với thực tế hoạt động định giá của công ty cổ phần chứng khoán FPTS”. Từ việc  đánh xem xét việc áp dụng phương pháp định giá tại FPTS chúng ta sẽ có cái nhìn tổng  quát hơn về việc định giá tại các doanh nghiệp”       Trong quá trình làm bài thảo luận do kiến thức còn hạn chế nên bài thảo luận của  nhóm khó tránh khỏi những sai sót.Vì vậy chúng rất mong thầy góp ý để bài thảo luận  của nhóm được hoàn thiện hơn.     Nhóm thảo luận xin chân thành cảm ơn ! 1
  2. Phụ lục Chương 1: Cơ sở lý thuyết 1.1. Giá trị doanh nghiệp và nhu cầu xác định giá trị doanh nghiệp 1.1.1. Giá trị doanh nghiệp        Doanh nghiệp là một tổ  chức kinh tế được sự  thừa nhận về  mặt pháp luật trên   một số  tiêu chuẩn nhất định. Pháp luật Việt Nam xác định: Doanh nghiệp là tổ  chức   kinh tế  có tên riêng, có tài sản, có trụ  sở giao dịch  ổn định, được đăng ký kinh doanh   theo quy định của pháp luật nhăm mục đích thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả  các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng   dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.          Về  mô hình tổ  chức, doanh nghiệp bao gồm các loại: công ty trách nhiệm hữu   hạn, công ty cổ  phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư  nhân, doanh nghiệp nhà  nước.       Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp là một loại tài sản, có các nét đặc trưng:       ­  Giống như các hành hóa thông thường khác, doanh nghiệp là đối tượng của các  giao dịch: mua bán, hợp nhất, chia nhỏ… Quá trình hình thành giá cả và giá trị đối với   loại hàng hóa đặc biệt này cũng chịu sự  chi phối của các quy luật giá trị, cung cầu,   cạnh tranh…      ­ Giống như bất động sản: Mỗi doanh nghiệp là một tài sản duy nhất. Mỗi doanh   nghiệp có quy mô và cơ cấu tài sản khác nhau, có vị trí và trụ sở kinh doanh riêng biệt   2
  3. và độc lập, có cơ cấu quản trị và sự  tác động của môi trường khác nhau. Không có 2  doanh nghiệp giống nhau hoàn toàn. Việc so sánh giá trị  của doanh nghiệp này với  doanh nghiệp khác có tính chất tham chiếu.      ­  Doanh nghiệp không đơn giản là tập hợp của những tài sản vô tri vô giác, giá trị  sử  dụng của chúng bị  giảm dần theo thời gian. Doanh nghiệp là tổ  chức kinh tế, là   một thực thể hoạt động, có thể hoàn chỉnh và phát triển trong tương lai. Sự phát triển  của doanh nghiệp tùy thuộc vào các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường. Vì   vậy, đánh giá về doanh nghiệp nói chung và giá trị doanh nghiệp nói riêng đòi hỏi phải  xem xét tất các mối quan hệ bên trong và bên ngoài – đánh giá doanh nghiệp về mặt tổ  chức.      ­ Nhà đầu tư  sở  hữu doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận. Các tài sản cố  định, tài  sản lưu động, bộ  máy kinh doanh là các thức, là phương tiện để  đạt mục tiêu lợi   nhuận. Tiêu chuẩn để nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động, quyết định bỏ vốn và   đánh giá giá trị doanh nghiệp là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại  cho nhà đầu tư trong tương lai. Và vì vậy: Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà  doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Các phương pháp  định giá doanh nghiệp phải được xây dựng dựa trên cơ sở:         +  Đánh giá giá trị các tài sản hữu hình và yếu tố tổ chức – các mối quan hệ         +  Đánh giác các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu tư. 1.1.2. Nhu cầu xác định gía trị doanh nghiệp       Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá và xác định giá trị đối với loại hàng   hóa này là một đòi hỏi hoàn toàn tự  nhiên. Trong điều hành kinh tế  vĩ mô cũng như  trong hoạt động quản trị  kinh doanh luôn cần thiết thông tin về  giá trị  doanh nghiệp.  Giá trị  doanh nghiệp là mối quan tâm của các pháp nhân và thể  nhân có lợi ích liên   3
  4. quan, gắn bó trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp được xuất phát chủ yếu từ các yêu cầu  quản lý và các giao dịch:        + Định giá doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu của hoạt động mua bán, sáp nhập,   hợp nhất hoặc chia nhỏ  doanh nghiệp.  Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất   thường xuyên và phổ  biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về  đàu tư  trực   tiếp vào sản xuất kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho sự tăng trưởng và phát triển bằng các  yếu tố  bên ngoài, nhằm tăng cường khả  năng tồn tại trong môi trường tự  do cạnh  tranh. Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên phạm vi rộng lớn  các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó giá trị  doanh nghiệp là một yếu tố  có   tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người ta thương thuyết với nhau trong tiến   trình giao dịch mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia nhỏ doanh nghiệp.         + Giá trị doanh nghiệp là loại thông tin quan trọng để các nhà quản trị phân tích,   đánh giá trước khi ra các quyết định về kinh doanh và tài chính có liên quan đến doanh   nghiệp được đánh giá. Nội dung cơ  bản của quản trị  tài chính doanh nghiệp, xét cho   cùng là phải tăng được giá trị doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp là sự phản ánh năng  lực tổng hợp, khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, căn cứ vào đây  các nhà quản trị  kinh doanh có thể thấy dược khả  năng cạnh tranh của doanh nghiệp  mình và các doanh nghiệp khác. Do vậy giá trị doanh nghiệp làm một căn cứ thích hợp,   cơ sở để đưa ra cac quyết định về kinh doanh, tài chính… một cách đúng đắn.       + Trong cách nhìn của các nhà đầu tư, người cung cấp, thông tinh về giá trị doanh   nghiệp cho người ta một sự đánh giá tổng quát về uy tín kinh doanh, khả năng tài chính  và vị  thế  tín dụng để  từ  đó có cơ  sở  đươa ra các quyết định về  đầu tư, tài trợ  hoặc   tiếp tục cấp tín dụng cho doanh nghiệp.       + Giá trị doanh nghiệp là loại thông tin quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô: Giá   cả các loại chứng khoán được quyết định bởi giá trị  thực của doanh nghiệp có chứng  khoán được trao đổi mua bán trên thị  trường. Vì vậy trên phương diện quản lý vĩ mô,  4
  5. thông tin về giá trị doanh nghiệp là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính   sách, các tổ  chức, các hiệp hội kinh doanh chứng khoán đánh giá tính  ổn định của thị  trường, nhận dạng hiện tượng đàu cơ, thao túng thị trường, thâu tóm quyền kiểm soát  doanh nghiệp… để  từ  đó có thể  đưa ra các chính sách điều tiết phù hợp. Ngoài ra,  trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định giá trị doanh nghiệp còn là   một bước đi quan trọng để cải cách các doanh nghiệp nhà nước như: cổ phần hóa, sáp   nhấp, hợp nhất hay giao, bán và cho thuê. Có thể nói, các hoạt động quản lý và những giao dịch kinh tế thông thường trong cơ  chế  thị  trường đã đặt ra những yêu cầu cần thiết phải xác định giá trị  doanh nghiệp.   Đó có thể  là những yêu cầu có tính chất tình huống, cũng có thể  là đòi hỏi thường   nhật trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chúng là mối quan tâm của 3 loại chủ thể:   Nhà nước, nhà đầu tư  và nhà quản trị  doanh nghiệp. Vì vậy định giá doanh nghiệp là   một đòi hỏi tất yêu đối với các quốc gia muốn xây dựng và phát triển kinh tế theo cơ  chế thị trường. 1.2. Các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp 1.2.1. Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh (MTKD) là yếu tố ảnh hưởng có tính khách quan về cơ bản  vượt khỏi tầm kiểm soát của doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển được, cũng giống  như trong khoa học tự nhiên, doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với môi trường.  Môi trường kinh doanh được chia làm 2 loại: Môi trường kinh doanh tổng quát: gồm có môi trường kinh tế, môi trường  chính trị, môi trường văn hóa – xã hội và môi trường kỹ thuật. * Môi trường kinh tế      Doanh nghiệp bao giờ cũng tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể. Bối cảnh  kinh tế đó được nhìn nhận thông qua hàng loạt chỉ tiêu vĩ mô như: tốc độ tăng trường,  chỉ số giá cả, tỷ giá ngoại tệ, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thị trường chứng khoán…  Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất như yếu tốc khách quan nhưng ảnh hưởng  của chúng tới GTDN lại là sự tác động trực tiếp. 5
  6.     Mỗi sự thay đổi nhỏ của yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá về  doanh nghiệp: nền kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ cao, phản ánh nhu cầu đầu tư  và tiêu dùng ngày càng lớn. Chỉ số giá chứng khoán phản ảnh đúng quan hệ cũng cầu,  đồng tiên ổn định, tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đầu tư sẽ trở thành cơ hội tốt  cho doanh nghiệp mở rộng quy mô SXKD. Ngược lại, sự suy thoái kinh tế, giá chứng  khoán ảo, lạm phát phi mã… là biểu hiện môi trường tồn tại của doanh nghiệp đang  bị lung lay tận gốc. Mọi sư đánh giá về doanh nghiệp, trong đó có GTDN sẽ bị đảo  lộn hoàn toàn. * Môi trường chính trị       Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong môi trường có sự ổn  định về chính trị ở mức độ nhất định. Chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, mafia và những  yếu tố trật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng tác động xấu tới mọi mặt đời sống xã  hội chứ không riêng gì Sản xuất kinh doanh. Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực tiếp đến  SXKD bao gồm: ­ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng  và chi tiết của hệ thống luật pháp. ­ Quan điểm tư tưởng của Nhà nước đối với SXKD thông qua hệ thống các văn  bản pháp quy như: Quan điểm về sản xuất, đầu tư, tiêu dung… thể hiện trong  luật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ… ­ Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của công dân  và các tổ chức. Pháp luật đã ban hành nhưng không hiện thực, tệ nạn buôn  lậu, trốn thuế, hàng giả… là biểu hiện một môi trường chính trị gây bất lợi  cho sản xuất. Có thể thấy rằng, cũng như môi trường kinh tế, môi trường chính trị có vai trò như  những điều kiện thiết yếu, tối thiểu để doanh nghiệp có thể hoạt động, và do vậy,  đánh giá về doanh nghiệp bao giờ cũng phải nhìn nhận trước hết từ các yếu tố này. * Môi trường văn hóa – xã hội. ­ Môi trường văn hóa được đặc trưng bởi những quan niệm, hệ tư tưởng của  cộng đồng về lối sống, đạo đức…; quan niệm về “chân, thiện, mỹ”, về nhân  cách, văn minh xã hội; được thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng. 6
  7. ­ Môi tường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi,  mật độ, sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các  vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…      Sản xuất kinh doanh có mục tiêu xuyên suốt là lợi nhuận cũng không thể tách rời  môi trường văn hóa –xã hội. Trên phương diện xã hội, doanh nghiệp ra đời là để đáp  ứng những đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng.  Vì thế đánh giá về doanh nghiệp không thể bỏ qua những yếu tố, đòi hỏi của môi  trường văn hóa – xã hội trong hiện tại mà còn phải dự báo được sự ảnh hưởng của  yếu tố này đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai. * Môi trường khoa học – công nghệ    Sự tác động của khoa học công nghệ đang làm thay đổi căn bản các điều kiện về  quy trình và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp. Sản  phẩm sản xuất ra ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao  trong đời sống vật chất và tinh thần. Hàm lượng tri thức có khuynh hướng chiếm ưu  thế tuyệt đối trong giá bán sản phẩm. Trên bình diện xã hội, đó là những bước tiến nhảy vọt của nền văn minh nhân loại.  Song ở góc độ doanh nghiệp, đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức với sự tồn  tại của mỗi doanh nghiệp. Sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm lĩnh những thành tựu  khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân được doanh nghiệp mau chóng đến chỗ phá  sản. Chính vì vậy khi đánh giá về doanh nghiệp, cần phải chỉ ra mức độ tác động của  môi tường này đến sản xuất kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp tước  những bước phát triên mới của khoa học công nghệ. Môi trường đặc thù:      So với môi trường tổng quát, môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố tác động đến  doanh nghiệp mang tính trực tiếp và rõ ràng hơn. Hơn nữa với các yếu tố này, doanh  nghiệp còn có thể kiểm soát chúng ở một mức độ nhất định. Thuộc môi trường đặc thù  có yếu tố về khách hàng, nhà cung cấp, hãng cạnh tranh và các cơ quan nhà nước. * Quan hệ doanh nghiệp – khách hàng: Thị trường là yếu tố quyết định đến đầu ra của sản phẩm của doanh nghiệp. Khác  hàng của doanh nghiệp có thể là các cá nhân, doanh nghiệp khác hoặc Nhà nước. Họ  có thể là khách hàng hiện tại hoặc khách hàng trong tương lai. 7
  8. Thông thường khác hàng sẽ chi phối hoạt động của doanh nghiệp, nhưng cũng có  những trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp của doanh  nghiệp. Do vậy muốn đánh giá đúng khả năng phát triển, mở rộng SXKD của doanh  nghiệp, cần xác định tính chất, mức độ bền vững và uy tín của doanh nghiệp trong  quan hệ với khác hàng. Uy tín tốt của doanh nghiệp với khác hàng có được không  phải một sớm một chiều, do nhiều yếu tố hinh thành. Để đánh giá chúng người ta  thường kể đến: Sự trung thành và thái độ của khách hàng, số lượng và chất lượng  khách hàng, tiếng tăm và các mối quan hệ tốt, khả năng phát triển các mối quan hệ  đó. Tuy nhiên, căn cứ thuyết phục nhất cho sự đánh giá là thị phần hiện tại và tương  lai, doanh số bán ra và tốc đọ phát triển các chỉ tiêu đó qua các thời kỳ kinh doanh  khác nhau của doanh nghiệp. * Quan hệ doanh nghiệp – nhà cung cấp: Doanh nghiệp thường phải trông đợi sự cung cấp từ phía bên ngoài các loại hàng hóa,  nguyên vật liệu, dịch vụ điện, nước, thông tin, tư vấn… Tính ổn định của nguồn cung  cấp có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ được thực hiện theo yêu  cầu mà doanh nghiệp định ra. Trong quan hệ với nhà cung cấp, doanh nghiệp đóng vai trò “thượng đế”. Tuy nhiên  có thể do tính chất khan hiếm vật tư đầu vào, số lượng nhà cung cấp không đủ lớn  hay sự cấu kết giữ họ với nhau, do mua với s ố lượng nh ỏ… trong nhi ều tr ường h ợp  doanh nghiệp cũng có thể bị sai khiến. Từ đó, đánh giá khả năng đáp ứng các yếu tố  đầu vào đảm bảo cho SXKD có thể ổn định phải xem xét đến: sự phong phú của  nguồn cung cấp, số lượng, chủng loại nguyên liệu có thể thay thế cho nhau, khả  năng đáp ứng lâu dài của doanh nghiệp rồi mới kể đến tính kịp thời, chất lượng và  giá cả sản phẩm. * Các hãng cạnh tranh      Được sự ủng hộ của Nhà nước trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, mức độ cạnh  tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước ngày càng trở nên  quyết liệt hơn. Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh được coi là mối nguy cơ  trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Do đó, đánh giá năng lực cạnh tranh, ngoài  việc xem xét trên 3 tiêu chuẩn: Giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ hậu mãi còn  phải xác định được số lượng doanh nghiệp cạnh tranh, năng lực thực tế và thế mạnh  của họ. Đồng thời phải chỉ ra những yếu tố và mầm mống có thể làm xuất hiện các  8
  9. đối thủ mới, như vậy mới có thể kết luận đúng đắn về vị thế và khả năng cạnh tranh  của doanh nghiệp trên thị trường. * Các cơ quan Nhà nước Trong cơ chế thị trường, về cơ bản doanh nghiệp được quyền chủ động hoàn toàn đối  với SXKD. Tuy nhiên, sự hoạt động của doanh nghiệp luôn phải được đặt dưới sự  kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước như: Thuế, thanh tra, công đoàn… Các tổ  chức này có bổn phận kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho sự hoạt động của doanh  nghiệp không vượt ra khỏi những quy ước xã hội thể hiện trong các luật. Doanh nghiệp có quan hệ tốt với các tổ chức Nhà nước thường là những doanh nghiệp  thực hiện tốt nghĩa vụ của mình với xã hội: nộp thuế đầy đủ, chấp hành đúng luật lao  động, quan tâm đến vấn đề môi trường… Đó cũng thường là biểu hiện của những  doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh, lợi nhuận thu được không phải bằng  các con đường trái phép… Vì vậy, xác định sự tác động của yếu tố môi trường đặc thù  đến SXKD của doanh nghiệp còn cần phải xem xét chất lượng và thực trạng mối  quan hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước trong những khoảng thời gian  nhất định. 1.2.2. Các yếu tố nội tại doanh nghiệp: Khi xác định giá trị doanh nghiệp, bao giờ người ta cũng quan tâm ngày đến hiện trạng  tài sản của doanh nghiệp vì 2 lý do chủ yếu: ­ Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện yếu tố vật chất cần thiết, tối  thiểu đối với quá trính sản xuất kinh doanh. Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ  thuật và tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng  và chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Tức là khả năng cạnh  tranh và thu lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc một cách trực tiếp và có  tính chất quyết định vào các yếu tố này. ­ Giá trị các tài sản của doanh nghiệp là một căn cứ đảm bảo rõ ràng nhất về  giá trị doanh nghiệp, vì thay cho việc dự báo các khoản thu nhập tiềm năng,  người sở hữu có thể bán chúng bất cứ lúc nào để nhận về một khoản thu  nhập từ những tài sản đó. Từ 2 lý do này mà thực tế, khi vận dụng các phương pháp người ta thường đánh giá  cao những phương pháp có liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tài sản doanh  nghiệp. 9
  10. Vị trí kinh doanh:      Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh. Vị trí kinh  doanh được đặc trưng bởi các yếu tố như địa điểm, diện tích của doanh nghiệp và các  chi nhánh, yếu tố địa hình, thời tiết…     Một doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, được đặt gần các  đô thị, nơi đông dân cư, trung tâm buôn bán lớn và đầu mối giao thông quan trọng có  thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp. Với vị trí thuận lợi, doanh nghiệp có  thể giảm được nhiều khoản mục chi phí chủ yếu như: vận chuyển, bảo quản, lưu  kho, giao dịch… đồng thời goanh nghiệp sẽ có những thuận lợi lớn để tiếp cận và  nắm bắt nhanh chống nhu cầu, thị hiếu của thị tường, thực hi ện t ốt các dịch vụ hậu  mãi. Tuy nhiên với vị trí đó, cũng có thể kéo theo sự gia tăng của những khoản chi phí  như thuê văn phòng giao dịch, lao động, các yêu cầu khắt khe hơn của Nhà nước như  xử lý ô nhiễm…     Những thuận lợi và bất lợi cơ bản của yếu tố vị trí đối với sản xuất kinh doanh là  lý do chủ yếu giải thích sự chênh lệch về giá cả đất đai, giá thuê nhà giữa các khu  vực với nhau. Và cũng chính vì thế, khi nói về yếu tố lợi thế thương mại người ta  thường trước hết đề cập đến yếu tố vị trí. Trong thực tế, do sự khác nhau về vị trí  kinh doanh mà có sự chênh lệch rất lớn khi đánh giá về giá trị doanh nghiệp. Vì vậy,  vị trí kinh doanh cần được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu khi  đưa ra phân tích, đánh giá giá trị doanh nghiệp. Uy tín kinh doanh: Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp,  nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau bên trong doanh nghiệp như:  chất lượng sản phẩm, trình độ và năng lực quản trị kinh doanh, thái độ phục vụ của  nhân viên… Có thể thấy rằng, khi sản phẩm của doanh nghiệp đã được đánh giá cao trong con mắt  của khách hàng, thì uy tín trở thành một tài sản thực sự, có giá trị và được gọi là giá trị  thương hiệu. Trong nền kinh tế thị trường, người ta có thể mua bán thương hiệu và  nhiều khi thương hiệu được đánh giá rất cao. Chính vì thế, uy tín của doanh nghiệp  được đông đảo các nhà kinh tế thừa nhận là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên  giá trị doanh nghiệp. 10
  11. Trình độ kỹ thuật và tay nghề lao động: Chất lượng sản phẩm doanh nghiệp một mặt phụ thuộc vào trình độ công nghệ của  máy móc thiết bị, mặt khác phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tay nghề người lao  động. Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động không chỉ có ý nghĩa quan trọng  đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn có thể làm giảm chi phí do việc  sử dụng hợp lý nguyên nhiên vật liệu… trong quá trình sản xuất, giảm chi phí đào tạo  – bồi dưỡng, từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp. Đánh giá về trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao đọng không chỉ xem ở bằng  cấp, bậc thợ và số lượng lao động đáp ứng tiêu chuẩn mà quan trọng hơn là hàm lượng  tri thức trong mỗi sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Như vậy, khi  đánh giá khả năng tồn tại và phát triển, tạo ra lợi nhuận, cần xem xét trình độ kỹ thuật  và tay nghề người lao động, coi chúng như một yếu tố nội tại quyết định giá trị doanh  nghiệp. Năng lực quản trị kinh doanh: Trong điều kiện ngày nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải  có một bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh đủ mạnh để có khả năng sử dụng tốt  nhất các nguồn lực, tận dụng mọi tiềm năng và cơ hội nảy sinh, ứng phó linh hoạt với  những biến động của môi trường. Vì lý do đó, năng lực quản trị kinh doanh luôn được  nhắc tới như một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động tới giá trị doanh nghiệp.      Quản trị kinh doanh là một khái niệm rộng, được đánh giá theo các nội dung cơ bản  của hoạt động quản trị như: khả năng hoạch định chiến lược – chiến thuật, trình độ  tổ chức bộ máy quản lý, năng lực quản trị yếu tố đầu vào và đầu ra, quản trị nguồn  nhân lực… Năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố định tính hơn là định lượng, vì vậy khi  đánh giá cần xem xét chúng dưới sự tác động của môi trường. Ngoài ra, năng lực quản  trị kinh doanh tổng hợp còn được thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính.  Do đó thực hiện phân tích tình hình tài chính những năm gần đây cũng có thể cho phép  rút ra những kết luận về năng lực quản trị và tác động đến giá trị doanh nghiệp. 11
  12. 1.3 Các phương pháp chủ yếu xác định giá trị doanh nghiệp 1.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần Phương pháp giá trị tài sản thuần còn gọi là phương pháp giá trị nội tại hay mô hình  định giá tài sản. được xây dựng dựa trên các nhận đinh: ­ Doanh nghiệp vê cơ bản giống như một loại hàng hòa thông thường. ­ Sự  hoạt động của doanh nghiệp bao giờ  cũng được tiến hành trên cơ  sở  một  lượng tài sản có thực. Những tài sàn đó là sự hiện diện rõ ràng và cụ thể về sự  tồn tại của doanh nghiệp, chúng cấu thành thực thể của doanh nghiệp. ­ Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà đâu tư  ngay khi thành lập doanh nghiệp và còn có thể được bổ sung trong quá trình  phát triên sản xuất kinh doanh. Cơ cấu nguồn tài trợ để hình thành tài sàn là sự  khẳng định và thửa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các  nhà đầu tư đối với số tài sản đó.      Chính vì vậy giá trị của doanh nghiệp được tính bằng tổng giá thị trường số tài sản  mà doanh nghiệp hiện đang sử dựng vào sản xuất kinh doanh. Phương pháp xác định    Tổng giá trị tài sản trong doanh nghiệp thường không chỉ thuộc về người chủ sở hữu  của doanh nghiệp mà chúng còn được hình thành trên các trái quyền khác như: các trái  chủ  cho doanh nghiệp vay vốn. tiên lương chưa đến kỳ hạn trả. Thuế chưa đến kỳ  hạn nộp. các khoản ứng trước của khách hàng, các khoản bán chịu của nhà cung câp.  các tài sản đi thuê... Do vậy. mặc dù giá trị doanh nghiệp được  coi là tổng giá trị các tài  sàn cấu thành doanh nghiệp, nhưng để thực hiên một giao dịch mua bán doanh nghiệp,  người ta phải xác định giá trị  tài sản thuần­ thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp. Theo đó  công thức tổng quát được xây dựng như sau:    Công thức tổng quát: VO = VT – VN Trong đó: 12
  13. VO : giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp VT : tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào quá trình sản xuất  kinh doanh VN : giá trị các khoản nợ Từ công thức trên ta suy ra hai cách tính cụ thể về giá trị tài sản thuần như sau:  Cách tính thứ nhất Dựa vào số liệu về tài sản và cơ cấu nguồn vốn phản ánh trên bảng cân đối kế  toán tại thời điểm đánh giá để xác định giá trị doanh nghiệp: lấy tổng giá trị tài  sản phản ánh ở phần tài sản trừ đi các khoản nợ phải trả bên nguồn vốn. Cách tính này có ưu điểm đó là: ­ Cách tính đơn giản, dễ dàng, là căn cứ để các nhà tài trợ đánh giá khả năng an  toàn của đồng vốn đầu tư, vị thế tín dụng của doanh nghiệp. ­ Chứng minh được rằng: đầu tư vào DN luôn được bảo đảm bằng giá trị của  các tài sản hiện có trong doanh nghiệp. Tuy nhiên nó có một số nhược điểm: ­ Số liệu và thông tin trong bảng cân đối kế toán mang tính lịch sử, không còn phù  hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không có lạm phát. ­ Giá trị còn lại của tài sản cố định; giá trị của hàng hóa, vật tư,...tồn kho trong sổ  kế toán thường không phù hợp với giá thị trường hoặc không đủ độ tin cậy tại  thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp  Cách tính thứ hai: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường            Ngay cả khi doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kế toán do Nhà nước quy  địnhthì số liệu trên bảng cân đối kế toánđược lập vào một thời điểm nào đó cũng  không phản ánh đúng giá trị thị trường của toàn bộ số tài sản  trong doanh nghiệp. Vì  vậy xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết cần loại ra khỏi danh mục  đánh giá những tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của  sản xuất kinh doanh. Sau đó tiến hành đánh giá số tài sản còn lại theo giá thị trường để  tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể. + Tài sản cố định và tài sản lưu động + Tài sản bằng tiền (ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý,...) + Các khoản phải thu + Các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp + Các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản. + Các tài sản vô hình 13
  14.     Sau cùng, giá trị tài sản thuần được tính bằng cách lấy tổng giá trị của các tài sản đã  được xác định trừ đi các khoản nợ phản ánh ở bên nguồn vốn của bảng cân đối kế  toán và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của số tài sản được đánh giá lại tại  thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp. 1.3.2 Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính trong tương lai        Cơ sở lý thuyết của phương pháp này đều xuất phát trực tiếp từ quan niệm: Giá  trị của một DN được đo bằng độ lớn của khoản thu nhập mà DN có thể đem lại cho  nhà đầu tư trong tương lai. Song trên quan niệm về thời gian của tiền tệ, về chi phí cơ  hội, tức là: giá trị của một đồng tiền ở các thời điểm khác nhau sẽ không giống nhau,  cho nên người ta thực hiện quy đổi các khoản thu nhập về cùng một thời điểm, đó là  thời điểm hiện tại. Theo đó, giá trị của một doanh nghiệp được xác định dựa trên công  thức tổng quát sau: Trong đó: V 0  : giá trị doanh nghiệp F t  : thu nhập đem lại cho nhà đầu tư ở năm t i: tỷ suất hiện tại hóa (tỷ suất chiết khấu) n: thời gian nhận được thu nhập (năm)        Có thể diễn tả công thức trên như sau:  Người mua sẵn sàng trả V0 để có doanh  nghiệp nếu như doanh nghiệp tạo ra được các khoản thu Ft trong n năm, hoặc tạo ra  được một tỷ suất lợi nhuận tối thiểu là i. 1.3.3 Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại) Cơ sở lý luận        Giá trị của một doanh nghiệp bao gồm giá trị của tài sản hữu hình và giá trị của tài  sản vô hình.       Giá trị tài sản tính theo sổ sách kế toán không thể hiện được đầy đủ giá trị của  doanh nghiệp do phải tính thêm phần giá trị của những tài sản vô hình của doanh  nghiệp (thường không được thể hiện trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp).  Phần giá trị đó được gọi là lợi thế thương mại. 14
  15.       Lợi thế thương mại là mức chênh lệch giữa lợi nhuận doanh nghiệp thu được với  một mức lợi nhuận thông thường trên cùng lượng tài sản đưa vào sử dụng hay đó là  lợi nhuận siêu ngạch do tài sản vô hình của doanh nghiệp tạo ra Phương pháp xác định         Các phương pháp xác định lợi thế thương mại có điểm chung là tính giá trị doanh  nghiệp dựa trên giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp cộng với một khoản siêu lợi  nhuận được vốn hóa về hiện tại với một lãi suất chiết khấu nhất định. Giá trị DN = Giá trị các tài sản hữu hình + Giá trị các tài sản vô hình V0 = ANC + GW trong đó:  V0 : giá trị doanh nghiệp ANC : giá trị tài sản thuần GW : giá trị tài sản vô hình (còn gọi là lợi thế thương mại) trong đó: : lợi nhuân năm t : giá trị tài sản đưa vào kinh doanh r : tỷ suất lợi nhuận bình thường của tài sản đưa vào kinh doanh r.At   : lợi nhuận bình thường của tài sản năm t B. ­ r.A. : siêu lợi nhuân năm t ­  :  siêu lợi nhuận năm t Áp dụng trong thực tế       Chọn tỷ suất sinh lời bình thường r bằng tỷ suất lợi nhuận trung bình của các  doanh nghiệp cùng ngành kinh doanh, hoặc bằng nghịch đảo của tỷ số PER của các  doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán có điều kiện sản xuất kinh doanh  tương tự.      Giá trị của tài sản At có thể đánh giá lại theo giá thị trường như phương pháp giá trị  tài sản thuần.      Tỷ suất hiện tại hóa i được xác định dựa trên lãi suất trái phiếu của chính phủ + tỷ  lệ % rủi ro. Phương pháp này có một số han chế đó là: ­ Trong cơ chế thị trường, khó có một doanh nghiệp nào có thể duy trì lợi thế  thương mại một cách lâu dài. ­ Phương pháp GW kết hợp giữa hai phương pháp giá trị tài sản thuần và hiện tại  hóa lợi nhuận thuần, vì vậy không tránh khỏi những hạn chế của hai phương  pháp này. ­ GW có biên độ dao động rất lớn trước những thay đổi nhỏ của r => dễ dẫn đến  những kết luận sai lầm vê giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp. 15
  16. ­ Phương pháp GW không cung cấp những cơ sở dữ liệu cần thiết để các nhà  đầu tư đánh giá triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai Ưu điểm ­ Phương pháp duy nhất cho đến nay xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp. ­ Bù trừ các sai sót có thể xảy ra khi đánh giá lại giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp  vì nếu giá trị của các tài sản được đánh giá thấp thì sẽ được bù đắp bằng phần tăng  thêm giá trị của GW. ­ Giúp phân tích tác động của yếu tố rủi ro trong kinh doanh đến giá trị doanh nghiệp. Phương pháp GW tính đến cả lợi ích của người mua và người bán: người mua doanh  nghiệp nhằm thu được khoản lợi nhuận cao hơn mức sinh lời bình thường của một tài  sản, chứ không phải mua những tài sản hiện hành.  Phương pháp GW chỉ ra quan niệm về mức sinh lời tôi thiêu của một đồng vôn đưa  vào đầu tư đây là cơ sở quan trọng đê ra quyết định đầu tư vào sản xuất kinh doanh. 1.3.4 Phương pháp định giá dựa trên tỷ số PER (Price Earning Ratio) Cơ sở lý luận ­  Giá cả chứng khoán chịu tác động của nhiều yếu tố: cung ­ cầu về chứng khoán,  yếu tố đầu cơ,... giá cả chứng khoán không phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp. ­ Nếu TTCK hoàn hảo, nghĩa là thỏa mãn 5 điều kiện : +Có vô số người mua và người bán. +Các loại chứng khoán thay thế được cho nhau. +Chứng khoán và thông tin được tự do lưu thông. + Mọi thành viên tham gia TTCK đều nắm được các điều kiện giao dịch mua và bán. Khi đó giá cả chứng khoán có thể được sử dụng để ước lượng giá trị doanh nghiệp vì  chỉ phản ánh cung ­ cầu thuần túy. ­Giá cả chứng khoán trên thị trường hoàn hảo là sự đánh giá của thị trường về khả  năng sinh lời của doanh nghiệp: nhà đầu tư bỏ tiền mua cổ phiếu để đánh đổi lấy các  khoản lợi tức cổ phần trong tương lai (ở đây một cổ phiếu xem như tương đương với  một cổ phần).  Khi đó giá trị thực của một cổ phiếu Vn : giá trị bán lại cổ phiếu vào năm thứ n D1, D 2 , . . D n  : lợi tức cổ phần dự kiến năm thứ 1, năm thứ 2,.., năm thứ n Nếu D1 = D2 =.. .= Dn thì:  Cho n : 16
  17. Tỷ số   được gọi là tỷ số giá lợi  nhuận (PER), bằng nghịch đảo của tỷ suất hiện tại  hóa (i)  PER=  PER phản ánh mối quan hệ giữa giá giao dịch cổ phiếu trên thị trường với số lợi  nhuận mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư. ­ PER sẽ tăng cao khi triển vọng gia tăng lợi nhuận hàng năm của công ty càng cao và  mức độ rủi ro đối với lợi nhuận càng thấp. ­Khi PER của công ty này có giá trị cao hơn so với công ty khác, chứng tỏ công ty đó  được thị trường đánh giá là có triển vọng gia tăng lợi nhuận cao hơn. Phương pháp xác định Giá trị DN = Lợi nhuận thuần dự kiến x PER       Trong đó tỷ số PER của những công ty lớn được niêm yết thường xuyên trên thị  trường chứng khoán, kể cả PER trung bình của các doanh nghiệp cùng ngành có chứng  khoán được giao dịch trên thị trường này đều phải sử dụng PER của thời kỳ trước để  tính giá trị doanh nghiệp ở thời điểm hiện hành   Phương pháp này có ưu điểm  Được sử dụng khá phổ biến tại các nước đã xây dựng và phát triển được thị trường  chứng khoán do phương pháp này cho phép ước lượng nhanh chóng giá trị của doanh  nghiệp, giúp nhà đầu tư tối thiểu ra quyết định kịp thời trong hoạt động giao dịch.Bản  chất của phương pháp PER là sử dụng giá trị thị trường, có nghĩa là dùng phương pháp  so sánh trực tiếp để ước lượng giá trị doanh nghiệp. Nếu thị trường chứng khoán hoạt  động ổn định, các yếu tố đầu cơ giảm thiểu ở mức thấp nhất thì phương pháp này sẽ  trở nên rất thông dụng. Nhược điểm ­Mang nặng tính kinh nghiệm, không có cơ sở lý thuyết rõ ràng  ­Không giải thích được vì sao cũng là một đồng lợi nhuận nhưng thị trường sẵn sàng  trả cao/thấp hơn ở doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác. ­ Không đưa ra được những cơ sở để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá về khả năng  tăng trưởng và rủi ro tác động đến giá trị doanh nghiệp. 17
  18. 1.4. Quy trình đánh giá giá trị doanh nghiệp        Quy trình đánh giá này được xây dựng nhằm giúp các nhà phân tích có thể hình  dung được toàn bộ nội dung cần phải làm khi đánh giá giá trị của một doanh nghiệp.  Quy trình đánh giá có thể được miêu ta qua sơ đồ sau:                Theo sơ đồ trên, các bước đi và những nội dung công việc chủ yếu của từng  bước cụ thể: Bước 1: Đánh giá môi trường và năng lực nội tại của doanh nghiệp. ­ Mục tiêu đánh giá: Việc đánh giá các yếu tố môi trường và năng lực nội tại của  doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin để xây dựng các giả thuyết về dòng tiền và  đánh giá độ mạo hiểm khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp. ­ Yêu cầu đánh giá: Phải chỉ ra được những cơ hội thuận lợi và những nguy cơ đe dọa  từ môi trường kinh doanh. Đánh giá các điểm mạnh điều yếu của doanh nghiệp và các  khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước sự tác động của yếu tố môi trường. ­ Nội dung đánh giá: Đánh giá đủ 8 yếu tố môi trường: kinh tế, chính trị, văn hóa – xã  hội, kỹ thuật công nghệ, khách hàng, người cung cấp, các hãng cạnh tranh và mối  quan hệ với các cơ quan nhà nước. 18
  19. ­ Phương pháp đánh giá: Việc đánh giá được thực hiện qua 2 bước + Thu thập thông tin: việc thu thập được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau như  chính sách của nhà nước, các đơn vị khác,… + Lựa chọn phương pháp đánh giá: Phương pháp thường được dùng là phương pháp  xếp hạng cho điểm hay còn gọi là phương pháp chuyên gia. Bước 2: Xây dựng giả thiết về dòng tiền mong đợi và đánh giá độ mạo hiểm của đầu  tư. ­ Xem xét các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư và từ đó đưa ra các giả  thiết về sự phát sinh dòng tiền. ­ Mô hình hóa độ mạo hiểm và lựa chọn kỹ thuật xử lý rủi ro. Bước 3: Đánh giá giá trị doanh nghiệp Trên cơ sở yêu cầu của việc sử dụng thông tin đầu ra sau khi đánh giá doanh nghiệp  mà người ta sử dụng phương pháp đánh giá thích hợp để cho kết quả như mong muốn. 19
  20. Chương II: thực trạng xác định giá trị tài sản tại  công ty cổ phần chứng khoán FPT 2.1. Tổng quan về công ty cổ phần chứng khoán FPT 2.1.1 Lịch sủ hình thành phát triển của công ty        CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN FPT (tên viết tắt: FPTS) – thành viên  của Tập đoàn FPT ­ được cấp phép thành lập và hoạt động theo Giấy phép của Ủy ban  Chứng khoán Nhà nước cấp ngày 13/7/2007, với các nghiệp vụ kinh doanh: Môi giới  chứng khoán; Tự doanh chứng khoán; Tư vấn đầu tư chứng khoán; Lưu ký chứng  khoán và Bảo lãnh phát hành chứng khoán. Công ty có trụ sở đặt tại tầng 2, tòa nhà 71  Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội với vốn điều lệ là 200 tỷ đồng. Tầm nhìn FPTS mong muốn trở thành một định chế tài chính hùng mạnh, bằng nỗ lực xây dựng   đội ngũ cán bộ và năng lực công nghệ, mang lại những sản phẩm dịch vụ chất lượng   cao nhất cho khách hàng và cuộc sống đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần cho   mọi thành viên. Phương châm hoạt động Chú trọng đầu tư  nâng cao trình độ  cho đội ngũ cán bộ  nhân viên, đề  cao đạo đức  nghề nghiệp,nhằm đạt được tối đa sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản